Đề Xuất 12/2022 # Hệ Thống Chính Trị Cơ Sở Trong Hòa Giải Các Tranh Chấp Đất Đai Ở Thành Phố Hà Tĩnh / 2023 # Top 19 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Hệ Thống Chính Trị Cơ Sở Trong Hòa Giải Các Tranh Chấp Đất Đai Ở Thành Phố Hà Tĩnh / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hệ Thống Chính Trị Cơ Sở Trong Hòa Giải Các Tranh Chấp Đất Đai Ở Thành Phố Hà Tĩnh / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

i ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐINH XUÂN HẢO

HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TRONG HOÀ GIẢI CÁC TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI Ở THÀNH PHỐ HÀ TĨNH – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Chính trị học

Hà Nội – 2013 ii

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐINH XUÂN HẢO

HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TRONG HOÀ GIẢI CÁC TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI Ở THÀNH PHỐ HÀ TĨNH – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học Mã số: 60 31 02 01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: chúng tôi Vũ Hoàng Công Hà Nội – 2013 iii LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong việc hòa giải các tranh chấp đất đai ở Thành phố Hà Tĩnh – Thực trạng và giải pháp” là công trình khoa học của riêng tôi. Các nội dung, số liệu được nêu trong Luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo độ tin cậy, chính xác. Tôi xin chịu trách nhiệm về cam kết của mình.

Tác giả

Đinh Xuân Hảo iv MỤC LỤC

MỞ ĐẦU i 1. Tính cấp thiết của đề tài 1 2. Tình hình nghiên cứu đề tài 4 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6 3.1. Mục đích 6 3.2. Nhiệm vụ 6 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 7 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu 7 4.2. Phạm vi nghiên cứu 7 5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu 7 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8 7. Kết cấu của luận văn 8 Chƣơng 1: TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ HOÀ GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI 9 1.1. Tranh chấp đất đai 9 1.1.1. Khái niệm 9 1.1.2. Đặc điểm của tranh chấp đất đai trong giai đoạn hiện nay 10 1.1.3. Phân loại tranh chấp đất đai 11 1.2. Hoà giải tranh chấp đất đai 13 1.2.1. Định nghĩa 13 1.2.2. Đặc điểm 14 1.2.3. Các nguyên tắc thực hiện hòa giải tranh chấp đất đai 14 1.3. Quy trình hoà giải tranh chấp đất đai 16 1.3.1. Quy định về hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở 16 1.3.2. Các bước hoà giải và trách nhiệm của các tổ chức hoà giải 17

vi 3.2.2. Nâng cao nhận thức và làm đúng vai trò hạt nhân lãnh đạo của cấp uỷ Đảng cơ sở đối với công tác hoà giải, giải quyết các tranh chấp về đất đai 58 3.2.3. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về hoà giải tranh chấp đất đai của chính quyền cơ sở 60 3.2.4. Đổi mới vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân cấp xã tham gia hoà giải tranh chấp đất đai 63 3.2.5. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền Thành phố đối với công tác hoà giải các tranh chấp đất đai ở cơ sở . 65 3.3. Kiến nghị nhằm phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở, nâng cao hiệu quả công tác hòa giải các tranh chấp về đất đai 66 3.3.1.Hoàn thiện các quy định pháp lý về hoạt động hòa giải tranh chấp đất đai 66 3.3.2.Hoàn thiện bộ máy theo hướng phân trách nhiệm rõ ràng đối với nhiệm vụ hòa giải tranh chấp đất đai 67 3.3.3. Tăng cường đầu tư kinh phí cho hoạt động hòa giải ở cơ sở 68 KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sau hơn 25 năm kể từ khi Việt nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ theo chiều hướng tích cực trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế – chính trị – xã hội. Song, đi cùng với những thành quả thì quá trình phát triển cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề tiêu cực, phức tạp nảy sinh. Một trong những hạn chế xuất hiện sớm, kéo dài trong nhiều năm và phổ biến ở tất cả các địa phương trong cả nước là hiện tượng tranh chấp đất đai. Đặc biệt, đối với những vùng đang trong quá trình đô thị hoá nhanh thì tranh chấp đất đai phát sinh có xu hướng ngày càng tăng cả về số lượng cũng như tính chất phức tạp về mặt nội dung. Tính bình quân chung trong cả nước, các tranh chấp đất đai chiếm từ 50 – 60% các tranh chấp dân sự phát sinh. Đối với Thành phố Hà Tĩnh là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tĩnh, mới được tái lập năm 1991 và được công nhận là đô thị loại III vào tháng 5/2007; với diện tích tự nhiên 56,6 ngàn km2; trên 28 ngàn hộ dân; trong 5 năm qua (1/2008 – 12/2012), số vụ tranh chấp đất đai thuộc lĩnh vực dân sự phải qua hòa giải cơ sở là trên 451 vụ, chiếm 62% các vụ việc hoà giải trên địa bàn. Nguyên nhân của hiện tượng trên bắt nguồn từ những xung đột gay gắt về lợi ích kinh tế khi đất đai ngày càng trở lên có giá trị; đồng thời cũng là hệ quả từ sự quản lý thiếu hiệu quả của cơ quan công quyền; sự bất hợp lý và thiếu đồng bộ của hệ thống chính sách, pháp luật đất đai; sự khác biệt có tính lịch sử trong quản lý và sử dụng đất đai qua các thời kỳ Từ những tranh chấp, khiếu nại về đất đai nếu không được giải quyết sớm và triệt để sẽ dẫn đến những “điểm nóng” kéo dài, gây bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với cấp uỷ và hệ thống công quyền các cấp.

2 Việc giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về đất đai luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và được xác định là một trong những chính sách nhằm an dân, ổn định xã hội, phát triển kinh tế đồng thời cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Về quan điểm và quy trình giải quyết tranh chấp, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khoá IX) về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã nêu: “Việc giải quyết tranh chấp, trước hết cần tiến hành hoà giải, nếu hoà giải không thành thì đưa ra Toà án giải quyết. Nhà nước quy định thời hiệu và thời hạn giải quyết các khiếu nại không để kéo dài. Uỷ ban nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương là cấp giải quyết cuối cùng các khiếu nại về đất đai trong phạm vi thẩm quyền của cấp địa phương”[2, tr.71] . Luật đất đai năm 2003 cũng quy định hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở là trình tự thủ tục bắt buộc, quan trọng trong quá trình giải quyết các vụ việc tranh chấp về quyền sử dụng đất (Điều 135); khi phát sinh tranh chấp về quyền sử dụng đất, vụ việc bắt buộc phải được hoà giải tại cơ sở, nếu hoà giải không thành mới tiến hành các bước đề nghị giải quyết tranh chấp tại cơ quan hành chính cấp trên hoặc Toà án. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định nhất quán tại Điều 202 Luật đất đai sửa đổi năm 2013. Thực hiện các chính sách trên, những năm qua hệ thống chính trị cơ sở mà chủ trì là UBND cấp xã dưới sự chỉ đạo của cấp uỷ Đảng đã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các thành viên, các tổ chức xã hội khác thực hiện hoà giải thành công nhiều vụ việc tranh chấp đất đai; giúp cho các bên đương sự đạt được thoả thuận chung; đảm bảo được tình cảm gia đình, tình làng nghĩa xóm; giảm bớt khiếu kiện, khiếu nại; giảm áp lực về tinh thần, thời gian, kinh phí, lực lượng cho các bên tranh chấp cũng như hệ thống các cơ quan Nhà nước có chức năng giải quyết tranh chấp.

3 Tuy nhiên, với những thuận lợi và thành công, thì thực tế công tác hoà giải tranh chấp đất đai của cấp cơ sở những năm qua cũng bộc lộ không ít hạn chế, khó khăn. Một số cấp uỷ, chính quyền cấp xã còn coi nhẹ công tác hoà giải cơ sở; hoà giải qua loa, chiếu lệ, ngại va chạm; coi việc giải quyết các tranh chấp về đất đai là việc của chính quyền cấp trên hoặc Toà án. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên tham gia công tác hoà giải mang tính chất chiếu lệ, điểm diện. Các vụ tranh chấp về nhà, đất mà các tổ hoà giải ở cơ sở, UBND cấp xã, phường hoà giải thành thường là các vụ việc đơn giản, cơ sở pháp lý giải quyết tương đối rõ ràng. Đối với các vụ việc phức tạp thì các tổ hoà giải hoặc hệ thống chính trị cơ sở thường khó giải quyết do trình độ của hoà giải viên và công chức cấp xã còn nhiều hạn chế. Thực tế, có sự việc nhỏ chỉ cần giải quyết bằng phương pháp hoà giải ở cấp cơ sở là xong, nhưng việc hiểu biết và vận dụng pháp luật của một số cán bộ còn chưa đúng, chưa phù hợp; có biểu hiện lạm quyền, cố tình áp đặt ý chí của người hoà giải nhằm mục đích có lợi cho một hoặc nhiều bên tranh chấp đã làm cho sự việc phức tạp thêm, kéo dài thời gian, phát sinh quy trình khiếu nại, khiếu kiện, tạo ra nhiều dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân. Từ những vấn đề nêu trên, bản thân hiện đang là một cán bộ tham mưu cho Ủy ban nhân dân (UBND) Thành phố Hà Tĩnh làm công tác quản lý Nhà nước, hướng dẫn nghiệp vụ công tác hoà giải ở cơ sở; nhận thấy rằng chất lượng và hiệu quả công tác hoà giải tranh chấp đất đai ở cơ sở phụ thuộc phần lớn vào vai trò của hệ thống chính trị cơ sở, nơi nào hệ thống chính trị vững mạnh thì thường thực hiện tốt công tác hoà giải và ngược lại, việc thực hiện tốt công tác hoà giải có tác động tích cực đối với việc ổn định tình hình chung, góp phần xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Do đó, việc nghiên cứu nhằm phát huy vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở đối với công tác hoà giải các tranh chấp về đất đai là một đòi hỏi cấp bách, không

5 phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số”, Tạp chí Cộng sản số 64/2012 của tác giả Trần Đức Quang; “Luận cứ khoa học và một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc gia, 2008 do TS Nguyễn Duy Hùng chủ biên + Về hòa giải ở cơ sở có: “Số chuyên đề về công tác hoà giải”, năm 2004 của Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp. Chuyên đề đi sâu nghiên cứu các vấn đề của hòa giải cơ sở dưới góc độ chính trị – pháp lý về đặc điểm, quy trình hòa giải, nội dung hòa giải, giá trị pháp lý của kết quả hòa giải. “Công tác hoà giải cơ sở”, tập I, II, Nxb Tư pháp, 2007 thuộc Dự án VIE/02/015 và UNDP (2006) do TS Uông Chu Lưu chủ biên. Công trình nghiên cứu toàn diện về hòa giải ở cơ sở, đặc điểm, yêu cầu, quy trình, giá trị pháp lý, các biện pháp nghiệp vụ hòa giải và trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị đối với công tác hòa giải. + Về tranh chấp và giải quyết tranh chấp đất đai có: Giáo trình Luật đất đai, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003 của Trường Đại học Luật Hà Nội; cuốn “Hướng dẫn và tìm hiểu các vấn đề tranh chấp, khiếu kiện về đất đai”, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1996 của tác giả Nguyễn Ngọc Điệp là những công trình nghiên cứu về tranh chấp đất đai dưới góc độ khoa học pháp lý. Tiếp cận dưới góc độ chính trị – pháp lý có chuyên đề “Tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai và giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai” của Vụ phổ biến tuyên truyền pháp luật Bộ Tư pháp; Số chuyên đề pháp luật về đất đai, tháng 7/2012 của Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp Các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu phân tích và làm rõ các vấn đề độc lập: hệ thống chính trị cơ sở; công tác hoà giải cơ sở; đất đai, thực trạng tranh chấp, khiếu nại về đất đai.

6 Tuy nhiên, nghiên cứu về vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong việc hoà giải các tranh chấp đất đai trong phạm vi hiểu biết của bản thân gần như chưa có. Song thực tế lại chứng minh, đây là mối quan hệ rất cần phải nghiên cứu, làm rõ để khắc phục các tồn tại hạn chế, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị ở cơ sở trong việc tham gia thực hiện một quy trình mang đậm tính văn hoá, nhân văn của dân tộc Việt Nam đối với việc giải quyết một loại tranh chấp thường xuyên xảy ra tại địa bàn dân cư, đó là tranh chấp đất đai. Với mục đích đó, luận văn hi vọng mang đến một đóng góp mới, thiết thực, phục vụ việc giải quyết một vấn đề đặt ra từ thực tiễn là nâng tầm năng lực và trách nhiệm của các tổ chức chính trị ở cơ sở trong việc hoà giải các tranh chấp đất đai. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở đối với công tác hoà giải các tranh chấp đất đai; đề xuất các các giải pháp nhằm phát huy vai trò của các tổ chức trên khi tham gia hoà giải các tranh chấp về đất đai ở Thành phố Hà Tĩnh; góp phần giữ gìn tình đoàn kết, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ngay từ địa bàn cơ sở. 3.2. Nhiệm vụ Luận văn có nhiệm vụ làm rõ, trình bày một số vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý về tranh chấp đất đai và hòa giải tranh chấp đất đai; vai trò và giới hạn trách nhiệm của hệ thống chính trị cơ sở trong hòa giải các tranh chấp đất đai; thực trạng công tác hòa giải tranh chấp đất đai của hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn Thành phố Hà Tĩnh từ năm 2008 đến 2012; làm rõ nguyên nhân thành công, hạn chế; đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy

7 vai trò, hiệu quả của hệ thống chính trị cơ sở trong công tác hoà giải các tranh chấp về đất đai khi. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu Sự thực hiện vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở ở Thành phố Hà Tĩnh trong việc tham gia hoà giải các tranh chấp về đất đai. 4.2. Phạm vi nghiên cứu “Hệ thống chính trị cơ sở” trong luận văn này được giới hạn theo quan điểm truyền thống với ý nghĩa là hệ thống các thiết chế chính trị ở cơ sở gồm Cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng tham gia vào hoà giải các tranh chấp đất đai theo quy định của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở năm 1998, Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành. “Tranh chấp đất đai” đề cập trong luận văn này được giới hạn bởi các tranh chấp về quyền sử dụng đất trong lĩnh vực dân sự, phát sinh giữa các chủ thể có năng lực dân sự theo quy định của Bộ Luật dân sự năm 2005. Các số liệu làm cơ sở nghiên cứu, đánh giá được tính trong 5 năm, từ tháng 1/2008 đến hết tháng 12/2012 trên địa bàn Thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. 5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về hệ thống chính trị, chính sách quản lý Nhà nước về đất đai, về hoà giải cơ sở.

9 Chƣơng 1 TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ HOÀ GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI 1.1. Tranh chấp đất đai 1.1.1. Khái niệm “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt; là tài sản, nguồn lực to lớn của đất nước, là nguồn sống của nhân dân” [5, tr.82]. Cùng với sự phát triển của sản xuất và đời sống, nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Xuất phát từ lợi ích của các giai tầng trong xã hội và dựa trên đòi hỏi của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, Nhà nước sử dụng các chính sách chính trị và pháp luật để điều chỉnh các quan hệ đất đai nhằm tạo lập một môi trường pháp lý lành mạnh cho hoạt động khai thác và sử dụng đất được hợp lý, hiệu quả. Tranh chấp đất đai là một hiện tượng xã hội xảy ra trong bất kỳ hình thái kinh tế – xã hội nào. Trong xã hội tồn tại lợi ích giai cấp đối kháng thì tranh chấp đất đai có thể xảy ra trên bình diện rộng giữa giai cấp thống trị sở hữu về đất đai với giai cấp bị thống trị vô sản về đất đai. Trong xã hội Xã hội chủ nghĩa, khi đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý thì tranh chấp đất đai thường xảy ra trong các mối quan hệ dân sự, khi xuất hiện mâu thuẫn về lợi ích kinh tế, quyền và nghĩa vụ của các bên. Việc giải quyết tranh chấp đất đai do các bên tự thương lượng hòa giải hoặc do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật. Tranh chấp đất đai hiểu theo nghĩa rộng là biểu hiện sự mâu thuẫn, bất đồng trong việc xác định quyền quản lý, quyền sử dụng đối với đất đai, phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai. Theo nghĩa hẹp, Luật đất đai năm 2003, khoản 26, Điều 4 đã giải nghĩa “tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ pháp luật về đất đai” [34, tr.12].

10 Thực tế, tranh chấp đất đai được hiểu là sự tranh chấp về quyền quản lý, quyền sử dụng xung quanh một khu đất, một địa điểm đất cụ thể mà mỗi bên đều cho rằng mình phải được quyền đó do pháp luật quy định và bảo hộ. Vì vậy, họ phải đi đến thương lượng, hòa giải hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết, phân xử. 1.1.2. Đặc điểm của tranh chấp đất đai trong giai đoạn hiện nay Vì đất đai là một loại tài sản, công cụ sản xuất đặc biệt thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý nên tranh chấp đất đai có đặc điểm khác với những tranh chấp khác, đó là: Thứ nhất: Chủ thể tham gia tranh chấp đất đai chỉ có thể là chủ thể của quyền quản lý và quyền sử dụng đất mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai. Quyền sử dụng đất của các chủ thể được xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nước hoặc được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất đang sử dụng, được Nhà nước công nhận việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp từ chủ thể khác. Như vậy, chủ thể của tranh chấp đất đai có thể là các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tham gia vào quan hệ quản lý và sử dụng đất. Thứ hai: Đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý và quyền sử dụng đất, là công cụ sản xuất, tài sản, hàng hoá đặc biệt nên hầu hết các tranh chấp đều rất phức tạp và gay gắt. Nội dung của tranh chấp đất đai rất đa dạng và phức tạp bởi hoạt động quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong phú với việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích, nhu cầu sử dụng khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường, đất đai không chỉ đơn thuần là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt mà nó cũng là một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị thương mại lớn và cũng chịu tác động của quy luật thị trường nên việc quản lý và sử dụng không chỉ đơn thuần là việc khai thác giá trị sử dụng mà còn phải khai thác

11 giá trị sinh lời của đất thông qua các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Và tất yếu, khi nội dung quản lý và sử dụng đất phong phú, phức tạp thì những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh từ nội hàm trên cũng trở nên phức tạp và gay gắt hơn. Thứ ba: Tranh chấp đất đai gây hậu quả xấu về nhiều mặt, không chỉ tác động trực tiếp đến các bên tranh chấp mà gây ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội và lợi ích Nhà nước. Tranh chấp đất đai phát sinh làm tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền quản lý, quyền sử dụng của người sử dụng đất, gây đình trệ sản xuất, hao tổn kinh phí, nhân lực và làm đóng băng các quan hệ giao dịch đối với phần đất bị tranh chấp. Tranh chấp đất đai không được giải quyết sớm đầu tiên dẫn đến mất đoàn kết giữa các bên tranh chấp, sau đó ảnh hưởng đến an ninh trật tự, nếu phức tạp có thể trở thành một vấn đề gây bất ổn về mặt chính trị, làm phá vỡ các mối quan hệ xã hội, gây thiệt hại đến lợi ích của xã hội và Nhà nước. Thứ tư: Tranh chấp đất đai nhiều trường hợp có thể trở thành những điểm nóng lôi kéo số đông người tham gia, trở thành một vấn đề nhạy cảm thu hút sự chú ý của dư luận xã hội, là một hiện tượng mang vừa tính pháp lý vừa mang tính chính trị. 1.1.3. Phân loại tranh chấp đất đai Theo pháp luật hiện hành: Trước năm 1980, Nhà nước ta thừa nhận nhiều hình thức sở hữu đối với đất đai bao gồm sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân Sau khi Hiến pháp năm 1980 ra đời, Nhà nước trở thành đại diện chủ sở hữu duy nhất thống nhất quản lý đối với toàn bộ vốn đất đai trong cả nước. Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài; người sử dụng đất có các quyền năng thuộc quyền quản lý và sử dụng đối với khu đất thuộc quyền quản lý và sử dụng hợp pháp của mình. Do đó, phân loại dưới góc độ pháp luật, các tranh chấp đất đai hiện nay

13 một bên là cá nhân, tổ chức, hộ gia đình thì pháp luật chính để áp dụng quy trình giải quyết các mâu thuẫn này là Luật Khiếu nại, Luật tố cáo, Luật tố tụng hành chính nên không bắt buộc phải qua hòa giải ở cấp cơ sở. 1.2. Hoà giải tranh chấp đất đai 1.2.1. Định nghĩa Hòa giải là một biện pháp truyền thống để giải quyết các tất cả các mâu thuẫn, tranh chấp trong đời sống xã hội. “Hòa” có nghĩa là êm đẹp, “Giải” có nghĩa là cởi bỏ đi, “Hòa giải có nghĩa là làm cho êm đẹp, không còn chống đối nhau” [47, tr.383]. Ở nước ta hiện nay, có những hình thức hòa giải khác nhau: Hòa giải tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, hôn nhân gia đình; hòa giải các tranh chấp lao động; hòa giải bằng trọng tài thương mại; hòa giải tại cộng đồng dân cư thông qua hòa giải ở cơ sở. Theo Pháp lệnh Hòa giải ở cơ sở năm 1998 thì Hòa giải cơ sở “là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư” [52, tr.3]. Như vậy, Hòa giải có thể được hiểu là một phương pháp trong đó lấy việc tự thỏa thuận để tự nguyện đi đến một nhất trí chung nhằm giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên. Hòa giải có thể được tiến hành tự nguyện giữa các bên tranh chấp hoặc do một bên thứ ba đóng vai trò trung gian hòa giải để giúp đỡ, thuyết phục các bên đi đến một thỏa thuận chung. Hòa giải tranh chấp đất đai nhìn dưới góc độ là một biện pháp của quản lý Nhà nước (có tổ chức trung gian hòa giải) thì có thể định nghĩa như sau: Hòa giải tranh chấp đất đai là một phương thức giải quyết tranh chấp lấy việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục là biện pháp chính để các bên tranh chấp đạt

14 được thoả thuận chung, tự nguyện thống nhất được với nhau về quyền quản lý, quyền sử dụng xung quanh một khu đất cụ thể trên cơ sở hài hoà lợi ích các bên và phù hợp với các quy định của pháp luật. 1.2.2. Đặc điểm Hòa giải là một trong những biện pháp giải quyết tranh chấp đất đai được ưa chuộng bởi nó có những đặc điểm và ưu điểm sau: Mục đích của hòa giải tranh chấp đất đai nhằm giúp đỡ các bên tranh chấp đạt được thống nhất chung, tự nguyện giải quyết các tranh chấp về quyền quản lý, quyền sử dụng đất đai mà không cần đến vai trò của Tòa án và các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Phương pháp hòa giải không mang tính chất bắt buộc, cưỡng chế thi hành mà thể hiện sự thỏa thuận ý chí của các bên. Điều này phù hợp với một trong những nguyên tắc cơ bản của quan hệ dân sự là nguyên tắc tự nguyện. Ưu điểm của hòa giải tranh chấp đất đai là giúp các bên tranh chấp giữ gìn được tình đoàn kết; củng cố, phát huy đạo lý, truyền thống tốt đẹp trong gia đình, dòng họ và cộng đồng; giảm bớt các vụ khiếu kiện; phòng ngừa và hạn chế các vi phạm pháp luật trong nhân dân; giữ gìn trật tự xã hội, góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai khá đơn giản, tiện lợi, kịp thời và ít gây tốn kém về tiền bạc, thời gian của các bên tranh chấp. Hòa giải tranh chấp đất đai có hiệu quả cao đối với các tranh chấp xảy ra ban đầu mang tính chất đơn giản, không phức tạp. 1.2.3. Các nguyên tắc thực hiện hòa giải tranh chấp đất đai 1.2.3.1. Nguyên tắc chung Vì hòa giải tranh chấp đất đai là một nhóm việc của công tác Hòa giải ở cơ sở nên hòa giải tranh chấp đất đai phải được thực hiện theo những nguyên tắc và tiêu chí chung của công tác Hòa giải, đó là:

15 Thứ nhất: Tôn trọng sự tự nguyện của các bên. Thứ hai: Tuân thủ quy định của pháp luật về hòa giải và hệ thống pháp luật về đất đai; không trái đạo đức xã hội và phong tục tập quan tốt đẹp của nhân dân. Thứ ba: Khách quan, công bằng, kịp thời, có lý có tình. Thứ tư: Giữ bí mật thông tin đời tư các bên tranh chấp. Thứ năm: Tôn trọng lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Trong những nguyên tắc chung đó thì hòa giải tranh chấp đất đai phải đặc biệt chú ý vào đảm bảo tiêu chí thứ nhất và tiêu chí thứ năm; đó là việc hòa giải phải phù hợp với đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tôn trọng sự tự nguyện, khách quan, quyền và lợi ích của các bên, không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, công cộng. 1.2.3.2. Nguyên tắc riêng Vì đất đai là một loại tài sản đặc biệt, có hệ thống chính sách và cơ chế quản lý Nhà nước riêng, quyền năng của người sử dụng đất khác với quyền năng sở các loại tài sản thông thường khác nên khi đi vào hòa giải tranh chấp đất đai cũng cần phải tôn trọng các nguyên tắc riêng xuất phát từ đặc thù đối tượng là đất đai, đó là các nguyên tắc: Thứ nhất: Nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Thứ hai: Nguyên tắc đảm bảo lợi ích của người sử dụng, nhất là lợi ích kinh tế, khuyến khích việc tự thương lượng, tự hòa giải trong nội bộ nhân dân. Thứ ba: Hòa giải tranh chấp đất đai phải nhằm mục đích ổn định tình hình kinh tế – xã hội, gắn việc hòa giải tranh chấp đất đai với việc tổ chức sử dụng đất, phát huy hiệu quả kinh tế từ đất.

16 1.3. Quy trình hoà giải tranh chấp đất đai 1.3.1. Quy định về hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở Khi có tranh chấp đất đai xảy ra trong nội bộ nhân dân, cộng đồng dân cư, Nhà nước khuyến khích việc hòa giải tranh chấp với sự tham gia của các tổ chức chính trị – xã hội tại địa phương để bình ổn các quan hệ đất đai. Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) và Luật đất đai năm 2003 đã thể hiện rõ quan điểm việc hòa giải các tranh chấp về đất đai là bắt buộc như là một thủ tục tiền tố tụng trước khi được cơ quan Tư pháp hoặc cơ quan hành chính Nhà nước giải quyết theo thẩm quyền. Tại khoản 1, Điều 135, Luật đất đai năm 2003 quy định “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải cơ sở. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp” [ 34, tr.163]. Như vậy, với quy định này thì khi có tranh chấp đất đai xảy ra các bên có thể trải ba bước hòa giải: – Hòa giải tự nguyện (tự hòa giải); – Hòa giải cơ sở do Tổ hòa giải ở thôn, xóm, khối phố làm trung gian hòa giải (được quy định trong Pháp lệnh hòa giải cơ sở); – Sau khi hòa giải tự nguyện và hòa giải cơ sở không thành thì tranh chấp đất đai bắt buộc phải hòa giải công khai tại trụ sở UBND cấp xã, có biên bản hòa giải ghi nhận ý kiến của các bên trước khi đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Theo khoản 2, Điều 159 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP về thi hành Luật đất đai năm 2003 quy định “Trường hợp các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ kí của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Biên bản hòa giải được

17 gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp”. 1.3.2. Các bước hoà giải và trách nhiệm của các tổ chức hoà giải 1.3.2.1. Hòa giải tự nguyện Với cách hiểu hòa giải tranh chấp đất đai bao gồm ba bước, hòa giải tự nguyện, hòa giải tại cơ sở và hòa giải bắt buộc tại Ủy ban nhân dân cấp xã, tương đương mỗi bước hòa giải có các thành phần, chủ thể tham gia hòa giải khác nhau. Với bước hòa giải tự nguyện, vì bản chất là hai bên tự nguyện giải quyết với nhau không cần người thứ ba làm trung giam hòa giải nên bước này chưa cần đến vai trò của các thành viên trong tổ chức chính trị cơ sở. 1.3.2.2. Hoà giải tại Tổ hòa giải cơ sở Bước thứ hai là bước hòa giải tại cơ sở, theo Pháp lệnh hòa giải tại cơ sở năm 1998, khi có tranh chấp bất kì xảy ra, một trong các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tổ hòa giải cơ sở vào giải quyết tranh chấp, hoặc trong tình thế thấy cần thiết phải hòa giải thì Tổ trưởng Tổ hòa giải và các thành viên Tổ hòa giải chủ động tham gia hòa giải mà không cần có yêu cầu của các bên tranh chấp. Tổ hòa giải theo pháp lệnh hòa giải cơ sở được thành lập ở thôn, ấp, tổ dân phố. Thành phần tham gia tổ hòa giải thường có Trưởng thôn, tổ trưởng Tổ dân phố, Bí thư chi bộ, cán bộ Ban công tác Mặt trận, chi hội trưởng hoặc hội viên gương mẫu của các tổ chức đoàn thể như Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh, Hội người cao tuổi Đặc biệt, đối với Tổ hòa giải cơ sở, tại Điều 5, Pháp lệnh hòa giải cơ sở đã quy định cụ thể về vai trò của Mặt trận trong việc tham gia hòa giải “Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Nhà nước hữu quan, động viên nhân dân trong việc xây dựng, củng cố Tổ hòa giải và các tổ chức hòa giải khác của

18 nhân dân trong cộng đồng dân cư; giúp đỡ, tạo điều kiện cho hoạt động hòa giải ở cơ sở; tham gia hòa giải theo quy định của pháp luật”. Tại bước hòa giải tranh chấp đất đai này, các thành viên của Tổ hòa giải cũng đồng thời là thành viên của các tổ chức hội chính trị cơ sở tiến hành giải thích, vận động, thuyết phục các bên tranh chấp đi đến đàm phán để đạt được một thỏa thuận chung trong việc giải quyết các tranh chấp. Kết thúc hòa giải tại cơ sở, nếu hai bên tranh chấp đạt được thỏa thuận chung thì Tổ hòa giải cơ sở tiến hành lập biên bản hòa giải thành và vận động, theo dõi, thuyết các bên thực hiện cam kết đã thống nhất. Trong trường hợp này, tranh chấp đã được giải quyết thông qua hòa giải tại cơ sở. Nếu các bên tự nguyện thực hiện đúng cam kết thì không phải qua hòa giải bắt buộc tại UBND xã, phường, thị trấn cũng như không cần phải đến các cơ quan có thẩm quyền tiếp theo. Nếu hai bên tranh chấp không đạt được thỏa thuận chung, Tổ hòa giải cơ sở tiến hành hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến UBND cấp xã để thực hiện hòa giải bắt buộc tại UBND cấp xã. 1.3.2.3. Hoà giải tại UBND cấp xã Bước ba, hòa giải bắt buộc tại Ủy ban nhân dân cấp xã: Theo khoản khoản 2, Điều 161, Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ, thành phần Hội đồng Tư vấn (Hội đồng hòa giải) ở Ủy ban nhân dân cấp xã gồm: Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn làm chủ tịch Hội đồng; đại diện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn; tổ trưởng Tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn ấp, bản, phum, sóc đối với khu vực nông thôn; đại diện một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; Cán bộ địa chính, cán bộ Tư pháp xã, phường, thị trấn. Ngoài ra, tùy từng đối tượng các bên tranh chấp có thể mời thêm các thành phần như: Chủ tịch Hội nông dân, Chủ tịch Hội phụ nữ, Chủ tịch Hội

Hòa Giải Trong Giải Quyết Tranh Chấp Đất Đai Ở Việt Nam Hiện Nay / 2023

Gọi đặt hàng 24/24 từ thứ 2 đến thứ 7: 0909 366 858

Sách phát hành Quý III/2018, Giá bìa phát hành: 365.000đ, Giá bán áp dụng theo chương trình khuyến mãi của Shop, Giá bán đã bao gồm hóa đơn, giao hàng và bọc sách Plastic bằng máy ép nhiệt MIỄN PHÍ

Hòa giải là biểu hiện nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam. Về bản chất hòa giải nhằm giữ gìn tình làng, nghĩa xóm; tăng cường tình đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng; kịp thời giải quyết những xích mích, mâu thuẫn ở cơ sở; ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật; góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội, giảm bớt vụ việc phải đưa lên Tòa án nhân dân hoặc UBND các cấp giải quyết, tiết kiệm thời gian, tiền bạc của Nhà nước và nhân dân.

– Bên cạnh đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng ban hành Thông tư số 27/2018/TT-BTNMT ngày 14-12-2018 Quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất;…

– Nhằm giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực đất đai và bạn đọc quan tâm đến những quy định mới nêu trên, Nhà xuất bản Thế Giới xuất bản cuốn sách: Trân trọng giới thiệu cuốn sách đến quý độc giả. Sách có độ dày 400 trang,giá phát hành 350,000đ/1 quyển

Những quy định mới được sửa đổi, bổ sung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất áp dụng từ ngày 01-01-2019

Phần thứ hai: Các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai

Phần thứ ba: Các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai

Phần thứ tư: Những quy định mới được sửa đổi, bổ sung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất áp dụng từ ngày 01-01-2019

Công ty Sách Pháp Luật: Bán sỉ và lẻ sách Sách Luật Đất Đai Chiết Khấu Cao có Hóa Đơn Tài chính, Sách chính hãng, giá rẻ uy tín chất lượng,Giao Sách sau 1 tiếng tại TP. HCM và TP. Hà Nội; Chúng tôi còn phát hành các loại sách độc quyền cung cấp tại 63 tỉnh thành trên toàn quốc

Địa chỉ: Phố . Đội Cấn, P. Cống Vị ,Q. Ba Đình. TP. HÀ NÔI

Chi Nhánh I : 282 Nam Kỳ Khởi Nghĩa , P7. Quận 3 TP. HCM

Website: http://sachphapluat.com.vn – Email: sachphapluatct@gmail.com

Người Trong Cuộc Nói Về Hòa Giải Tranh Chấp Đất Đai / 2023

Vấn đề có nên giữ quy định trước khi khởi kiện ra tòa bắt buộc phải có thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất với những tranh chấp về quyền sử dụng đất tiếp tục thu hút sự quan tâm của dư luận. Pháp Luật chúng tôi xin giới thiệu ý kiến của người trong cuộc là những công chức và chủ tịch UBND cấp xã, phường về những vướng mắc thực tiễn cũng như các đề xuất, kiến nghị.

Xã, phường gặp nhiều khó khăn

Khó khăn trong hòa giải tranh chấp đất là việc hồ sơ không đầy đủ, việc thẩm định, đo vẽ cấp xã chưa đủ chuyên môn nên khó xem xét, nhận định chính xác. Vì thế thực tế dẫn đến tình trạng tồn đọng hồ sơ, chậm trễ giải quyết bức xúc của người dân dẫn đến việc hòa giải tại cấp cơ sở chưa thực hiện được nhanh chóng, hiệu quả.

Tôi nghĩ luật nên quy định theo hướng cho phép song song hai cách, người dân có thể chọn việc hòa giải ở cấp cơ sở hoặc nhờ trung tâm hòa giải-đối thoại thuộc tòa án. Bởi việc hòa giải tại tòa án phù hợp với những tranh chấp mang tính chất phức tạp vì nơi đây hòa giải viên có khả năng chuyên môn tốt hơn. Còn những tranh chấp, xung đột đơn giản, giấy tờ rõ ràng thì cấp xã sẽ hòa giải để hàn gắn tình cảm và đảm bảo quyền lợi của người dân.

Ông NGUYỄN ĐỨC TRÍ, Chủ tịch UBND phường Bình Thuận, quận 7, TP.HCM

Hòa giải với tranh chấp đất đai tại xã, phường chỉ là một bước trước khi người dân khởi kiện ra tòa, vì tỉ lệ hòa giải quá thấp nên nếu được thì bỏ luôn thủ tục này, giao hết về cho các tòa. Việc này vừa cắt giảm được một bước, vừa không mất nhiều thời gian của người dân và của chính quyền, giảm đầu công việc vốn đang nhiều của UBND xã, phường nơi có đất.

Việc hòa giải tại cơ sở có ưu điểm là các cán bộ tại địa phương nắm rõ về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất nên nếu các bên cầu thị và cán bộ giải thích cặn kẽ thì sẽ thành. Tuy nhiên, những mâu thuẫn về đất đai thường gay gắt và các bên không có thiện chí nên thường ít khi hòa giải thành. Nhiều khi UBND xã mời lên nhưng họ nói thẳng là không muốn hòa giải.

Ở nông thôn vẫn nên giữ

Ở nông thôn, nói gì nói, mâu thuẫn xuất phát ban đầu bao giờ cũng từ cấp thôn, bản nên rất cần cán bộ địa phương hòa giải. Ngoài ra, ở các tỉnh nghèo, các vụ tranh chấp đất đai không nhiều và không quá phức tạp.

Do vậy, tôi nghĩ nên giữ quy định hòa giải ở cấp xã như hiện nay để tình làng nghĩa xóm được duy trì.

Nên chăng ở các tỉnh, TP lớn (có tổ chức hành chính là cấp phường, thị trấn) với nhiều vụ tranh chấp đất đai phức tạp, giá trị cao và kéo dài thì chúng ta không cứng nhắc quy định bắt buộc phải hòa giải ở cơ sở. Hãy để cho người dân tự lựa chọn phương thức hòa giải ở phường hoặc ở tòa án.

Việc này có thể tránh được tình trạng chủ tịch không chịu hòa giải, người dân lại phải kiện thêm một vụ án khác, mất thời gian, công sức.

Tỉ lệ hòa giải thành chỉ 50%

Theo tổng kết, tỉ lệ hòa giải thành đối với tranh chấp đất đai trong năm năm vừa qua vẫn còn thấp, chỉ khoảng 50%. Nguyên nhân chủ yếu là một bên đương sự có kiến thức pháp luật nhiều hơn nên muốn ra tòa để họ chiếm ưu thế. Một số người kinh doanh bất động sản vì lợi ích rất lớn từ đất, họ không có thiện chí hòa giải mà chỉ muốn ra tòa để lợi dụng các kẽ hở pháp luật giành phần thắng. Ngoài ra, một số văn bản hướng dẫn của tòa án địa phương chưa cập nhật và mâu thuẫn giữa các quy định pháp luật cũng là một trở ngại lớn.

Tuy nhiên, tôi cho rằng vẫn nên cần giữ lại quy định bắt buộc hòa giải ở cơ sở trước khi kiện ra tòa. Vì hơn ai hết, địa phương lại là người quản lý, biết rõ nguồn gốc đất, nếu chuyển thẳng lên tòa thì cơ quan này cũng sẽ yêu cầu các bộ phận chuyên môn kiểm tra đo đạc, lúc này phường cũng phải tham gia. Trong khi nếu xã, phường hòa giải thành thì giữ được tình làng nghĩa xóm.

Tùy tranh chấp mà hòa giải ở xã

Năm 2018, UBND tiếp nhận 39 vụ tranh chấp đất đai, hòa giải thành 13 vụ. Trong bảy tháng đầu năm 2019, xã tiếp nhận 21 vụ và đã hòa giải thành bốn vụ.

Theo tôi, nên bỏ khâu hòa giải tại xã, phường đối với những tranh chấp quyền sử dụng đất mà có đăng ký lô, thửa, có giấy chứng nhận sử dụng đất hoặc đất có đăng ký các loại giấy tờ theo Điều 100 Luật Đất đai. Bởi loại đất này có đầy đủ chứng cứ, khi khởi kiện, tòa án thụ lý và xét xử khá nhanh.

Với cấp xã, việc hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất chưa có đăng ký qua các thời kỳ sử dụng đất, chưa có giấy tờ gì là việc nên làm. Bởi với loại đất này, chính quyền cơ sở nắm rõ hơn cả, UBND cấp xã có thể đứng ra truy nguồn gốc đất. Còn nếu không hòa giải được thì đây cũng là khâu tạo cơ sở sau này để tòa hoặc UBND cấp huyện thụ lý giải quyết.

Hòa giải nhằm tạo điều kiện cho người dân gần gũi nhau, đó chính là ý nghĩa lớn. Những người hòa giải khéo có thể dùng lý lẽ và tình cảm tác động nên cơ hội hòa giải thành sẽ cao và không mất đi tình làng xã.

Biện Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Âm Nhạc Ở Các Trường Trung Học Cơ Sở Tại Thành Phố Hà Tĩnh / 2023

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN ÂM NHẠC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HÀ TĨNHCHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤCMÃ SỐ: 60.14.05LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤCNgười hướng dẫn khoa học: chúng tôi TRẦN NGỌC GIAOHÀ NỘI – 2011LỜI CẢM ƠNTrong quá trình học tập, triển khai nghiên cứu đề tài: ” Biện pháp quảnlý nâng cao chất lượng dạy học môn Âm nhạc ở các trường Trung học cơsở tại Thành phố Hà Tĩnh”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình

của các Thầy, Cô giáo Học viện Quản lý Giáo dục, Phòng Giáo dục và Đàotạo Thành phố Hà Tĩnh; cùng các bạn đồng nghiệp đã tận tình cung cấp tưliệu, tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở thực tế, đóng góp những ý kiến quý báucho việc nghiên cứu và hoàn thành đề tài.Tác giả xin được được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đếnquý Thầy Cô Học viện Quản lý Giáo dục đã trực tiếp giảng dạy, động viêntrong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.Tác giả xin bày tỏ sự biết ơn đặc biệt đến chúng tôi Trần Ngọc Giaongười đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ về khoa học để tôi hoàn thành luận vănnày.Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn không thể tránh khỏi nhữngthiếu sót. Kính mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý của các Thầy, Cô giáo vàcác bạn đồng nghiệp.Xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, tháng 11 năm2011Tác giả Trần Đình QuảngDANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂNQL : Quản lý QLGD : Quản lý giáo dụcCBQL : Cán bộ quản lýGV : Giáo viên HS : Học sinh HĐGD : Hoạt động giáo dục THCS : Trung học cơ sởTBDH : Thiết bị dạy họcCSVC : Cơ sở vật chấtPPDH : Phương pháp dạy họcMỤC LỤCMỞ ĐẦU 11. Lý do chọn đề tài 12. Mục đích nghiên cứu 23. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 24. Giả thuyết khoa học 25. Nhiệm vụ nghiên cứu 36. Phương pháp nghiên cứu 37. Những đóng góp của luận văn 38. Kết cấu luận văn: 4Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1. Tổng quan của vấn đề nghiên cứu 51.2. Các khái niệm cơ bản 61.2.1. Quản lý 61.2.2. Quản lý giáo dục 81.2.3. Quản lý nhà trường 91.2.4. Dạy học Âm nhạc 101.2.5. Quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc 151.3. Quản lý hoạt động dạy học môn Âm nhạc ở trường Trung học cơ sở 171.3.1. Hoạt động dạy học Âm nhạc ở trường Trung học cơ sở 171.3.2. Nội dung quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc ở trường Trung học cơ sở 221.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Âm nhạc ở các trường Trung học cơ sở 29Tiểu kết chương 1 33Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN ÂM NHẠC CỦA CÁC TRƯỜNG THCS Ở THÀNH PHỐ HÀ TĨNH 342.1. Tình hình kinh tế – xã hội và giáo dục Thành phố Hà Tĩnh 342.1.1. Tình hình kinh tế – xã hội 342.1.2. Tình hình giáo dục Thành phố Hà Tĩnh 372.2. Thực trạng dạy học môn Âm nhạc ở các trường THCS Thành phố Hà Tĩnh 402.2.1. Nhận thức về tầm quan trọng của việc dạy học Âm nhạc ở các trường THCS trên địa bàn Thành phố Hà Tĩnh 402.2.2. Thực trạng về đội ngũ giáo viên dạy học môn Âm nhạc 402.2.3. Thực trạng kết quả học tập môn Âm nhạc của học sinh 412.3. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Âm nhạc của các trường THCS ở Thành phố Hà Tĩnh 422.3.1. Quản lý việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch dạy học 422.3.2. Quản lý việc thực hiện chương trình, nội dung dạy học 432.3.3. Quản lý hoạt động dạy Âm nhạc của giáo viên 442.3.4. Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ chogiáo viên 462.3.5. Thực trạng quản lý công tác đổi mới phương pháp dạy học 482.3.6.Thực trạng quản lý hoạt động học của học sinh 492.3.7. Thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động dạy học 502.3.8. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất, thiết bị và phương tiện dạy học môn Âm nhạc 512.4. Đánh giá chung 522.4.1. Thành công và hạn chế 522.4.2. Nguyên nhân của thực trạng 53Tiểu kết chương 2 55Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN ÂM NHẠC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠSỞ TẠI THÀNH PHỐ HÀ TĨNH 563.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 563.1.1. Nguyên tắc mục tiêu 563.1.2. Nguyên tắc khoa học 563.1.3. Nguyên tắc có tính khả thi 563.2. Một số biện pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy học môn Âm nhạccủa các trường Trung học cơ sở ở Thành phố Hà Tĩnh 563.2.1. Biện pháp nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên với môn Âm nhạc ở trường Trung học cơ sở 563.2.2. Biện pháp nâng cao nhận thức của học sinh đối với môn Âm nhạc ở trường Trung học cơ sở 573.2.3. Biện pháp quản lý mục tiêu, kế hoạch dạy học môn Âm nhạc ở cáctrường Trung học cơ sở 583.2.4. Biện pháp quản lý nội dung, đổi mới phương pháp dạy học môn Âm nhạc 593.2.5. Biện pháp quản lý hoạt động dạy của giáo viên 613.2.6. Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên 623.2.7. Biện pháp quản lý hoạt động học, tự học của học sinh 633.2.8. Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động dạy học Âm nhạc 633.2.9. Biện pháp quản lý cơ sở vật chất, thiết bị và đồ dùng dạy học 643.3. Mối quan hệ của các biện pháp được đề xuất 653.4. Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy học môn Âm nhạc ở các trường Trung học cơ sởtại Thành phố Hà Tĩnh 66Tiểu kết chương 3 68KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 701. Kết luận 702. Kiến nghị 71TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hệ Thống Chính Trị Cơ Sở Trong Hòa Giải Các Tranh Chấp Đất Đai Ở Thành Phố Hà Tĩnh / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!