Đề Xuất 2/2023 # Giảng Dạy Các Môn Khoa Học Xã Hội Trong Thời Đại Văn Hóa Đại Chúng # Top 7 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Giảng Dạy Các Môn Khoa Học Xã Hội Trong Thời Đại Văn Hóa Đại Chúng # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giảng Dạy Các Môn Khoa Học Xã Hội Trong Thời Đại Văn Hóa Đại Chúng mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

GIẢNG DẠY CÁC MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI Ở PHỔ THÔNG TRONG THỜI ĐẠI CỦA VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG

PGS.TS. PHAN THỊ THU HIỀNĐHKHXH&NV Tp HCMThời hội nhập toàn cầuThời đại của văn hóa đại chúng 1. Văn hóa đại chúng2. Thời đại văn hóa đại chúng và ảnh hưởng đối với giảng dạy các môn khoa học xã hội ở trường phổ thông 3. Phương hướng giảng dạy các môn khoa học xã hội ở trường phổ thông trong thời đại của văn hóa đại chúng 1. Văn hóa đại chúng

1.1. Khái niệm văn hóa đại chúng1.2. Quá trình hình thành và phát triển văn hóa đại chúng1.3. Đặc điểm và vai trò của văn hóa đại chúng1.1. Khái niệm văn hóa đại chúng

(1) Văn hóa đại chúng được ưa thích rộng rãi bởi nhiều người. Định lượng: số đầu sách, số album / đĩa bán ra (best-seller), số người tham dự những sự kiện ca nhạc, thể thao, lễ hội…(2) Văn hóa đại chúng là văn hóa thấp hơn so với văn hóa tinh hoa (văn hóa cao)Văn hóa cao (High culture) : những hoạt động văn hóa thường là lĩnh vực của giới tinh hoa hay giới thượng lưu (ballet, opera, great literature, fine art…). Giá trị văn hóa của chúng được xem như siêu việt và vĩnh cửu. Các thành tựu văn hóa cao được bảo vệ, nghiên cứu trong các thư viện, bảo tàng, nhà hát, học viện…

(4) Văn hóa đại chúng bao gồm tất cả những tiểu văn hóa mà những nhóm xã hội tạo nên cho chính họ (ngay cả những đối tượng không được cái chính thống / cái thống lĩnh chấp nhận) Văn hóa đại chúng và Văn hóa thống lĩnhDominant culture / Mainstream culture (Văn hóa thống lĩnh, Văn hóa dòng chủ lưu)Marginal cultures (Những nền văn hóa bên rìa, ngoài lề)1.1. Khái niệm văn hóa đại chúnga, Văn hóa đại chúng và Văn hóa tinh hoab, Văn hóa đại chúng và Công nghiệp văn hóac, Văn hóa đại chúng và Văn hóa thống lĩnh Định nghĩa

Barry Brummett 1994: “Văn hóa đại chúng đề cập những hệ thống và những sản phẩm văn hóa mà phần đông nhân loại chia sẻ và biết đến”

A.A.Radugin 1997: “Văn hóa đại chúng laø nhöõng saûn phaåm văn hóa ñöôïc saûn xuaát haøng ngaøy vôùi khoái löôïng lôùn, ñöôïc giôùi thieäu cho coâng chuùng roäng raõi nhaát theo caùc keânh truyeàn thoâng ñaïi chuùng khaùc nhau, ñöôïc tieâu thuï bôûi taát caû moïi ngöôøi, khoâng phuï thuoäc vaøo ñòa ñieåm vaø ñaát nöôùc sinh soáng”.

Brian Flagel: “Pop culture là tất cả những gì phổ biến, thông dụng xung quanh chúng ta hàng ngày, khi bạn đi dạo trên đường hoặc ở trong phòng: xe hơi, âm nhạc, phim ảnh, truyền hình, sách báo, trang phục. Những cái là chung, là phổ biến trong những nước khác nhau: những giải trí chung (phim, trò chơi truyền hình,.),những thức ăn chung ( fast food Mc Donald, Coca Cola.), những môn thể thao chung (bóng đá), âm nhạc chung (pop, rock.), thời trang chung (Jean, Nike.).”

1.2. Quá trình hình thành, phát triển Văn hóa đại chúng

(1) Từ thập niên 90 TK XIX đến thập niên 40 TK XX: Thời kỳ manh nha, hình thành văn hóa đại chúng (2) Từ thập niên 50 đến thập niên 80 TK XX: Thời kỳ phát triển văn hóa đại chúng (chủ yếu ở Hoa Kỳ)(3) Từ thập niên 80 TK XX đến nay: Thời kỳ mở rộng của văn hóa đại chúng (qua các khu vực khác, đặc biệt là châu Á)

(1) Từ thập niên 90 TK XIX đến thập niên 40 TK XX: Thời kỳ manh nha, hình thành Văn hóa đại chúng

Văn hóa ñaïi chuùng vôùi yù nghóa ñích thöïc ra ñôøi ñaàu tieân ôû Myõ vaøo cuoái tk XIX ñaàu tk XX Báo, tạp chí phổ thông (popular newspaper and magazines), tiểu thuyết rẻ tiền (dime novels) cho đông đảo quần chúng

Những năm 1880 đến những năm 1940 Từ đầu những năm 1920, nhạc jazz (sau đó là nhạc swing) trở thành âm nhạc đặc thù của giới trẻ khắp Hoa Kỳ. Một hình thức thể hiện công cộng, sôi động của khao khát tự do, khao khát tình dục.Máy hát (được Emile Bertiner phát minh 1887), đài phát thanh (Guglielmo Marconi với radio transmitter đầu tiên năm 1888), băng ghi âm, Điện ảnh (bắt đầu với Hannibal Goodwin 1889, phim màn ảnh rộng với Thomas Edison 1896, phim câm phổ biến những năm 1910, phim nói từ 1927.

(2) Từ thập niên 50 đến thập niên 80 TK XX: Thời kỳ phát triển VHĐC (chủ yếu ở Hoa Kỳ)

Những thập niên 1970-1990Pop art là 1 trường phái nghệ thuật thị giác xuất hiện giữa thập niên 50 ở Anh, cuối thập niên này ở Mỹ, thực sự phát triển trong thập niên 60, 70.Richard Hamilton (ngu?i Anh, sinh 1922)- đã khái quát những quan điểm triết-m? cơ bản của Pop Art :Tính đại chúngTính nhất thời, hiệu quả sử dụng cao, giá rẻTính trẻ trung, phóng khoáng, táo bạo, tươi mát, sinh động, dí dỏm, gợi cảm, quyến rũTính kinh doanh, thương mại

(1) Tính đại chúng Pop art lấy đề tài, chất liệu từ đại chúng, từ những vật dụng thông thường hàng ngày

(1) Tính đại chúng Pop art mở cho sự tham gia của công chúng – Nghệ thuật ứng tác (happening) mang tính ngẫu nhiên, tuỳ hứng, dựa trên tác động qua lại giữa người sáng tạo và người thưởng thức (“đồng sáng tạo”)

(2) Tính nhất thời, hiệu quả sử dụng cao, giá rẻ *Tính nhất thời: giải pháp cấp kỳ, mẫu mã sản phẩm, hình thức thể hiện thay đổi theo mốt và nhu cầu của số đông *Hiệu quả sử dụng: nghệ thuật nhưng hữu ích trong tiêu dùng *Giá rẻ: chi phí SX thấp, giá cả phải chăng, phục vụ số đông

(3) Tính trẻ trung, phóng khoáng, táo bạo, gợi cảm, dí dỏm, hài hước Ý tưởng táo bạo; bố cục ngẫu hứng; màu sắc hấp dẫn, lôi cuốn, có thể sặc sỡ, tương phản mạnh mẽ; tạo ấn tượng ngộ nghĩnh hoặc gợi cảm; nhấn mạnh những biểu tượng tình yêu, sự thoả mãn, tiện nghi. Tìm kiếm những vật liệu mới Khứơc từ những quy tắc (xã hội & nghệ thuật) truyền thống cứng nhắc, lạnh lùng

(4) Tính kinh doanh, thương mại Andy Warhol: Đối với tôi, làm ra tiền là một nghệ thuật và kinh doanh giỏi là thứ nghệ thuật cao nhất”

Những thập niên 1970-1990Punk rock dữ dội, mạnh mẽ. Giới thiệu những xu hướng thời trang (chains, dog collars, army boots…), những phong cách tóc (từ cạo trọc đến wild-looking)Từ 1978, Disco (sôi động và sexy) Những năm 80 với Michael Jackson và Madonna thách thức những quan điểm văn hóa giới truyền thống.

(3) Từ thập niên 80 TK XX đến nay: Thời kỳ mở rộng của VHĐC (qua các khu vực khác, đặc biệt là châu Á)

Computers ngày càng nhanh hơn, mạnh hơn.Cuối những năm 1980, Internet. 1991, World Wide Web đơn giản hóa đáng kể sự sử dụng Internet. Trong lịch sử giao tiếp / truyền thông, Internet đã giúp cho con người tương tác với nhau hiệu quả, nhanh chóng, tiện lợi, bất kể khoảng cách giữa họ, hơn tất cả mọi công nghệ đã có.

1990, kỹ thuật search trên Internet.1994, café Internet đầu tiên. 1996, Google.2001, dịch vụ nhắn tin2002, công nghệ băng thông rộng được phát triển ở Hàn Quốc.Giữa những năm 1980, Đĩa compact thay thế băng nhựa vinyl.Công nghệ nén, MP3.

Văn hóa đại chúng Trung QuốcVHĐC Ấn Độ– VHĐC Nhật Bản– VHĐC Đài LoanVHĐC Hồng KôngVHĐC Hàn Quốc…

Jennifer Philips & Veronica Washburn:(1) Media (Truyền thông)(2) Big companies (Những công ty lớn)(3) Influential people (Những nhân vật nhiều ảnh hưởng)(4) The teens (Tuổi teen)2.1. Đặc điểm và vai trò của văn hóa đại chúng

Đặc điểmJudith N.Martin & Thomas K.Nakayama: a, Văn hóa đại chúng có tính đại chúngb, Văn hóa đại chúng gắn với công nghiệp văn hóa và có tính thương mại c, Văn hóa đại chúng hiện hữu hàng ngày và khắp mọi nơi Jack Nachbar & Kevin Lause 1992: “VHĐC vây quanh chúng ta như nước quanh con cá, như môi trường trong suốt hệ trọng cho chúng ta sống. Con cá nhìn qua (look through) nước hơn là nhìn vào (look at) nước và chúng ta cũng thường xem nhẹ sự hiện hữu toàn khắp của VHĐC vì nó là một phần quen thuộc của môi trường hàng ngày của chúng ta”.

Vai trò của Văn hóa đại chúng

Văn hóa đại chúng có thể kiến tạo hình tượng (image) / biểu tượng (symbol). Đến lượt mình, hình tượng, biểu tượng đó có thể tạo nên những khuôn mẫu (stereotypes). VHĐC có thể tạo ra những không gian văn hóa, diễn đàn văn hóa

2. Thời đại của văn hóa đại chúng và ảnh hưởng đối với giảng dạy khoa học xã hội ở trường phổ thông

2.1. Học trò phổ thông với văn hóa đại chúng“Teenager”, Internet, “Mature”IQ (Intelligence) và EQ (Emotion). Tương liên với Thành công và Hạnh phúc. Kiến thức, Phương pháp, Thái độ. (Kỹ năng “mềm”, kỹ năng xã hội).

2.2. Giáo dục phổ thông với Văn hóa đại chúngThời đại kinh tế tri thức, Thời đại của thông tinHọc tập: chủ động, sáng tạo. Học tập suốt đời. Xã hội học tập Mục tiêu học tậpBáo cáo năm 1996 của Uỷ ban quốc tế về Giáo dục cho thế kỷ XXI do Jaccque Delor làm Chủ tịch đã nêu bật tầm nhìn về 4 mục tiêu của giáo dục hiện đại bao gồm: (1) Học để biết(2) Học để làm(3) Học để tự khẳng định mình(4) Học để cùng chung sống.

Hội nhập toàn cầu – Bản sắc dân tộc Con người Việt Nam – “công dân quốc tế”New Horizons for Learning (Những chân trời học tập mới): “Những chân trời mới cho học tập luôn có một nền tảng đa văn hóa và quốc tế và chúng ta tiếp tục học tập nhiều từ sự giao tiếp của chúng ta với những nước khác…”. Camille A. Allen và George P. Antone: “The Merge of Global Awareness and Classroom Culture: Helping Future Teachers Meet New Challenges” (Sự nảy sinh ý thức toàn cầu và văn hóa lớp học: giúp các giáo viên tương lai ứng phó được những thách thức mới): Các trường học phải “chuẩn bị cho học sinh, sinh viên đáp ứng những đòi hỏi của quá trình toàn cầu hóa và sự tương phụ thuộc ngày càng tăng giữa các dân tộc.” Thuận lợi và Khó khănCơ hội và Thách thứcNhững trang web độc hại Chủ nghĩa đế quốc văn hóaPHÁT TRIỂN NHỮNG THIẾT CHẾ VĂN HỌC TRONG THỜI ĐẠI VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG:KINH NGHIỆM HÀN QUỐC GỢI Ý CHO VIỆT NAM(trường hợp Bảo tàng văn học)

Chú ý tới sáng tác (writing) – phê bình (criticism) – dịch thuật (translation), trong đó, lại chủ yếu tập trung khâu tác phẩm (work) hơn là tổng thể quá trình hoạt động (activity). Giới hạn văn học trong hình thức của văn bản (text), ngôn từ (verbal), ít chú ý những chiều kích thị giác (visual), thính giác (auditory), và những chiều kích tổng hợp khác. Chỉ xem xét văn học trong phạm trù của văn hóa tinh hoa (elite culture), văn hóa cao (high culture), với những giá trị siêu việt, vĩnh cửu, thuộc về giới chuyên nghiệp (professional) gắn với những tổ chức nghề như Hội nhà văn, những thể chế hàn lâm (academic) như trường đại học, viện nghiên cứu… Trong khi đó, thực ra, văn học ngày hôm nay còn ở giữa và không tách biệt với văn hóa đại chúng (popular culture). 6 / 2013, academic tour Seoul, Namwon, Kyungju, Busan, AndongỞ Hàn Quốcđất nước có nền kinh tế đứng hàng thứ bảy trên thế giới, “đất nước internet hàng đầu thế giới”đất nước của “Hàn lưu” (Korean Wave, làn sóng văn hóa Hàn Quốc) đang lan rộng ở Châu Ávăn học vẫn được đặc biệt coi trọng và quan tâm phát triển mạnh mẽ, hiệu quả. 1. ĐỔI MỚI CÁCH THỨC TỔ CHỨC, PHÁT TRIỂN NHỮNG THIẾT CHẾ VĂN HỌC TRONG THỜI ĐẠI CỦA VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG

2. ĐỔI MỚI NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ ĐỐI VỚI NHỮNG THIẾT CHẾ VĂN HỌC TRONG THỜI ĐẠI VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG

1. ĐỔI MỚI CÁCH THỨC TỔ CHỨC, PHÁT TRIỂN NHỮNG THIẾT CHẾ VĂN HỌC TRONG THỜI ĐẠI CỦA VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG

1.1. Quá trình hình thành, phát triển các bảo tàng văn học ở Hàn Quốc 1.2. Cách thức tổ chức, vận hành các Bảo tàng văn học ở Hàn Quốc

1.1. Quá trình hình thành, phát triển các bảo tàng văn học ở Hàn Quốc

1992: Bảo tàng văn học Trinh thám, tại Busan [1902: Bảo tàng văn học Victor Huygo (Pháp), 1962: Bảo tàng văn học cận đại Nhật Bản].

Bảo tàng mặt nạ Hahoe (Andong) Kịch múa mặt nạ – di sản VHPVT quan trọng (số 69), một trong 10 biểu tượng “đặc trưng văn hóa Hàn Quốc” (Koreaness). Mặt nạ Hahoe – quốc bảo (số 121)

Kịch múa mặt nạ Hahoe tồn tại và phát triển trong thể nguyên hợp của văn học dân gian – nghệ thuật dân gian – tín ngưỡng, phong tục, lễ hội dân gian… Dựa vào sức mạnh của tính nguyên hợp đó, Bảo tàng mặt nạ thế giới Hahoe không tách rời tổng thể làng Hahoe đã bảo tồn và phát huy hiệu quả kịch mặt nạ Hahoe như một di sản văn học – văn hóa dân gian quan trọng của Hàn Quốc.

BTVH kết hợp cùng công viên văn học trở thành nơi quy tụ, tổ chức những “lễ hội văn học”, “tiệc văn học”, từ đó hình thành những tour du lịch văn học.

Tour văn học và trị liệuTour văn học và âm nhạc, văn học và kịchTour văn học cho thanh thiếu nhiTour văn học cho gia đình đa văn hóaTour văn học cho người tàn tật Tour thực tế văn học cho SV, NCSTour sáng tác văn học cho nhà văn, nhà thơ Tour văn học cho người nước ngoài…Loại tour văn học phổ biến nhất là tour gắn với Bảo tàng văn học như hạt nhân của Làng văn học – văn hóa – sinh thái.

tour Lễ hội hoa kiều mạch tháng 9 gắn với tác phẩm nổi tiếng Khi hoa kiều mạch nở của Lee Hyo Seok(1907-1942) “những cánh đồng ngập tràn hoa kiều mạch trắng xóa li ti tựa như những bông hoa muối trắng mà tạo hóa đã vãi xuống trần gian’

2. ĐỔI MỚI NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ ĐỐI VỚI NHỮNG THIẾT CHẾ VĂN HỌC TRONG THỜI ĐẠI VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG

2.1. Nhận thức “sức mạnh mềm” của văn học đối với phát triển và đi tới toàn cầu trong thời đại của văn hóa đại chúng2.2. Sử dụng sức mạnh văn hóa đại chúng xúc tiến và quảng bá văn học2.3. Phối hợp giữa các cấp, các ngành trong trong xúc tiến, quảng bá văn học – văn hóa đại chúng

2.1. Nhận thức “sức mạnh mềm” của văn học đối với phát triển và đi tới toàn cầu trong thời đại của văn hóa đại chúng

Từ năm 2000 trở đi, chiến lược “đại chúng hóa văn học” và “phát triển văn hóa du lịch vùng”Trong chiến lược phát triển quốc gia, Tổng thống Park Geun-Hye nhấn mạnh “sự phục hưng văn hóa”, “sự nở rộ văn hóa”, xúc tiến “nền kinh tế sáng tạo” (Creative Economy) cho Hàn Quốc tiến triển mạnh mẽ (K-move).“Kinh tế sáng tạo” “là tột đỉnh của sự hội tụ khoa học, thông tin, truyền thông, công nghệ. Đó là sự hội tụ của công nghiệp và văn hóa để tạo ra giá trị mới, và phát triển năng lực”.Trong những đường băng cho K-move, cho Hàn Quốc phát triển và đi tới toàn cầu, chính phủ Hàn Quốc ngày càng coi trọng vai trò của Hàn lưu (Korean wave) tạo dựng thương hiệu quốc gia (national brand)K’movie (phim truyền hình Hàn Quốc), K’pop (nhạc pop Hàn Quốc), Manhwa (truyện tranh Hàn Quốc), K’sport (đặc biệt là Taekwondo)K’fashion (thời trang Hàn Quốc), K’food (ẩm thực Hàn Quốc)…K’ LITERATURE (VĂN HỌC HÀN QUỐC)BTVH được quan tâm, trước hết vì vai trò quan trọng của văn học trong giáo dục, vun bồi nhân cách và tâm hồn, phát triển nguồn lực con người.Một quan tâm khác song hành cùng quan tâm đối với BTVH và cũng gắn nhiều với văn học là xúc tiến văn hóa đọc trong nhà trường và xã hội. Người ta vì yêu mến tác giả, tác phẩm mà đến với bảo tàng văn học, và cũng có khi ngược lại, trở về từ những tour văn học, công viên, bảo tàng văn học mà tìm đọc những tác giả, tác phẩm. Theo các chuyên gia về phát triển trí tuệ, Năng lực đọc được xem như một chỉ số tương đương với GDP. BTVH Hàn Quốc không chỉ trong xúc tiến văn hóa mà còn tăng trưởng kinh tế, phát triển nông thôn.

2.2. Sử dụng sức mạnh văn hóa đại chúng xúc tiến và quảng bá văn học

2.3. Phối hợp giữa các cấp, các ngành trong xúc tiến, quảng bá văn học – văn hóa đại chúng

Hệ thống Luật : Luật tác quyền (1957), Luật phát triển văn hóa nghệ thuật (1972), Luật thư viện (1994), Luật phát triển công nghiệp văn hóa xuất bản (2002), Luật phát triển văn hóa đọc (2006)… Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Tổng cục di sản văn hóaCác tập đoàn kinh tế tham gia tích cựcCác tổ chức văn hóa và các Hội bảo tồn di sản địa phương giới học giả, designers, các chuyên gia…cộng đồng dân chúng…

KẾT LUẬN

Kinh nghiệm thành công của Hàn Quốc trong xây dựng và phát triển những thiết chế văn học trong thời đại văn hóa đại chúng, nói cho cùng, cũng chính là bí quyết của “kỳ tích sông Hán” trong việc kết hợp những giá trị văn hóa truyền thống Phương Đông và những thành tựu văn minh, hiện đại của thế giới. Từ kinh nghiệm của Korea có thể gợi ra nhiều suy nghĩ cho đổi mới quảng bá văn học ở Việt Nam.

3. Phương hướng giảng dạy các môn khoa học xã hội ở trường phổ thông trong thời đại của văn hóa đại chúng

3.1. Nội dung và phương pháp3.2. Thầy và Trò3.3. Bối cảnh văn hóa – xã hội GS.TSKH Lâm Quang Thiệp, “Vai trò của người giáo viên thay đổi nhưng vị trí của người giáo viên là không đổi hoặc được nâng cao hơn so với trước đây, nếu người giáo viên đó thỏa mãn được những đòi hỏi của thời đại”. Diễn đànNgoại khóa Cấu trúc của văn hóa đại chúngPhân tích các hiện tượng văn hóa đại chúngThiết kế, tổ chức các hiện tượng văn hóa đại chúngCấu trúc của văn hóa đại chúngA whirlwind tour of the house of Popular Culture [Popular culture: an introductory text by John G. Nachbar]Khi phân tích một hiện tượng văn hóa đại chúng, ta đi từ các tầng trên xuống.(1) The second floor: EVENTLầu hai: SỰ KIỆN(1) The second floor: EVENTLầu hai: SỰ KIỆNNhững loại hình, thể loạiQuy tắc, công thức tổ chức thể loại, tiến trình của sự kiện(2) First floor – Artifacts (Objects & People)Lầu 1 – Những sản phẩm văn hóa (Vật thể & Con người)(2) First floor – Artifacts (Objects & People)Lầu 1 – Những sản phẩm văn hóa (Vật thể & Con người)Những người và những đối tượng được đông đảo công chúng chấp nhận, tán thưởngHọ / Chúng chính là những thể hiện hữu hình / hiển thị (visible) của những niềm tin và giá trị nằm ở tầng nền móng(3) The basement – CULTURAL MINDSETTầng nền móng – TÂM THỨC VĂN HÓA(3) The basement – CULTURAL MINDSETTầng nền móng – TÂM THỨC VĂN HÓA(invisible) Những niềm tin và những giá trị nền tảng: trường tồn, vững bền, hệ trọng Những niềm tin và những giá trị bề mặt: nhất thời, nông cạn, biến đổi(3) The basement – CULTURAL MINDSETTầng nền móng – TÂM THỨC VĂN HÓAHoa KỳNhững giá trị và niềm tin nền móng: – American Dream, – tự do cá nhân, – giá trị của gia đình hạt nhânThiết kế, tổ chức sự kiện vănhóa đại chúng thì phân tích từ tầng nền móng lên các tầng trên.Cuộc thi Hoa hậu các miền đất võ

Bricolage là một loại collage nhấn mạnh sự lệch lạc, sự giễu nhại, châm biếmb, Collage, Bricolage, Pastiche (Cắt dán, lắp ghép)

Pastiche: hòa trộn những thành tố của tác phẩm khác hoặc nền văn hóa khác để giễu nhại.

b, Collage, Bricolage, Pastiche (Cắt dán, lắp ghép)

Những sản phẩm VHĐC sử dụng những thành tố khác nhau từ những cấp độ văn hóa khác nhau. c, Nostalgia (Hoài cổ)

νόστος (nóstos) = “homecoming” [Homer ‘s Ulyssey] + ἄλγος (álgos) = “pain, ache”. “Homesickness”“Good old days”Nostalgia do một cái gì đó gợi nhớ một hình bóng, một sự kiện, một kỷ vật trong quá khứ của người ta. Xúc cảm có thể hạnh phúc hoặc sầu đau.c, Nostalgia (Hoài cổ)Sức mạnh của Popular culture là ở bản chất xúc cảm, xúc động của nó.Con người gìn giữ và nuôi dưỡng những trải nghiệm xúc động thời trẻ của mình khi đã qua thời tuổi trẻVăn hóa đại chúng có thể thẩm nhập đông đảo công chúng bằng cách gắn với những ký ức của họHoạt hình Walt Disney, The Beatles, Disco, Barbie…

Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Giảng Viên Khoa Qlvh Ở Trường Đại Học Văn Hóa Tp. Hồ Chí Minh Đáp Ứng Nhu Cầu Xã Hội

1. Đặt vấn đề

2. Một số khái niệm cơ bản

2.1. Phát triển đội ngũ

          Khái niệm đội ngũ được dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách rộng rãi như “đội ngũ cán bộ, công chức, đội ngũ trí thức, đội ngũ y bác sỹ, đội ngũ giảng viên (ĐNGV)…”. Từ đội ngũ xuất phát theo cách hiểu của thuật ngữ quân sự đó là: “khối đông người được tập hợp lại một cách chỉnh tề và được tổ chức lại thành lực lượng chiến đấu”. Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng đều có chung một điểm là: một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp nhưng đều có chung một mục đích nhất định [1]. Như vậy, có thể nói đội ngũ là một tập thể gồm số đông người, có cùng lý tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần.

Khái niệm đội ngũ giảng viên là một tập hợp những người làm nghề dạy học, giáo dục được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tập hợp đó. Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ qui định của pháp luật, thể chế xã hội.

2.2. Phát triển đội ngũ giảng viên

`         Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: Phát triển là “biến đổi hoặc làm cho nó biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp hay rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [2, tr.759]. Phát triển trong giáo dục được hiểu là quá trình học tập nhằm mở ra cho những cá nhân những công việc mới dựa trên những định hướng tương lai của tổ chức.

Theo quan điểm phát triển đội ngũ của ngành giáo dục: “Phát triển đội ngũ là làm sao để có một lực lượng những người làm giáo dục đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng (nhân cách) đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước nói chung và yêu cầu phát triển giáo dục nói riêng”.

          Phát triển đội ngũ giảng viên là tổng thể các phương pháp, biện pháp, cách thức, chính sách để hoàn thiện và nâng cao chất lượng đội ngũ (đủ về số lượng, phù hợp về cơ cấu, có trình độ chuyên môn và năng lực nghề nghiệp, phẩm chất tốt) đáp ứng yêu cầu phát triển của tổ chức. Một trong những nhiệm vụ quan trọng để phát triển giáo dục đại học là phát triển nguồn nhân lực. Trong phát triển nguồn nhân lực của cơ sở giáo dục đại học thì giảng viên đóng vai trò trung tâm, là nhân tố quan trọng quyết định chất lương đào tạo của nhà trường.

2.3. Ngành Quản lý văn hóa

Quản lý văn hóa (QLVH), là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung [3, tr.25]. QLVH là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (Đảng, Nhà nước, cơ quan có thẩm quyền) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn.

Ngành QLVH, một ngành khoa học đào tạo chuyên môn về lĩnh vực văn hóa, Ngành QLVH đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong hoạt động văn hóa trên phạm vi cả nước, gồm: quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật, thông tin tuyên truyền, quảng bá, xuất bản, dịch vụ văn hóa công cộng, thiết chế văn hóa (Chính phủ qui đinh) và tổ chức các hoạt động của sự nghiệp văn hóa như: đào tạo bồi dưỡng, sáng tác, biểu diễn, quản lý tốt tài sản, cơ sở vật chất và các phương tiện chuyên dùng, kinh doanh các dịch vụ văn hóa nhằm nâng cao mức hưởng thụ của nhân dân và hội nhập quốc tế [3, tr.1]. Chương trình đào tạo ngành QLVH  ngày càng được hoàn thiện và đổi mới, đã dựa vào ba tiêu chí cơ bản sau: là ngành khoa học thực hành; chương trình đào tạo ngày càng được chuẩn hóa; phải gắn liền với sử dụng hiệu quả công nghệ thông tin và thiết bị hiện đại [4].

2.4. Những thành tố của quá trình phát triển ĐNGV

Bao gồm “phẩm chất” và “năng lực”, hai mặt này nó biểu hiện ở mọi lúc, mọi nơi trong quá trình dạy học mà thể hiện rõ nét nhất là năng lực chuyên môn, khả năng điều khiển trong phạm vi trường học, uy tín trước tập thể sư phạm, khả năng ứng biến trong các tình huống sư phạm xã hội, trong đó vấn đề tổ chức thực hiện nhiệm vụ sẽ sáng tỏ được năng lực người giảng viên. Bên cạnh đó người giảng viên còn phải có phẩm chất về chính trị, tư cách đạo đức, tác phong sư phạm trước tập thể sư phạm, sinh viên, phụ huynh và các lực lượng giáo dục khác ngoài nhà trường.

2.5. Nhu cầu xã hội

          Hiện nay, khái niệm nhu cầu xã hội còn nhiều tranh luận và chưa đi đến thống nhất. Có quan điểm cho rằng đào tạo theo nhu cầu xã hội gồm: đào tạo theo yêu cầu của Nhà nước, các địa phương, nhu cầu của người sử dụng lao động, nhu cầu của người học và cả nhu cầu của phụ huynh học sinh. Song cũng có quan điểm cho rằng: đào tạo theo nhu cầu xã hội là phương thức tổ chức đào tạo ngắn hạn, đào tạo đáp ứng ngay nhu cầu trước mắt. Và quan điểm khác lại cho rằng nhu cầu cầu xã hội là nhu cầu của người học, khách hàng quan trọng nhất của nhà trường trong cơ chế thị trường là người học, có người học nhà trường mới tồn tại. Hiện nay, có rất nhiều người muốn đi học, nhất là học đại học nên phải mở rộng tuyển sinh, mở thêm nhiều trường đại học để đáp ứng nhu cầu xã hội. Bởi vậy, đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội, thì cần phải trả lời được câu hỏi (1) Xã hội là ai; họ yêu cầu gì; (2) Làm thế nào để đáp ứng yêu cầu của họ…[5].

          Đào tạo theo nhu cầu xã hội chính là mục tiêu của giáo dục đại học nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ đắc lực cho quá trình CNH – HĐH đất nước, nó không chỉ là trách nhiệm của nhà trường mà còn là của toàn xã hội. Trong đó nhà nước đóng vai trò chủ đạo, điều phối dẫn đường thúc đẩy các mối quan hệ giữa nhà trường và nhà tuyển dụng các ngành kinh tế mà đại diện là các doanh nghiệp làm cho nhu cầu xích lại gần nhau vì lợi ích chung.

3. Thực trạng đội ngũ giảng viên khoa quản lý văn hóa

          Để có cơ sở đánh giá thực trạng về ĐNGV đào tạo cử nhân ngành QLVH, tác giả đã tiến hành khảo sát thực tế ở các trường ĐHVH TP. HCM  tại TP Hồ Chí Minh từ tháng 6 đến tháng 9/2016; trong đợt khảo sát này, tác giả sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến của 16 cán bộ quản lý nhà trường từ trưởng/phó bộ môn trở nên đến Hiệu trưởng; 16 giảng viên trực tiếp tham gia giảng dạy cử nhân ngành QLVH kết quả:

3.1 Phát triển chất lượng đội ngũ giảng viên

Bảng 1. Số lượng ĐNGV cơ hữu hiện có thuộc khoa QLVH-NT đào tạo ngành QLVH

STT

Tên đơn vị khảo sát

Tổng số

PGS

T. sỹ

GVC

Th.sỹ

ĐH

Khác

1

Khoa QLVH-NT

20

01

03

02

12

3

2

 

                       Cộng

20

01

03

02

12

03

02

(Nguồn: do phòng tổ chức Trường ĐHVH chúng tôi cung cấp tháng 9/2016)

Đánh giá về chất lượng hoạt động phát triển chất lượng đội ngũ giảng viên, tác giả dùng thang đo Liker: từ 5 đến 1; 5 = rất thường xuyên, 4 = thường xuyên, 3 = đôi khi, 2 = không thường xuyên, 1 = không thực hiện.

Bảng 2. Đánh giá về chất lượng hoạt động phát triển chất lượng đội ngũ giảng viên

STT

Các tiêu chí đánh giá

 

Mức đánh giá (%)

 

  

Xếp hạng

5

4

3

2

1

1

Tổ chức Hội giảng từ bộ môn trở nên

   0

10,3

45,6

32,4

11,8

2,54

8

2

Bồi dưỡng lý thuyết chuyên môn

   0

13,2

45,6

32,4

8,8

2,63

6

3

Bồi dưỡng thực hành chuyên môn

4,4

19,1

45,6

27,9

2,9

2,94

5

4

Bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp

7,4

33,8

44,1

11,8

2,9

3,31

3

5

Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

13,2

29,4

32,4

30,9

2,9

3,40

2

6

Bồi dưỡng lý luận chính trị

4,4

29,4

32,4

30,9

2,9

3,01

4

7

Bồi dưỡng phương pháp NCKH

8,8

39,7

38,2

10,3

2,9

3,41

1

8

Bồi dưỡng ngoại ngữ/tin học

0

16,2

50,0

8,8

25,0

2,57

7

Kết quả khảo sát ở bảng 2 cho thấy số người được hỏi đánh giá về chất lượng hoạt động phát triển chất lượng ĐNGV trong: bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học, xếp hạng 1 có điểm trung bình chung cao nhất 3,41; bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, xếp hạng 2 có điểm trung bình chung 3,40; trong khi đó, tổ chức hội giảng từ cấp bộ môn trở nên, xếp hạng 8 thấp nhất có điểm trung bình 2,54; sau đó là bồi dưỡng ngoại ngữ/tin học xếp hạng 7, bồi dưỡng lý thuyết chuyên môn, thực hành chuyên môn xếp hạng 6 và 5.

Bảng 3. Qui định việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giảng viên ngành QLVH

Nội dung

Số lượng

Tỷ lệ %

Đảm bảo thực hiện đầy đủ kế hoạch lên lớp, kiểm tra đánh giá và NCKH theo qui định

32

51,6%

Tổ chức dự giờ thăm lớp và các hoạt động chuyên môn theo định kỳ

16

25,8%

Thường xuyên đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giảng dạy

14

22,6%

                                                                                        Tổng cộng

62

100%

 

Kết quả khảo sát qua phiếu hỏi 62 ý kiến của cán bộ quản lý và giảng viên ngành QLVH, bảng 3 cho thấy: có 51,6% GV đảm bảo thực hiện đầy đủ kế hoạch lên lớp, kiểm tra đánh giá và NCKH theo qui định; 25,8% Tổ chức dự giờ thăm lớp và các hoạt động chuyên môn theo định kỳ; 22,6% thường xuyên đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giảng dạy.

Bảng 4. Công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao  trình độ chuyên môn dành cho ĐNGV ngành  QLVH

Nội dung

Số lượng

Tỷ lệ %

Nội dung, chương trình, thời gian, địa điểm do giảng viên đề xuất nhằm đáp ứng với nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn theo yêu cầu của từng chuyên ngành trong ngành QLVH

17

34,70

Có sự tham gia trực tiếp của các nghệ sỹ, nhà giáo chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực QLVH và đơn vị dụng lao động

17

34,70

Có thời gian điền dã cơ sở, tham quan mô hình, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn và trải nghiệm thực tiễn với cơ sở sử dụng lao động

8

16,30

Tổ chức các hình thức thi kỹ năng nghiệp vụ ngành QLVH cho GV

7

14,30

                                                                                       Tổng cộng

49

100%

Kết quả khảo sát công tác đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn nâng cao  trình độ chuyên môn dành cho giảng viên khoa  QLVH, cho thấy việc đào tạo bồi dưỡng đã được quan tâm song thời gian điền dã cơ sở, tham quan mô hình, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn và trải nghiệm thực tiễn với cơ sở sử dụng lao động còn rất khiên tốn chỉ có 16,3%; tổ chức các hình thức thi kỹ năng nghiệp vụ ngành QLVH cho GV cũng chỉ có 14,3%. Kết quả này sẽ là căn cứ để có giải pháp nâng cao trình độ cho ĐNGV.

Như vậy, để nâng cao trình độ ĐNGV hiện có, cần tạo môi trường cho ĐNGV có điều kiện tham gia các hoạt động như tổ chức hội giảng từ cấp bộ môn trở nên đến việc tham gia các cuộc thi nâng cao tay nghề, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ một mặt để chuẩn hóa theo qui định hiện hành, mặt khác nâng cao chất lượng ĐNGV nhằm hoàn thiện việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo đạt chuẩn, từng bước nâng cao trình độ, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, vững vàng về tư tưởng chính trị, mẫu mực về phẩm chất, đạo đức, lối sống…là việc làm cần thiết của mỗi nhà trường trong giai đoạn hiện nay, cạnh tranh để phát triển và hội nhập quốc tế.

3.2. Công tác qui hoạch và dự báo

Đánh giá công tác qui hoạch và dự báo ĐNGV ngành QLVH, tác giả dùng thang đo Liker: từ 3 đến 1; 3 = rất thường xuyên, 2 = thường xuyên, 1 = không thường xuyên

          Bảng 5.  Đánh giá công tác qui hoạch và dự báo đội ngũ giảng viên ngành QLVH

STT

Nội dung và hình thức tổ chức

Mức độ thực hiện %

 

 

Thứ   bậc

3

2

1

1

Công tác qui hoạch và dự báo được thực hiện bởi nhu cầu của bộ môn/ khoa chuyên môn, được triển khai rộng rãi

dân chủ công khai, 6 tháng/lần

8,2

53,1

38,8

1,69

4

2

Qui hoạch và dự báo chỉ thực hiện khi có yêu cầu của tổ chức

24,5

70,4

5,1

2,19

1

3

Qui hoạch và dự báo không theo đinh kỳ, có thể 1 đến 2 năm mới thực hiện 1 lần

6,1

68,4

25,5

1,81

2

4

Công tác qui hoạch và dự báo chỉ triển khai đến lãnh đạo quản lý (từ tổ trưởng bộ môn trở nên) sau đó thống nhất với cấp ủy đảng và thông báo rộng rãi, công khai

10,2

48,0

41,8

1,68

5

5

Chỉ thực hiện qui hoạch ĐNGV theo yêu cầu của tổ chức, không thực hiện dự báo nhu cầu vì những khó khăn chưa tháo gỡ được như biên chế, độ tuổi, chuyên môn sâu…

8,2

60,2

31,6

1,77

3

Kết quả khảo sát ở bảng 5 cho thấy, số người được hỏi đánh giá về công tác qui hoạch và dự báo ĐNGV khoa QLVH: qui hoạch và dự báo chỉ thực hiện khi có yêu cầu của tổ chức, đã được triển khai, xếp hạng 1 có điểm trung bình chung cao nhất 2,19; qui hoạch và dự báo không theo đinh kỳ có thể 1 đến 2 năm mới thực hiện 1 lần, xếp hạng 2 có điểm trung bình chung 1,81; chỉ thực hiện qui hoạch ĐNGV theo yêu cầu của tổ chức, không thực hiện dự báo nhu cầu vì những khó khăn chưa tháo gỡ được như biên chế, độ tuổi, chuyên môn sâu, xếp hạng 3 có điểm trung bình chung 1,77; công tác qui hoạch và dự báo được thực hiện bởi nhu cầu của bộ môn/ khoa chuyên môn, được triển khai rộng rãi dân chủ công khai 6 tháng/lần, xếp hạng 4 có điểm trung bình chung 1,69; công tác qui hoạch và dự báo chỉ triển khai đến lãnh đạo quản lý (từ tổ trưởng bộ môn trở nên) sau đó thống nhất với cấp ủy đảng và thông báo rộng rãi, công khai, xếp hạng 5 có điểm trung bình chung 1,68.

Như vậy, công tác qui hoạch và dự báo, chưa được làm thường xuyên, việc triển khai công tác qui hoạch và dự báo chỉ thực hiện khi nhà trường có yêu cầu cho nên khoa QLVH chưa chủ động làm công tác qui hoạch cho nên tình trạng giảng viên chưa đạt chuẩn vẫn tồn tại, kéo dài nhiều năm, đến nay rất cần có những giải pháp để giúp giảng viên chuyên ngành hẹp, độ tuổi trên 50 hoàn thành nhiệm vụ. Những GV trẻ cần được bổ sung dự nguồn căn cứ vào: năng lực chuyên môn, có phẩm chất đạo đức, tư cách nghề nghiệp cần được qui hoạch để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ; cần có lộ trình sắp xếp luân phiên cán bộ trẻ được đào tạo nâng cao, sẽ khắc phục được tình trạng một số môn học không có giảng viên thay thế.

3.3. Sắp xếp luân chuyển

Đây là việc khó, nếu không có biện pháp khoa học, giải pháp cụ thể để GV tự nguyện lựa chọn sẽ nảy sinh đến tư tưởng. Xây dựng chiến lược quy hoạch và luân chuyển lâu nay chưa được triển khai một cách kỹ lưỡng và cụ thể nên việc rà soát, bố trí, sắp xếp, luân chuyển ĐNGV cho phù hợp với điều kiện thực tế là không thể làm được dẫn đến một số GV không có việc làm, trong khi nhiều môn học vẫn phải mời GV thỉnh giảng. Sự thay đổi ngành nghề do đào tạo theo nhu cầu xã hội và đổi mới phương pháp là những bất cập trong sắp xếp và luân chuyển nên cần phải có những giải pháp hữu hiệu để tháo gỡ.

4. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ khoa quản lý văn hóa, đáp ứng yêu cầu xã hội

Nâng cao năng lực, phẩm chất đội ngũ nhà giáo, đáp ứng kịp thời với những đổi mới của mỗi nhà trường về chương trình, giáo trình, phương pháp đào tạo theo yêu cầu xã hội, nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, nhà trường phải thường xuyên chú ý tới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đặc biệt là đội ngũ cán bộ giảng dạy [6].

Quản lý và phát triển ĐNGV nhằm xây dựng ĐNGV trong tương lai đảm bảo về chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu ngành nghề đào tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực ngành QLVH giai đoạn 2016 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 là trách nhiệm của khoa QLVH-NT tham mưu cho nhà trường, nhằm bổ sung, bố trí, sử dụng hợp lý và trẻ hóa ĐNGV.

4.1. Thực hiện qui hoạch ĐNGV

          Đây là công việc làm thường xuyên định kỳ, đảm bảo dân chủ, công khai trên cơ sở sự đồng thuận từ cấp ủy đảng và lãnh đạo nhà trường, khoa chuyên môn các bộ phận chức năng. Qui hoạch ĐNGV cơ hữu trong khoa chưa đạt chuẩn và những GV trẻ (dự nguồn) có năng lực chuyên môn, có phẩm chất đạo đức, có tư cách nhà giáo, giỏi nghề cần được tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao về chuyên môn, được qui hoạch theo thứ tự ưu tiên theo lộ trình để đào tạo ở trong và ngoài nước, tạo ra những điểm nhấn trong ngành QLVH. Đồng thời đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng GV, biến quá trình đào tạo bồi dưỡng thành tự đào tạo bồi dưỡng. Tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, trang thiết bị, môi trường giúp đội ngũ nhà giáo có ý thức tự học mọi lúc, mọi nơi, qua hoạt động thực tiễn để rút ra những bài học kinh nghiệm cho bản thân.

4.2. Tạo môi trường nâng cao năng lực chuyên môn

– Đối với công tác bồi dưỡng GV, căn cứ vào kết quả khảo sát năng lực GV từ đó xác định mục tiêu, nội dung và hình thức, thời gian, địa điểm, giảng viên tham gia bồi dưỡng theo chuyên đề phù hợp. Cần mở các lớp đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn ngắn hạn, có tính chuyên sâu, những chuyên đề mới hấp dẫn do những chuyên gia giàu kinh nghiệm, tâm huyết giỏi nghề thực hiện. Đồng thời căn cứ vào kết quả khảo sát, theo lộ trình cử giảng viên có năng lực chuyên môn, thành thạo ngoại ngữ được đào tạo chuyên sâu ở trong và ngoài nước về lĩnh vực/ngành nghề mà GV có sở trường năng lực, nhằm phát huy triệt để khả năng của từng GV và tạo được điểm nhấn trong đào tạo ngành QLVH.

– Định kỳ tổ chức hội thi, hội giảng từ cấp bộ môn/khoa/trường và cấp cao hơn để ĐNGV có cơ hội, có điều kiện tham gia, thông qua đó cá nhân GV tự nâng cao được trình độ cho bản thân.

– Thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm giữa các cơ sở GDĐH có đào tạo ngành QLVH. Xây dựng kế hoạch phối hợp với các nhà tuyển dụng trong nghiên cứu khoa học (NCKH) ứng dụng và chuyển giao công nghệ về lĩnh vực QLVH, thông qua hoạt động NCKH, GV có điều kiện tiếp cận với tư duy khoa học, vận dụng năng lực nghiên cứu vào giảng dạy. Đây là lĩnh vực đặc thù nên việc xây dựng kế hoạch năm học cần có những chỉ tiêu cụ thể để GV có điều kiện tiếp cận và chủ động thực hiện. Các vấn đề về văn hóa gồm: đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, cưới xin, ma chay, lễ hội, tiếp biến văn hóa, sưu tầm văn hóa vật thể, phi vật thể và những hoạt động VHNT khác rất cần được nghiên cứu.

– Hoàn thiện cơ chế quản lý, định mức lao động, NCKH, chính sách ưu đãi nhà giáo phù hợp. Tham mưu ban hành chính sách thu hút, động viên GV có trình độ chuyên môn cao có học hàm, học vị, danh hiệu…về khoa QLVH công tác. Bên cạnh đó chính sách xã hội như chế độ khám chữa bênh, thăm quan nghỉ mát và các khoản thu nhập khác ngoài lương được hưởng theo thu nhập tăng thêm cần được điều chỉnh phù hợp và kịp thời.

4.3. Sắp xếp luân chuyển

 Để thực hiện được giải pháp phát triển ĐNGV ngành QLVH cần thỏa mãn các điều kiện sau:

             Thứ nhất: đánh giá đúng thực trạng ĐNGV nhà trường, dự báo nhu cầu phát triển ĐNGV, căn cứ vào nhiệm vụ đào tạo, qui mô phát triển nhà trường, nhu cầu đào tạo nhân lực của ngành QLVH để làm cơ sở cho việc lập kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho phù hợp với từng cơ sở GDĐH;

Thứ hai: dân chủ hóa trong xây dựng, hoạch định chiến lược phát triển ĐNGV. Nâng cao ý thức trách nhiệm của các cấp quản lý, xác định nhu cầu, hình thức đào tạo bồi dưỡng ĐNGV phù hợp và khả thi;

Thứ ba: nhà trường phải có hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực GV, có chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ ĐNGV.

5. Kết luận

Ngành QLVH thuộc nhóm khoa học xã hội với sự liên kết liên ngành, ngoài phần kiến thức đại cương theo qui định chung, thì cơ sở ngành, kiến thức ngành và chuyên ngành được thiết kế một cách hợp lý, một số chuyên ngành thuộc nhóm nghệ thuật có tính đặc thù như: âm nhạc, sân khấu, mỹ thuật, múa, tổ chức sự kiện…rất cần được quan tâm, là yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý và qui hoạch ĐNGV. Đào tạo cử nhân ngành QLVH đáp ứng nhu cầu xã hội thì cần có một hệ thống giải pháp mang tính đồng bộ, có mối liên hệ biện chứng chặt chẽ với nhau. ĐNGV quyết định chất lượng và thương hiệu của một nhà trường do đó cần phải đầu tư để đạt chuẩn về trình độ. Mặt khác đối với GV ngành QLVH, ngoài năng lực kinh nghiệm giảng dạy như những giảng viên khác, thì rất cần những giảng viên/nhà giáo tâm huyết yêu nghề, có trình độ chuyên môn sâu và thành thạo kỹ năng kỹ xảo, những tố chất hoạt động VHNT. Là những điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng ĐNGV. Tuy nhiên, cần phải biết khai thác ĐNGV sao cho họ tự nguyện phát huy sở trường, năng lực, kinh nghiệm, “xả thân vì sự nghiệp” điều này sẽ phụ thuộc vào năng lực quản lý, lãnh đạo của nhà trường, nghệ thuật dùng người của người lãnh đạo và cơ chế, chính sách của nhà nước. Quản lý tốt ĐNGV sẽ làm cho chương trình đào tạo được vận hành một cách thông suốt, chất lượng giáo trình, bài giảng sẽ được nâng cao, phương pháp giảng dạy sẽ được đổi mới và trang thiết bị phục vụ giảng dạy sẽ được khai thác một cách hiệu quả.

 

Tài liệu tham khảo

1. Từ điển Giáo dục học (2001), Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội.

2. Từ điển bách khoa Việt Nam (2010), Nxb Khoa học. Hà Nội

3. Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn (2014), Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Phan Văn Tú, Phạm Bích Huyền (2009), Về ngành Quản lý văn hóa, tạp chí văn hóa nghệ thuật, số 297 tháng 03-2009, Hà Nội.

5. http://vi.Wikipedia.org/wiki/

6. Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2003) Lý luận đại cương về quản lý, Đại học sư phạm, Trường cán bộ và quản lý GD & ĐT, Hà Nội.

7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Điều lệ trường đại học. Nxb Giáo dục, Hà Nội.

8. Chương trình khung đào tạo (2014), Ban hành kèm theo Quyết định số 232/QĐ-ĐHVH HCM  ngày 14/4 /2014 của Hiệu trưởng, Trường Đại học Văn hóa, Tp Hồ Chí Minh.

9. Bành Tiến Long (2007), Đào tạo theo nhu cầu xã hội ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp, Tạp chí khoa học giáo dục, số 17 tháng 02, Viện khoa học giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

10. Phạm Thành Nghị (2000), Quản lý chất lượng giáo dục đại học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

11. Nhiều tác giả (2014), Đổi mới công tác đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế, Kỷ yếu hội thảo, Đại học Văn hóa, Tp Hồ Chí Minh.

 

 

Xã Hội Học Đại Cương 2

Nhóm 8 1. Phạm Thị Kiều Oanh2. Phạm Thị Bích Phượng3. Bùi Thiên Vương4. Đặng Thị Nhan5. Nguyễn Thị Mến6. Nguyễn Ánh HồngChương VIII: Tổ chức xã hội 8.1 Khái niệm 8.2 Các đặc tính của tổ chức xã hội 8.3 Các loại tổ chức xã hội 8.4 Những cấu trúc của tổ chức xã hội 8.5 Kiểm soát tổ chức xã hội 8.6 Một số tiếp cận về tổ chức8.1: Khái niệm

Khái niệm xã hội học: xã hội học là một bộ môn khoa học xã hội nghiên cứu những quy luật chung của sự tồn tại, biến đổi phát triển của xã hội, các mối quan hệ xã hội, sự tác động qua lại giữa các thành phần cơ bản của xã hội tạo thành xã hội như một chỉnh thể.Khái niệm tổ chức xã hội: là đơn vị xã hội được thành lập một cách chặt chẽ để theo đuổi mục đích đặc biệt.

Quân đội nhân dân Việt NamĐại học Princeton, New Jersey, Mỹ Học viện hàng không MỹTrường đại học Oxford ,AnhNhà tù Hỏa Lò, Hà NộiNhà tù của usavich8.2 Các đặc tính của tổ chức xã hộiPhân công lao động xã hội (PCLĐ)Giao tiếpQuyền lựcThay thế nhân sựkhái niệm PCLĐPCLĐ là sự tách biệt các LĐ khác nhau trong xã hộiPCLĐ gắn liền với chuyên môn hóa trong sản xuất-kinh doanh nên mang ý nghĩa tích cực,tiến bộ và là biểu hiện của trình độ phát triển kinh tế-xã hộiMột số hình thức PCLĐ phổ biếnPCLĐ theo giới tính

NHững XH với sự PCLĐ

XH săn bắt,hái lượm(XH nguyên thủy): là XH sơ khai, sử dụng các công cụ để săn bắt hái lượm(phục vụ cho ăn uống)XH trồng trọt và chăn nuôi (cách 10000-12000 năm)-XH trồng trọt sử dụng công cụ bằng tay-XH chăn nuôi là XH sinh kế bằng việc thuần dưỡng gia súcXH nông nghiệp(cách 5000 năm)XH công nghiệp

PCLĐ theo lãnh thổPCLĐ theo lứa tuổiPCLĐ cá biệt trong nội bộ xí nghiệp8.2.2- Giao tiếpĐịnh nghĩa: Giao tiếp là sự tiếp xúc ,trao đổi thông tin giữa người với người thông qua ngôn ngữ,cử chỉ,tư thế,trang phục….Các đặc trưng :Giao tiếp là 1 quan hệ XH,mang tính chất XH được thể hiện thông qua sự trao đổi tiếp xúc giữa con người với con ngườiTính chủ thể trong giao tiếp ,tức là quá trình giao tiếp được thực hiện bởi các cá nhân cụ thể:1 hoặc nhiều ngườiGiao tiếp XH có ảnh hưởng đến quá trinh nhận thức của con người8.2.3.2-các chức năng của giao tiếpChức năng thông báo (hay chức năng truyền thông tin)Chức năng điều khiển,điều chỉnh hành vi8.2.3.3-Phân loại giao tiếpCăn cứ vào tính chất trực tiếp hay gián tiếp của quá trình giao tiếp,có 2 loại: – giao tiếp trực tiếp (đàm thoại):là sự tiếp xúc,trao đổi giữa các chủ thể giao tiếp,được thực hiên trong cùng 1 khoảng thời gian nhất định.-giao tiếp gián tiếp: là giao tiếp được thực hiện thông qua các phương tiện trung gian như điện thoại,thư tín,sách báo,TV,fax…Căn cứ vào mục đích giao tiếp có 2 loại:Giao tiếp chính thức:là giao tiếp giữa các cá nhân đại diện cho nhóm,hoặc giữa các nhóm mang tính hình thức,được thực hiên theo các nghi lễ nhất định,được quy định bởi các chuẩn mực XH hoặc pháp luậtGiao tiếp không chính thức:là giao tiếp không mang tính hình thức,không có sự quy định về lễ nghiCăn cứ vào đối tượng giao tiếp:Giao tiếp song đôi và giao tiếp nhómGiao tiếp mang tính chất của nghề nghiệpSo sánh giao tiếp trong một tổ chức và trong XHGiao tiếp trong 1 tổ chức là giao tiếp giữa những bộ phận với nhau,giữa người lãnh đạo với nhân viên cấp dưới,giữa những người lãnh đạo và những người quản lý với nhauGiao tiếp tổ chức bao giờ cũng gắn với lợi ích cuar1 tổ chức với 1 mục tiêu mà tổ chức đó đặt ragiao tiếp trong xã hội là giao tiếp giữa cá nhân với tổ chức,giữa những con người sống trông cộng đồng với nhau

Giao tiếp xã hội bao giờ cũng gắn với lợi ích tập thể.8.2.3 -Quyền lựcKhái niệm: Quyền lực là một dạng quan hệ XH,biểu hiện khả năng một cá nhân hoặc nhóm điều khiển hành vi,thái độ,quan điểm của các cá nhân,các nhóm khác.Chủ thể và khách thể thực hiện quyền lực XH có thể là một cá nhân,một nhóm XH hay một cộng đồng,một XH;thực chất quyền lực chính là giới hạn đồng thời mở rộng mức độ của chủ thể và khách thể thực hiên quyền lực8.2.3.1-Nguồn gốc của quyền lựcTheo quan điểm Macxit: là sự sở hữu hay không sỏ hữu tư liệu sản xuất.Theo Max Weber :quyền lực có nguồn gốc từ kinh tế và các yếu tố phi kinh tế như:gia đình,học vấn,tôn giáo,uy quyền…Parson cho rằng nguồn gốc của quyền lực nằm ở các vị thế của một cấu trúc XH8.2.3.2-các hình thức của quyền lựcCưỡng bức(Force):dạng quyền lực có sử dụng sự ép buộc về thể xác để áp đặt ý chí của con người.Uy quyền(authority): dạng quyền lức có sự đồng tình cua dân chúng,là “khả năng mà một mệnh lệnh và nội dung đặc thù nhất định sẽ được chấp hành bởi một nhóm người nhất định” (M.Weber)8.2.3.3-Những ưu nhược điểm của quyền lựcƯu điểm:-sự kiểm soát và phối hợp-dễ dàng được sử dụng-không đòi hỏi nhiều về tinh tế hay hiểu biếtNhược điểm-sự chuyên quyền-các hành vi chống đối lén lút8.2.3.4-sự hình thành các trung tâm quyền lựcDo đâu mà có sự hình thành các trung tâm quyền lực?-Trong XH cộng sản nguyên thủy,con người cùng LĐ và hưởng lợi,vì vậy quyền lực khi này là của số đông được thực hiện một cách tự nguyện và bình đẳng.Cùng với sự phát triển của XH,trải qua 3 lần PCLĐXH,chế độ cộng sản nguyên thủy bị tan rã,thay vào đó là XH có sự phân chia giai cấp:kẻ giàu-người nghèo;kẻ thống trị-người bị trị Các trung tâm quyền lực dần hình thànhChủ thể và khách thể thực hiện quyền lực XH có thể là 1 cá nhân,1 nhóm XH,1 cộng động,1 XH.thực chất quyền lực chình là việc giới hạn đồng thời mở rộng mức độ tự do của các chủ thể hay khách thêt thực hiện quyền lợiTrong XH hiện nay 1 tổ chức XH đại diện ,thành viên thực sự có nhiều quyền lực là những người có nhiều thông tin,tức là nhiều tri thức.những người có tri thức tâp hợp lại và trở thành những nhà lãnh đạo ,trung tâm quyền lực mới xuất hiện8.2.4 Thay thế nhân sự8.2.4.1.Khái niệmNhân sự được hiểu là những cá nhân làm việc cho những tổ chức,công ty doanh nghiệp,hiệp hội…nhằm tạo ra giá trị tăng và năng lực cạnh tranhMô tả nguồn nhân sự:+Quy mô và cơ cấu nhận diện+Các mô tả về đặc điểm nguồn nhân sự tận tâm,nỗ lực ,khả năng thích nghi và sự sáng tạo…8.2.4.2.Nguyên nhân thay thế nhân sựXu hướng toàn cầu hóaThay đổi nhanh chóng về mặt công nghệTái cấu trúc ở các công tyTính đa dạng của lực lượng lao độngTrách nhiệm thực hiện mục tiêu xã hội8.2.4.3.Thay thế nhân sự-xu hướng toàn cầuToàn cầu hóa đang “xồng xộc” làm thay đổi vô số thứ trong đó có sự thay thế nhân sựXu hướng thay thế nhân sự8.3.Các loại tổ chức 8.3.1.Hiệp hội tự nguyện-hiệp hội tình nguyện.8.3.2.Tổ chức quan liêu8.3.1.Hiệp hội tự nguyện-hiệp hội tình nguyệnBản thân các tổ chức xã hội cũng có thể có nhiều dạng khác nhau.Một trong các các tổ chức đó là những hiệp hội,tổ chức tình nguyện .Những hiệp hội,tổ chức này khá giống với các nhóm không chính thức.Có 3 đặc điểm: +chúng lập ra vì những lợi ích và nhu cầu của bản thân các thành viên. +việc đăng kí vào hội là hoàn toàn tự nguyện,không có những tiêu chuẩn khá khắt khe. +các hiệp hôi tổ,chức tình nguyện không liên hệ trực thuộc với các cơ quan chính quyền từ cấp địa phương đến trung ương.8.3.2.Tổ chức quan liêu8.3.2.1.Khái niệm: là tổ chức có bộ máy quan liêu hoạt động theo chế độ nghiêm ngặt bao gồm các vai trò,vị trí và các quy định ,quy tắc ,thủ tục quan lý,kiểm tra đánh giá rất chặt chẽ.8.3.2.3.Những biến đổi của tổ chức quan liêuCác tổ chức quan liêu lúc mới lập ra thường còn nhỏ .Càng về sau càng lớn dần và có xu hướng trở thành tổ chức độc quyền nhất là tổ chức về kinh tế’Nguyên nhân cơ:+Do năng suất và hiệu quả về kinh tế+Weber cho rằng:Nguyên nhân chính là ở ưu thế kỹ thuật tuyệt đối của nó so với mọi dạng tổ chức.Nguyên nhân thứ 2 là do quyền lựcNhững chức năng của những quy định trong bộ máy quan liêu đó là cơ sở để các nhà quản lý đánh gí các thành viên đã làm hết trách nhiêm của mình hay chưaNhững chức năng của định được được nhà xã hội học Allivin Goulder(1954)

8.4.Những cấu trúc của tổ chức xã hội8.4.1Cấu trúc chính thức (formal structure)

Cấu trúc phi chính thức có nhiều thứ phải làm cho con đường mà tổ chức đi theoCác tổ chức cung cấp rất nhiều chức năng:+cung cấp hệ thống xã hội với những sản phẩm dịch vụ+cung cấp việc làm và tiền cho thành viên+cung cấp khung cho hệ thống xã hộiKhi một nhóm làm việc quá nhỏ thì việc giao tiếp là thường xuyên thì cấu trúc chính thức gần như không cần thiếtĐối với quyết định của tổ chức lớn hơn thì phải tạo lập bộ phận đại diện cho những nhiệm vụ khác nhau8.5: Kiểm Soát Tổ Chức Xã HộiKhái Niệm : Có thể nói rằng khái niệm “Kiểm soát tổ chức xã hội” có một quá trình phát triển lịch sử lý luận tương đối dài.

Kiểm soát tổ chức xã hội là sự bố trí các chuẩn mực, các giá trị cùng những chế tài để ép buộc việc thực hiện chúng. Sự kiểm soát sẽ khuôn các hành vi của các cá nhân, các nhóm vào các khuôn mẫu đã được xã hội thừa nhậnHoặc chúng ta có thể định nghĩa đơn giản : Kiểm soát tổ chức xã hội là quá trình con người học hỏi và thực hiện những khuôn mẫu tác phong mà xã hội chấp nhận và mong đợi”

Kiểm soát tổ chức xã hội được thực hiện trên nhiều phương diện khác nhau :

* Trên phương diện con người xã hội đó là sự kiểm soát của xã hội, của đoàn thể .

* Kiểm soát tổ chức xã hội được thực hiện bởi các thiết chế xã hội như gia đình, tôn giáo , chính trị, kinh tế, giáo dục,…thông qua chức năng kiểm soát của mình các cá nhân phải tuân thủ theo chuẩn mực giá trị xã hội

Chức năng của kiểm soát xã hội.

Đó là tạo ra những điều kiện cho bền vững đồng thời duy trì ổn định và trật tự xã hội song song với việc tạo ra những thay đổi mang tính chất hợp lý và tích cực.

Để thực hiện những nhiệm vụ dường như trái ngược nhau như vậy, kiểm soát tổ chức xã hội cần phải có tính linh hoạt ,mềm dẻo.Tức là nó phải có khả năng nhận biết được các ý nghĩa của những sai lệch chuẩn mực. Cá nhân tiếp nhận cơ chế kiểm soát tổ chức Xã HộiQuá trình XH Hoá Cá nhân (CN)Thông quaCn tích lũyHệ thống giá trị chuẩn mực thu nhận đượcHệ thống giá trị chuẩn mực của Xã HộiCn Đối chiếuCN thực hiện tốt quy tắc chuẩn mực Xã HộiĐiều chình tiếp thuCác công cụ tiến hành kiểm soát tổ chức xã hội

Theo Parson có ba công cụ chính của kiểm soát xã hội đó là:Sự cô lập hoàn toàn Sự hạn chế giao tiếp , quản chế Sự cải tạo, phục hồi

Tóm lại kiểm soát tổ chức xã hội có những công cụ kiểm soát riêng. Mà mỗi công cụ sẽ có những mục đích và mặt tích cực riêng. Chung quy cũng chỉ để nhằm kiểm soát xã hội theo trật tự nhất định.Các loại tổ chức kiểm soát xã hội

Người ta còn phân thành các loại kiểm soát tổ chức xã hội tuỳ theo mục tiêu và lợi ích của việc nghiên cứu xã hội, thường quy về ba kiểu kiểm soát chính sau đây.:– Kiểm soát tích cực, tiêu cực.– Kiểm soát chính thức và không chính thức – Kiểm soát tập thể và định chế.Kiểm soát tích cực và tiêu cựcKiểm soát chính thức và phi chính thức* Kiểm soát chính thứcKiểm soát phi chính thứcKiểm soát định chế và tập thểKiểm soát định chếKiểm soát tập thể

Một số tiếp cận về tổ chứcTiếp cận kinh điển (cổ điển)Tiếp cận quan hệ con ngườiTiếp cận cấu trúc

Làn Sóng Hàn Quốc: Thành Công Của Văn Hóa Đại Chúng

Cuộc tọa đàm nhân kỷ niệm 20 năm quan hệ ngoại giao Việt – Hàn,

Câu chuyện làn sóng Hallyu (tạm dịch là làn sóng văn hóa Hàn Quốc) thu hút sự bàn luận sôi nổi của các nhà nghiên cứu Việt Nam, Hàn Quốc, các nhà báo và giới trẻ – những người hâm mộ Hallyu.

Những cuộc đổ bộ truyền thống và thức thời

“Văn hóa truyền thống Việt Nam không thua kém bất cứ nước nào trên thế giới. Đối với các nước thế giới thứ ba, việc quảng bá văn hóa là con đường hữu hiệu để giới thiệu mình ra thế giới”

Ông Kang Cheol Keun ( chủ tịch Hiệp hội Giao lưu văn hóa quốc tế Hallyu)

Theo ông Kim Kwon Yong (phóng viên thường trú báo Yonhap News của Hàn Quốc tại Hà Nội), chiến lược phủ sóng của Hallyu chia làm ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất với những bộ phim truyền hình tâm lý tình cảm, giai đoạn hai thuộc về K-pop và giai đoạn ba là giới thiệu dòng phim điện ảnh Hàn Quốc.

Trong đó ở Việt Nam, làn sóng Hàn Quốc đang bước vào giai đoạn hai gắn với các đại nhạc hội có sự tham gia của các nhóm nhạc, ca sĩ nổi tiếng của Hàn Quốc.

Không giấu giếm tham vọng mạnh mẽ của mình, ông Kang Cheol Keun (chủ tịch Hiệp hội Giao lưu văn hóa quốc tế Hallyu) khẳng định: “Hallyu là sự thống nhất của văn hóa châu Á phát triển rộng ra toàn thế giới. Đó là sự cộng hưởng, chia sẻ giá trị văn hóa và Hallyu phải được gọi là văn hóa đại chúng”.

Một trong những dẫn chứng của tham vọng này được ông Kang Cheol Keun dẫn ra chính là điệu Gangnam Style làm điên đảo thế giới của rapper người Hàn PSY (Park Jae Sung). “Gangnam Style ban đầu khiến cả người Hàn Quốc xấu hổ, nhưng giờ nó lan tràn khắp thế giới. Không phải vì nó cổ điển hay hoành tráng mà vì nó tự do, thoải mái, ai cũng có thể tham gia. Thành công của Gangnam Style là đem văn hóa đại chúng của châu Á đến các tầng lớp, giai tầng trong xã hội”.

Bản thân ông Kang Cheol Keun cũng thừa nhận sự lan tràn rộng rãi của làn sóng Hàn Quốc đã ngày càng tăng cường sức ảnh hưởng của nước này trên thế giới: “Hallyu đã chuyển thành sức mạnh mềm khiến mọi người trên thế giới sẵn sàng đi theo. Hallyu được xây dựng với con đường đi làm hài lòng tất cả đối tượng, dựa trên truyền thống và các giá trị mới. Nếu chỉ có riêng truyền thống thì những người đến từ các nền văn hóa khác khó có thể cảm nhận được. Văn hóa phải thức thời để bắt kịp sự thay đổi của thời đại”.

Nhưng ông Kang Cheol Keun cũng nhấn mạnh: “Văn hóa truyền thống mới là cốt lõi của văn hóa Hàn Quốc”. Cho nên sự phổ cập của phim truyền hình đến mọi ngõ ngách đời sống, K-pop làm điên đảo giới trẻ… chưa phải là điểm dừng mà làn sóng Hallyu hướng đến.

Nâng cao năng lực tiếp nhận

Khánh Chi (sinh viên theo học tiếng Hàn Quốc tại Đại học Ngoại ngữ – ĐH Quốc gia Hà Nội) – một đại diện của những người yêu phim Hàn, mê thần tượng Hàn và thích ăn các món Hàn Quốc – chia sẻ: “Lý do tôi chọn học ngôn ngữ này là do ảnh hưởng lớn từ làn sóng Hàn Quốc khi phim Hàn được phát sóng rầm rộ trên truyền hình Việt Nam. Với riêng bản thân tôi, sự thành công của làn sóng Hàn Quốc tại Việt Nam là một điều tất yếu. Một sự thật là Việt Nam chưa có định hướng rõ ràng để phát triển văn hóa nên giới trẻ không biết hướng theo đâu. Đúng lúc đó làn sóng Hàn du nhập, một sự du nhập đầy “ngọt ngào” chiếm trọn vẹn trái tim của giới trẻ”.

Khác với thái độ lo ngại, e dè xen lẫn chỉ trích của không ít phụ huynh trước sự đón nhận cuồng nhiệt làn sóng Hallyu của các bạn trẻ, ở khía cạnh một nhà nghiên cứu lẫn phụ huynh của cô con gái 17 tuổi say mê sao Hàn, chúng tôi Lương Hồng Quang có thái độ cởi mở hơn. Thái độ này như ông chia sẻ là phải đặt mình vào thế hệ của con cái.

“Tôi nghĩ sự hình thành các trào lưu văn hóa là một tất yếu. Một mặt, nó làm đời sống văn hóa trở nên phong phú và đa dạng hơn, mặt khác cũng làm phân hóa xã hội thành những nhóm thị hiếu khác nhau, đôi khi là chia rẽ và kình địch nhau (các tranh luận giữa người hâm mộ Hàn với người hâm mộ Nhật Bản). Có thể có những lệch lạc, có những thái quá, việc nghiện một kiểu loại văn hóa nào đó ở một nhóm nhỏ hay cá nhân, sự ngộ nhận trước những hào nhoáng của ánh đèn sân khấu, của các ngôi sao, song trên hết giới trẻ Việt Nam tiếp nhận được các giá trị văn hóa, được giao lưu tiếp xúc, học hỏi một nền văn hóa khác mình” – chúng tôi Quang chia sẻ.

Cũng bởi vậy, Hallyu không chỉ mang ý nghĩa tiêu cực, sự phổ biến của nó cho Việt Nam nhiều bài học về quảng bá văn hóa. chúng tôi Lương Hồng Quang đề xuất: “Văn hóa đại chúng (popular culture) là một kiểu loại văn hóa cần được chúng ta nghiên cứu sâu hơn bởi là sản phẩm của xã hội đô thị, xã hội tiêu thụ, của quan niệm văn hóa là cái của đời sống hằng ngày thay vì chỉ tất cả là tinh túy, cao siêu. Hiểu biết hơn về văn hóa đại chúng sẽ là nền tảng lý luận cho chúng ta phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo”.

“Không thể đóng cửa, đó là một việc tất yếu. Để không bị nhấn chìm hay cuốn trôi, chúng ta chỉ có thể thích nghi và nâng cao năng lực tiếp nhận” – ông nói.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giảng Dạy Các Môn Khoa Học Xã Hội Trong Thời Đại Văn Hóa Đại Chúng trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!