Đề Xuất 2/2023 # Hậu Quả Của Việc Già Hoá Dân Số Ở Nhật Bản: Người Cao Tuổi Cố Tình Phạm Tội Để Được An Dưỡng Tuổi Già Trong Nhà Tù # Top 2 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Hậu Quả Của Việc Già Hoá Dân Số Ở Nhật Bản: Người Cao Tuổi Cố Tình Phạm Tội Để Được An Dưỡng Tuổi Già Trong Nhà Tù # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hậu Quả Của Việc Già Hoá Dân Số Ở Nhật Bản: Người Cao Tuổi Cố Tình Phạm Tội Để Được An Dưỡng Tuổi Già Trong Nhà Tù mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Pháp luật nghiêm khắc ở Nhật Bản

Nhật Bản được biết đến là một trong những đất nước phát triển hàng đầu trên thế giới, đặc biệt con người Nhật Bản sống rất nguyên tắc và rất tôn trọng luật pháp. Chính vì vậy, pháp luật ở đây có những quy định rất nghiêm ngặt, chỉ cần bạn phạm một lỗi nhỏ, hay ăn trộm một món đồ nhỏ cũng sẽ bị bắt.

Một ví dụ, đó là: Theo Quy định pháp luật tại Nhật Bản chỉ cần ăn cấp một chiếc bánh sandwich giá chỉ 200 yên cũng có thể bị phạt tù 2 năm.

2. Chế độ nhà tù “nhân đạo” của Nhật Bản khiến nhiều người muốn được vào tù

– Tại Nhật Bản, chi phí y tế hàng năm tại các cơ sở cải huấn tăng cao, chạm mức 6 tỷ yên (tương đương hơn 50 triệu USD) vào năm 2016, tăng hơn 80% trong – 10 năm qua.

– Môi trường sinh sống của các tù nhân khá tốt.

– Mỗi ngày điều được 3 bữa cơm đầy đủ.

– Được hưởng các chế độ chăm sóc y tế đầy đủ. 

3. Tỷ lệ người cao tuổi phạm tội ở Nhật Bản ngày càng cao

Ngày càng nhiều người trên 65 tuổi phạm pháp. Năm 1997, nhóm tội phạm cao tuổi chỉ chiếm tỉ lệ một trong 20 vụ kết án nhưng 20 năm sau đó, con số này tăng lên một trong 5 vụ. Những người già cao tuổi thường tái phạm. Trong số 2.500 người trên 65 tuổi bị kết án, hơn 1/3 từng có 5 tiền án.

Nhưng phần lớn các vụ phạm pháp này không có gì nguy hểm cả, bởi họ chỉ ăn trộn những vật nhỏ, hoặc đe doạ người khác mà thôi. Có thể nói các người cao tuổi chỉ cố tình vi phạm để được vào tù mà thôi chứ không gây ra các vụ việc nghiêm trọng.

4. Nguyên nhân người cao tuổi ở Nhật Bản cố tình phạm tội để được vào tù

– Giảm bớt gánh nặng cho gia đình:

Hiện tại vấn đề già hoá dân số ở Nhật Bản đang trở thành một vấn đề bức thiết. Số người cao tuổi ngày càng gia tăng, trở thành gánh nặng lớn cho các thế hệ trẻ, áp lực về việc làm và kinh tế khiến họ không có thời gian chăm sóc cho người cao tuổi. Mà tính cách của người Nhật là không muốn làm phiền người khác, cho nên người cao tuổi lựa chọn cố tình phạm pháp để được vào tù sống.

– 40% người cao tuổi Nhật Bản đang sinh sống một mình – cảm giác cô đơn và lạc lỏng:

Cuộc điều tra năm 2017 của chính quyền thành phố Tokyo cho thấy hơn 50% tội phạm ăn trộm thường sống một mình hoặc hiếm khi trò chuyện cùng người thân. Họ cho biết cảm thấy đơn độc mỗi khi gặp khó khăn.

Những phạm nhân trong nhà tù Nhật Bản cho hay, họ không tới mức túng thiếu để phải đi ăn trộm, chỉ vì họ cảm thấy cô đơn và không biết phải đi đâu, làm gì nên họ lựa chọn vào tù. Trong đây họ được quan tâm, chăm sóc và có người cùng tâm sự. 

– Nhà nước chi nhiều ngân sách cho các nhà tù:

Chính Phủ Nhật Bản chi ra 1,7 vnd cho mức sinh hoạt của 1 phạm nhân trong 1 năm. Vì vậy cuộc sống trong nhà tù của mọi người khá là ổn.

Những người cao tuổi khi vào tù sẽ được chăm sóc và quan tâm đầy đủ, ngày 3 bữa, không phải sống cô đơn và khổ cực như bên ngoài xã hội.

– Người cao tuổi xem nhà tù trở thành nơi an dưỡng tuổi già khi cuối đời: 

Dù Nhà Nước đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm hỗ trợ, chăm sóc cho người cao tuổi. Tuy nhiên mức độ già hoá dân số tăng quá nhanh, vẫn không đủ để hỗ trợ tất cả. 

Phạm pháp để vào tù đã trở thành xu hướng của hầu hết người cao tuổi ở Nhật. Thậm chí có những người sau khi hết hạn ra tù, họ vẫn tiếp tục vi phạm để được trở lại nhà tù.

Có thể nói rằng, người già đã xem nhà tù như một nơi an dưỡng cuối đời của họ. 

5. Tình trạng đáng báo động cho xã hội Nhật Bản

– Nếu tình trạng những người cao tuổi phạm pháp không giảm đi thì các nhà tù ở Nhật Bản sẽ lâm vào tình trạng khủng hoảng vì quá tải.

– Chính Phủ Nhật phải mở rộng thêm diện tích các nhà tù, thuê thêm các quản giáo cũng như phải chi thêm nhiều khoản tiền cho các dịch vụ y tế để chăm sóc cho người cao tuổi.

– Quản giáo phải trở thành điều dưỡng viên để chăm sóc cho người cao tuổi trong tù.

Chính vì thực trạng cũng như hệ luỵ mà vấn đề già hoá dân số gây ra đã ảnh hưởng trầm trọng đến sự cân bằng trong xã hội. Nhật Bản cần phải nhanh chóng tìm ra biện pháp để giải quyết vấn đề này càng sớm càng tốt. 

Sức Ép Dân Số Già Ở Nhật Bản

Hãng tin Kyodo dẫn thông báo mới đây của Chính phủ Nhật Bản cho biết, tính đến tháng 9 này, số người từ 65 tuổi trở lên ở xứ sở mặt trời mọc đạt mức cao kỷ lục, 36,17 triệu, tăng 300.000 người so với cùng thời điểm năm ngoái. Còn theo số liệu của Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản, người cao tuổi hiện chiếm 28,7% tổng dân số nước này, tăng 0,3% so với năm ngoái. Trong số người trên 65 tuổi, có 15,73 triệu người là nam giới và 20,44 triệu người là nữ giới. Bộ này nhấn mạnh, tỷ lệ người cao tuổi trên tổng dân số của Nhật Bản đang ở mức cao nhất thế giới. Viện nghiên cứu Dân số và An sinh xã hội quốc gia Nhật Bản dự báo, đến năm 2040, số người cao tuổi ở nước này có thể chiếm tới 35,3% tổng dân số cả nước.

Người già ở Nhật Bản tập thể dục với tạ gỗ. Ảnh: Reuters

Già hóa dân số không phải là vấn đề mới mẻ tại xứ sở mặt trời mọc. Tuy nhiên, những số liệu trên cho thấy, Nhật Bản, nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới, đang đối mặt với tình trạng già hóa dân số ngày càng trầm trọng do tuổi thọ trung bình của người dân tăng cao cùng tỷ lệ sinh suy giảm. Dữ liệu của Chính phủ Nhật Bản hồi tháng 7 vừa qua chỉ ra rằng, trung bình một người phụ nữ ở nước này sống tới 87,45 năm, còn tuổi thọ trung bình của đàn ông Nhật là 81,41 tuổi. Gần đây, Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản cho biết, số người từ 100 tuổi trở lên ở xứ sở mặt trời mọc đã lần đầu tiên vượt ngưỡng 80.000 người kể từ khi nước này bắt đầu thống kê vào năm 1963. Các chuyên gia về sức khỏe nhận định, người Nhật Bản tuổi thọ cao là do họ có chế độ ăn uống lành mạnh, chăm luyện tập thể dục-thể thao cùng môi trường sống trong lành. Tuy nhiên, trong khi tuổi thọ của người dân ngày càng tăng, Nhật Bản phải chứng kiến tỷ lệ sinh giảm mạnh. Kết quả điều tra của Bộ Nội vụ Nhật Bản cho thấy số trẻ em nước này sinh ra trong năm 2019 là 866.908 trẻ. Đây là mức thấp nhất và là lần đầu tiên trong lịch sử thống kê, số trẻ em sinh ra ở Nhật Bản giảm xuống dưới mức 900.000 trẻ. Sự chênh lệch giữa tuổi thọ cao và tỷ lệ sinh thấp khiến cho cơ cấu dân số ở Nhật Bản mất cân bằng.

Tốc độ già hóa nhanh chóng khiến Nhật Bản rơi vào tình trạng thiếu hụt lao động nghiêm trọng. Để tháo gỡ vấn đề nan giải này, Tokyo đang coi nâng tuổi nghỉ hưu là một trong những giải pháp tối ưu. Chính phủ Nhật Bản đã thông qua dự luật kêu gọi các doanh nghiệp cho phép người lao động làm việc đến 70 tuổi. Dự luật này có hiệu lực từ tháng 4-2021. Ngoài ra, thu hút lao động nước ngoài cũng là một biện pháp giúp Nhật Bản giải quyết tình trạng khan hiếm lao động ở một số ngành nghề cần nhiều sức khỏe mà người cao tuổi không đáp ứng được.

Bên cạnh việc ứng phó với thách thức thiếu hụt lao động, trước sức ép từ dân số già, Chính phủ Nhật Bản đang thúc đẩy tăng tỷ lệ sinh đẻ tại nước này thông qua chương trình trợ cấp để khuyến khích giới trẻ ở Nhật Bản kết hôn và sinh con. Từ tháng 4-2021, các cặp đôi mới cưới ở Nhật Bản có thể được nhận khoản trợ cấp lên tới 600.000 yên (5.700USD) để trang trải tiền thuê nhà và các chi phí khác khi bắt đầu cuộc sống mới. Điều kiện để nhận trợ cấp là cả chồng và vợ đều dưới 40 tuổi tại thời điểm đăng ký kết hôn và có tổng thu nhập dưới 5,4 triệu yên. Theo khảo sát do Viện nghiên cứu Dân số và An sinh xã hội quốc gia Nhật Bản thực hiện, 17,8% phụ nữ và 29,1% nam giới Nhật Bản độc thân từ 25 đến 34 tuổi cho biết lý do họ chưa kết hôn là vì tài chính. Trong khi đó, tài chính cũng là trở ngại lớn nhất khiến các cặp vợ chồng ngại sinh con dù Chính phủ Nhật Bản đã miễn học phí đối với giáo dục mầm non từ năm 2019. “Tài chính chắc chắn là một mối bận tâm hàng đầu đối với các cặp vợ chồng. Nhiều cặp vợ chồng dừng lại sau khi có một đứa con vì họ không đủ khả năng nuôi thêm một đứa nữa”, cô Emiko ở thị trấn Nozawa Onsen, tỉnh Nagano của Nhật Bản cho biết.

Trên thực tế, nỗ lực ứng phó với tình trạng già hóa dân số của Nhật Bản đang gặp rào cản lớn do diễn biến của đại dịch Covid-19. Theo tiến sĩ Hideo Kumano của Viện nghiên cứu Dai-ichi Life, đại dịch Covid-19 gây thêm trở ngại cho các nhà hoạch định chính sách trong việc khuyến khích người dân xây dựng gia đình. Ông Hideo Kumano nhận xét: “Việc khả năng tài chính bị hạn chế do mất việc làm sẽ khiến gia tăng số lượng người trẻ tuổi tránh kết hôn và sinh con trong thời gian tới”.

LÂM ANH

Bài Toán “Chăm Sóc Người Cao Tuổi, Thích Ứng Với Già Hóa Dân Số”

Việt Nam hiện có hơn 10 triệu người cao tuổi, dự báo đến năm 2030, nước ta sẽ có gần 19 triệu và năm 2050 là hơn 28 triệu người cao tuổi. Sự chuyển đổi nhân khẩu học này mang đến những cơ hội và cả những thách thức lớn, tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội của quốc gia và từng địa phương, cộng đồng và mỗi gia đình.

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, với đời sống kinh tế – xã hội và hệ thống y tế phát triển, tuổi thọ của người Việt Nam đã tăng cao, với mức trung bình là 75,6 tuổi, đứng thứ hai trong khu vực và đứng thứ 56 trên thế giới. Tuy nhiên, gánh nặng bệnh tật của người Việt cũng lớn, thời gian đau ốm trong cả cuộc đời khoảng 15,3 năm. Hiện nay, chúng ta đang phải đối diện với gánh nặng bệnh tật kép, trung bình một người cao tuổi Việt Nam mắc 3 bệnh với khoảng 95% người cao tuổi có bệnh.

Bên cạnh những khó khăn trong chăm sóc sức khỏe thì một khó khăn lớn nhất có thể thấy được là đời sống vật chất của người cao tuổi Việt Nam còn thấp. Có tới 68% người cao tuổi Việt Nam chủ yếu sống ở nông thôn, là nông dân và làm nông nghiệp. 72,3% số người cao tuổi sống cùng với con cháu, trong khi xu hướng quy mô gia đình Việt Nam đang chuyển dần từ gia đình truyền thống sang gia đình hạt nhân. Tình trạng người cao tuổi sống không có vợ/chồng chiếm tỷ lệ cao, số cụ bà cô đơn cao gấp 5,44 lần so với cụ ông; phụ nữ cao tuổi sống ly hôn, ly thân gấp 2,2 lần so với nam giới. Với sức khỏe của người cao tuổi còn nhiều hạn chế, thì việc phải sống một mình là một điều rất bất lợi với người cao tuổi, bởi gia đình luôn là chỗ dựa cơ bản cho mỗi thành viên khi về già.

Dân số già sẽ đi đôi với việc chi tiêu nhiều hơn cho chăm sóc sức khỏe, hưu trí, trợ cấp, an sinh xã hội… trong khi thời gian để Việt Nam chuẩn bị thích ứng với dân số già ngắn hơn nhiều so với các nước khác, dẫn đến mức tích lũy của quốc gia không đáp ứng kịp nhu cầu của xã hội. Bên cạnh đó, đa phần người cao tuổi không có tích lũy vật chất, 70% vẫn phải làm việc kiếm sống, trong khi người cao tuổi rất dễ bị tổn thương với những rủi ro kinh tế, xã hội khi con cái không có việc làm và cuộc sống ổn định. cơ cấu và mô hình bệnh tật người cao tuổi nước ta hiện nay đang thay đổi theo xu hướng bệnh không lây nhiễm, các bệnh mãn tính  như  các bệnh về xương khớp, hô hấp, tim mạch, cao huyết áp, đột quỵ, tiểu đường, rối loạn chuyển hóa…tăng nhanh, dẫn đến chi phí chăm sóc y tế rất cao và tất yếu tạo thêm áp lực quá tải cho các bệnh viện vốn chưa được giải quyết dứt điểm. Những vấn đề này đòi hỏi cần phải xây dựng những chính sách phù hợp cho người cao tuổi để đối phó với việc dân số già hóa nhanh hơn dự báo.

Các thách thức

Chia sẻ về vấn đề này, BS Mai Xuân Phương, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông giáo dục, Tổng cục DS-KHHGĐ cho biết, nếu không có các biện pháp ứng phó với già hóa dân số nêu trên, chúng ta sẽ phải đối mặt với những lo lắng sau:

– Tuổi thọ khỏe mạnh của người Việt sẽ càng ngắn lại bởi qua khảo sát trung bình mỗi người cao tuổi nước ta phải chịu 14 – 15 năm bệnh tật trong cuộc sống của mình. 95% người cao tuổi có bệnh, chủ yếu là các bệnh mãn tính như tim mạch, huyết áp, đột quỵ, ung thư, đái tháo đường… Trung bình 1 người cao tuổi mắc 3 bệnh trở lên. Con số trên sẽ ngày càng gia tăng nếu như không có biện pháp kịp thời.

– Bên cạnh đó, tỉ lệ người cao tuổi sống cô đơn sẽ ngày càng lớn chủ yếu là các cụ bà. Điều kiện sống phần lớn của người cao tuổi đang hết sức khó khăn lại càng khó khăn hơn. Bởi vì chủ yếu họ sống dựa vào sự chăm sóc của xã hội, con cháu hoặc tự làm việc mà không có hỗ trợ. Với 30% người cao tuổi có lương hưu hoặc trợ cấp từ ngân sách nhà nước và số còn lại phụ thuộc vào con cháu và khả năng lao động của bản thân. 30% không có BHYT, quỹ hưu trí, tử tuất của BHXH Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức rất lớn. Con số này sẽ tiếp tục gia tăng nếu như không có những giải pháp tích cực.

– Thêm nữa, hệ thống chăm sóc sức khỏe người cao tuổi chưa bắt kịp với sự biến đổi nhân khẩu học tại tuyến trung ương mới chỉ có 1 bệnh viện lão khoa, các tuyến tỉnh, huyện và chăm sóc sức khỏe ban đầu hầu như chưa bắt kịp với xu hướng này. Các nhà khoa học đã tính toán nếu như chăm sóc y tế cho 1 đứa trẻ cần 1 đồng thì chăm sóc y tế cho người cao tuổi cần tới 8 đồng. Các chuyên gia cũng đã khuyến cáo VN cần chuẩn bị tiềm lực kinh tế phát triển an sinh xã hội để mang lại cuộc sống hạnh phúc cho người cao tuổi. Đồng thời phải có chiến lược dài hạn làm chậm thời gian chuyển đổi từ già hóa dân số sang dân số già.

Các giải pháp

Già hóa dân số tác động sâu sắc tới mọi khía cạnh của cá nhân, cộng đồng, quốc gia. Điều này đòi hỏi hệ thống an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cần được tiến hành toàn diện. Để làm được điều đó, không chỉ ngành DS-KHHGĐ mà cần có sự vào cuộc của các Bộ, ngành, đoàn thể, nhằm thích ứng với một xã hội già hóa dân số, đáp ứng tốt nhất nhu cầu chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.

Sự chuyển đổi nhân khẩu học do “già hóa” dân số đang và sẽ tạo ra những tác động rất lớn đến mọi hoạt động của đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc như sự tăng trưởng kinh tế; lao động việc làm; chăm sóc y tế; an sinh xã hội; sự chuyển dịch các dòng di cư; thiết kế hạ tầng. Do đó, để xây dựng xã hội thích ứng với “già hóa” dân số, trước hết cần thay đổi nhận thức của người dân về người cao tuổi, nghĩa là người cao tuổi không phải là gánh nặng mà một nguồn lực của gia đình, cộng đồng. Theo đó, “già hóa” dân số vừa là thách thức nhưng cũng đem lại những cơ hội không nhỏ đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.

BS Mai Xuân Phương, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông giáo dục, Tổng cục DS-KHHGĐ cho rằng với những lo lắng trên, nhiệm vụ quan trọng tới đây, cần phải thực hiện 6 nhiệm vụ trọng yếu sau:

– Duy trì vững chắc mức sinh thay thế.

– Giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh

– Phát huy lợi thế cơ cấu dân số vàng

– Thích ứng với quá trình già hóa dân số

– Phân bổ quy mô dân số hợp lý

– Nâng cao chất lượng dân số

Đó chính là góp phần thực hiện tốt chính sách dân số trong tình hình mới nói chung và chăm sóc người cao tuổi tốt hơn nói riêng.

Hồng Vân

ad syt ad

Ứng Phó Với Thách Thức Già Hóa Dân Số: Tuổi Thọ Cao

Trong những năm qua, do làm tốt công tác giảm sinh nên số lượng và tỷ lệ trẻ em ngày càng giảm. Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội và việc chăm sóc sức khỏe tốt hơn nên tỷ lệ và số lượng người cao tuổi (NCT) tăng lên.

Tuổi thọ bình quân đầu người (hay nói cách khác là kỳ vọng sống tính từ lúc sinh của Việt Nam – PV) vào năm 2014 đạt 73,2 tuổi. Đặc biệt là số người có tuổi thọ rất cao càng tăng. Tuổi thọ trung bình của Việt Nam đã tương đương với các nước phát triển trên thế giới. Có thể nói, đây chính là thành tựu đáng tự hào của chúng ta trong những năm qua.

Sau cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009, Tổng cục Thống kê đã dự báo: Vào năm 2017, Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn già hóa dân số, tức là tỷ lệ người trên 65 tuổi đạt 7%. Nhưng chỉ sau 2 năm, tỷ lệ NCT ở Việt Nam (trên 65 tuổi) đã đạt 7%, tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên đạt 10%, Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số. Số NCT nước ta sẽ tăng rất nhanh trong thời gian tới. Nếu 2012, cứ khoảng 11 người dân mới có 1 NCT thì ước tính vào năm 2029, cứ 6 người dân sẽ có 1 NCT và dự báo năm 2049 sẽ là 4 người dân có 1 NCT. Theo đó, thời gian quá độ từ già hóa dân số sang dân số già (thời gian để tỷ lệ người trên 65 tuổi tăng từ 7% lên 14%) của Việt Nam chỉ khoảng 18 – 20 năm, ngắn hơn nhiều so với các quốc gia đi trước như: Pháp 115 năm, Thụy Điển 85 năm, Mỹ 70 năm, Nhật Bản 26 năm. Như vậy, có thể nói Việt Nam sẽ là một trong những nước có tốc độ già hóa tăng nhanh nhất ở khu vực châu Á.

Theo quy luật tự nhiên, khi tuổi càng cao thì sức khỏe càng suy giảm. Khi tỷ trọng NCT ngày càng tăng, đặc biệt là tốc độ tăng nhanh ở nhóm dân số cao tuổi nhất (trên 80 tuổi và số lượng các cụ thọ từ 100 tuổi trở lên), đã đặt ra nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho NCT ngày càng lớn.

Những bệnh thường gặp nhất ở NCT là xương khớp, huyết áp, các bệnh về mắt và suy giảm trí nhớ. Tình trạng bệnh tật đã ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm lý, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và sự hòa nhập cộng đồng của người cao tuổi. Đa số NCT nước ta chưa có thói quen khám bệnh định kỳ, vì vậy khi phát hiện bệnh thường ở giai đoạn muộn khiến việc chữa trị rất khó khăn. Trong khi số NCT đang tăng lên nhanh chóng và cần được chăm sóc sức khỏe cao thì hệ thống chăm sóc sức khỏe cho NCT của nước ta chưa theo kịp với sự biến đổi này. Tại tuyến Trung ương, chỉ có một bệnh viện lão khoa, các tuyến tỉnh, huyện và chăm sóc sức khỏe ban đầu trên toàn quốc chưa kịp đầu tư, chú trọng xây dựng hệ thống bao gồm cả nhân lực, vật lực, tài lực cho chăm sóc sức khỏe NCT.

Trẻ cậy cha, già cậy ai?

Theo Kết quả điều tra Quốc gia về NCT Việt Nam, chỉ có 4,8% NCT có sức khỏe tốt và rất tốt, 65,4% là yếu và rất yếu. Trong đó, có 26,1% NCT không có bất cứ loại bảo hiểm y tế nào, trên 51% NCT không đủ tiền chi trả cho việc điều trị dẫn đến không điều trị.

Không chỉ về vấn đề sức khỏe, đời sống vật chất của NCT cũng gặp rất nhiều khó khăn. Hiện có khoảng 3 triệu NCT (chiếm 39% người cao tuổi) được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội, chính sách đối với người có công và trợ cấp xã hội. Như vậy, còn tới 61% dân số cao tuổi sống dựa hoàn toàn vào kinh tế của chính mình và con cháu.

Trong khi đó, xu hướng mô hình gia đình ở Việt Nam đang thay đổi từ gia đình truyền thống sang gia đình hạt nhân. Con cái ngày càng có xu hướng sống độc lập với cha mẹ. Việc phải sống một mình là điều rất bất lợi đối với NCT, bởi gia đình luôn là chỗ dựa cả về tinh thần và vật chất rất quan trọng đối với NCT. Ngày càng có nhiều NCT sống góa vợ (chồng), số lượng cụ bà góa chồng cao gần 5,5 lần số cụ ông góa vợ. Số cụ bà sống ly hôn, ly thân cũng cao hơn số cụ ông sống ly hôn, ly thân 2,2 lần.

Mặc dù, Nhà nước đã có nhiều chính sách về an sinh xã hội dành cho NCT như chính sách về BHXH, BHYT và trợ cấp xã hội… nhưng hệ thống chính sách an sinh xã hội này mới chỉ hỗ trợ cho một bộ phận nhỏ của NCT. Để ứng phó với một xã hội già hóa dân số, đảm bảo chế độ an sinh xã hội cho NCT cần có sự vào cuộc, chung tay của cả hệ thống chính trị và toàn thể cộng đồng.

Theo các chuyên gia về dân số, để giữ vững, ổn định quy mô dân số, thích ứng với già hóa dân số, cần đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Toàn xã hội chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi”, tăng ngân sách cho Chương trình mục tiêu Quốc gia DS-KHHGĐ. Điều đó đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách cần có tầm nhìn chiến lược nhằm xây dựng các chính sách an sinh xã hội phù hợp với các chuyển đổi về cơ cấu dân số nước ta, góp phần phát triển bền vững quốc gia từ góc độ dân số.

Những con số về NCT ở Việt Nam

– 70% NCT không có tích lũy vật chất.

– 62,3% NCT sống khó khăn, thiếu thốn.

– 27,6% NCT cho rằng kinh tế đang kém đi.

– 18% NCT sống trong hộ nghèo (tuổi càng cao, càng nghèo).

– Hơn 30% NCT sống trong nhà kiên cố.

– Gần 10% NCT sống trong nhà tạm.

– 35% NCT cảm thấy thất vọng.

– 33% NCT không biết chia sẻ vui, buồn cùng ai.

– 22% NCT cảm thấy rất cô đơn.

(Nguồn: Ủy ban Quốc gia về NCT Việt Nam) Thời gian đau ốm chiếm 11% tổng số tuổi thọ

Ủy ban Quốc gia về NCT Việt Nam cho biết, độ tuổi trung bình của người Việt Nam hiện nay là 74,3 tuổi. Tuy nhiên, tuổi thọ sống khỏe mạnh vẫn thấp. Số năm đau ốm trung bình của một người Việt Nam là 7,3 năm (khoảng 11% tổng số tuổi thọ). Bên cạnh đó, đời sống vật chất của NCT còn gặp rất nhiều khó khăn. Chỉ có 35,6% NCT ở thành phố và 21,9% NCT ở nông thôn có lương hưu hoặc trợ cấp từ Nhà nước. Có tới 70 – 80% NCT phải tự kiếm sống hoặc nhờ vào sự nuôi dưỡng và chăm sóc của con cái.

Hà Thư/Báo Gia đình & Xã hội

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hậu Quả Của Việc Già Hoá Dân Số Ở Nhật Bản: Người Cao Tuổi Cố Tình Phạm Tội Để Được An Dưỡng Tuổi Già Trong Nhà Tù trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!