Đề Xuất 2/2023 # Giải Pháp Thực Hiện Mục Tiêu Phát Triển Công Nghiệp # Top 5 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Giải Pháp Thực Hiện Mục Tiêu Phát Triển Công Nghiệp # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giải Pháp Thực Hiện Mục Tiêu Phát Triển Công Nghiệp mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh và những biến động của thị trường nhưng sản xuất công nghiệp của tỉnh vẫn tăng trưởng khá, sản lượng một số sản phẩm chủ yếu tăng khá như bột giấy, gỗ tinh chế, xi măng, dệt may, thép… góp phần ổn định việc làm và thu nhập cho người lao động. Tỉnh đã hình thành 2 Khu công nghiệp Long Bình An, Khu công nghiệp Sơn Nam (Sơn Dương); 5 cụm công nghiệp, gồm Cụm công nghiệp Khuôn Phươn (Na Hang), Cụm công nghiệp An Thịnh (Chiêm Hóa), Cụm công nghiệp Tân Thành (Hàm Yên), Cụm công nghiệp Thắng Quân (Yên Sơn), Cụm công nghiệp Phúc Ứng (Sơn Dương). Từ năm 2016 đến nay đã thu hút được 45 dự án công nghiệp với tổng vốn đăng ký đầu tư trên 13.000 tỷ đồng. Ông Hoàng Minh Sơn, Giám đốc Hành chính – Nhân sự, Công ty cổ phần Giấy An Hòa nhấn mạnh, môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh ngày càng được cải thiện, do đó đã thu hút được nhiều tập đoàn, dự án công nghiệp quy mô, tạo ra giá trị sản xuất cao. Công ty đang hoàn thiện thủ tục để tiếp tục xây dựng thêm nhà máy sản xuất bột giấy công suất 150 nghìn tấn/năm.

Công nhân gia công phong bì tại xưởng sản xuất của Công ty CP Thương mại – Sản xuất xuất khẩu Phúc Lâm, Cụm công nghiệp An Thịnh (Chiêm Hóa). Ảnh: Cao Huy.

Những kết quả đạt được trong sản xuất công nghiệp thời gian qua tạo động lực quan trọng để triển khai các dự án phát triển công nghiệp trong những năm tới, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 5 năm đạt 14%. Ông Hoàng Đức Tiến, Phó Giám đốc Sở Công thương nhấn mạnh, mục tiêu này hoàn toàn thực hiện được, bởi tỉnh đã phát huy tiềm năng, lợi thế, tạo ra động lực phát triển bền vững. Theo đó, tỉnh tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, dệt may, da giày, điện tử. Ngành Công thương tỉnh tham mưu với tỉnh đẩy mạnh xúc tiến đầu tư thu hút các dự án công nghiệp mới, công nghệ cao, quy mô lớn hiện đại, công nghiệp sạch để đóng góp nhiều cho ngân sách. Đồng thời, tham mưu thành lập mới các khu, cụm công nghiệp, trọng tâm là hoàn thiện các thủ tục thành lập Cụm công nghiệp Tam Đa – Hào Phú, Ninh Lai – Thiện Kế. Ngành phối hợp chặt với chính quyền các địa phương thu hút các nguồn vốn hoàn thiện kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô dự án.

Một trong những nhiệm vụ được các cấp chính quyền và ngành Công thương tỉnh chú trọng là tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp về mặt bằng, nguồn nguyên liệu sản xuất và thị trường tiêu thụ. Đồng chí Phạm Ninh Thái, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Yên Sơn khẳng định, hình thành Cụm công nghiệp Thắng Quân đã giải quyết được vấn đề đầu ra cho sản phẩm gỗ rừng trồng, sự liên kết giữa doanh nghiệp và người trồng rừng ngày càng chặt chẽ, tạo động lực cho quá trình phát triển trong giai đoạn mới. Huyện tiếp tục làm tốt công tác giải phóng mặt bằng tạo điều kiện tốt nhất để Công ty cổ phần Woodsland Tuyên Quang mở rộng quy mô dự án thêm 30 ha, góp phần tiêu thụ gỗ rừng trồng cho người dân địa phương.

Cùng với việc thu hút đầu tư phát triển các dự án công nghiệp công nghệ hiện đại, công nghiệp sạch, tỉnh kiên quyết xử lý, loại bỏ những dự án ảnh hưởng đến môi trường, bảo đảm phát triển bền vững. Với những giải pháp được triển khai, sản xuất công nghiệp trong thời gian tới sẽ có bước phát triển mạnh mẽ, góp phần đưa Tuyên Quang trở thành tỉnh phát triển khá, toàn diện và bền vững.

Giải Pháp Phát Triển Công Nghiệp

KINH TẾ

Giải pháp phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

Your browser does not support the audio element.

(HBĐT) – Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết (NQ) số 02-NQ/TU, ngày 28/12/2015 của Tỉnh ủy về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN) đã đạt được kết quả tích cực. Hoạt động CN góp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu KT-XH, song vẫn còn nhiều khó khăn. Tỉnh tập trung chỉ đạo các ngành chức năng thực hiện tốt giải pháp về quy hoạch, quản lý quy hoạch, cải cách hành chính, thu hút đầu tư vào lĩnh vực CN, ưu tiên phát triển CN có lợi thế, gắn với bảo vệ môi trường.

Công ty CP may xuất khẩu Sungilvina hoạt động ổn định tại cụm công nghiệp Đông Lai – Thanh Hối (Tân Lạc), giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động địa phương.  Ảnh: P.v

Tỉnh hiện có 8 khu công nghiệp (KCN) được quy hoạch với tổng diện tích khoảng 1.510 ha, 21 cụm công nghiệp (CCN) với tổng diện tích 820,7 ha. Đối với KCN, 3/8 khu có chủ đầu tư hạ tầng, 2/8 khu có hạ tầng được đầu tư tương đối hoàn chỉnh là KCN bờ trái Sông Đà và KCN Lương Sơn. Các KCN có 98 dự án, trong đó, 26 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn đăng ký 518,05 triệu USD và 72 dự án đầu tư trong nước, vốn đăng ký 7.396,87 tỷ đồng. Giá trị sản xuất CN doanh nghiệp KCN đạt 14.118 tỷ đồng/năm, nộp ngân sách khoảng 181,4 tỷ đồng/năm. Đối với các CCN, UBND tỉnh đã quyết định thành lập 16 CCN, giao chủ đầu tư hạ tầng kỹ thuật 9 cụm. Tỷ lệ lấp đầy các CNN đạt 46,7%. Có 6 CCN tại các huyện: Lạc Thủy, Tân Lạc, Mai Châu đi vào hoạt động, thu hút 13 dự án thứ cấp với 41,2 ha, giải quyết việc làm cho 700 lao động. Đến hết năm 2020, tỉnh có 334 dự án sản xuất CN, trong đó, 138 dự án đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Giai đoạn 2016 – 2020, sản xuất CN của tỉnh duy trì mức tăng trưởng khá, năng lực sản xuất CN được nâng cao trong các ngành chế tạo điện tử, máy móc, cơ khí, may mặc, khoáng sản, chế biến nông, lâm sản, thực phẩm… 

Qua 5 năm thực hiện NQ số 02-NQ/TU, một số chỉ tiêu thực hiện đạt và vượt so với chỉ tiêu NQ đề ra. Tỉnh đã ban hành một số quy định, cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển CN-TTCN. Việc đầu tư hạ tầng KCN, CCN có chuyển biến tích cực. Các dự án phát triển CN-TTCN góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu NSNN. Đến nay, có 2/3 chỉ tiêu đạt và vượt, gồm: Tốc độ tăng giá trị tăng thêm bình quân đạt 10,5%; tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất CN bình quân ước đạt 16,4%. 1 chỉ tiêu không đạt là tỷ trọng CN chiếm 38,89% cơ cấu kinh tế (NQ đề ra là tỷ trọng CN chiếm 77,8% cơ cấu kinh tế). 

Bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn hạn chế như: Công tác thu hút đầu tư chưa thực sự hiệu quả. Số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất CN còn nhỏ lẻ, sản phẩm chưa tạo được sức cạnh tranh. Công tác giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất sạch chưa nhiều. Hạ tầng KCN, CCN chưa hấp dẫn nhà đầu tư. Chưa có tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư để ưu tiên nhà đầu tư có năng lực cao hơn, phát huy lợi thế của tỉnh. Công tác giải phóng mặt bằng chậm, quỹ đất sạch để thu hút đầu tư chưa nhiều. Tỷ lệ đầu tư kết cấu hạ tầng các KCN đạt thấp, hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN chưa được quan tâm đúng mức. Giá thuê đất tại KCN của tỉnh cao, chưa đủ sức hấp dẫn nhà đầu tư. Hiện, nhà đầu tư có xu hướng đề xuất đầu tư ngoài KCN, CCN. 

Các ngành chức năng, các địa phương đang xây dựng kế hoạch cụ thể hóa NQ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 – 2025, tham mưu đề xuất các định hướng, giải pháp tiếp tục thực hiện NQ số 02 của Tỉnh ủy về phát triển CN-TTCN, thực hiện định hướng phát triển CN là động lực của nền kinh tế với tốc độ, tăng trưởng cao, bền vững, hiệu quả. Chú trọng ứng dụng công nghệ cao, thân thiện môi trường. Ưu tiên đầu tư hạ tầng kỹ thuật các KCN như: Yên Quang, Mông Hóa, Nam Lương Sơn, Lạc Thịnh; mở rộng KCN Lạc Thịnh lên khoảng 1.000 ha; nâng tỷ lệ lấp đầy diện tích các KCN trên 80%. Phấn đấu đến năm 2025, diện tích đất các khu, CCN chiếm khoảng 1% diện tích đất tự nhiên của tỉnh.

Tỉnh tập trung chỉ đạo các ngành chức năng tham mưu thực hiện các giải pháp về xây dựng quy hoạch, quản lý quy hoạch, cải thiện môi trường kinh doanh, lựa chọn những nhà đầu tư có năng lực để phát triển hạ tầng, triển khai dự án đầu tư vào lĩnh vực CN, nâng cao tỷ lệ lấp đầy các KCN, CCN. Trong quá trình thực hiện đặc biệt quan tâm tới quản lý tốt môi trường bền vững. Chú trọng ứng dụng công nghệ cao, thân thiện môi trường với trọng tâm là công nghiệp chế biến khoáng sản; chế biến nông, lâm sản; vật liệu xây dựng; công nghiệp cơ khí, thiết bị điện, điện tử trên cơ sở phát triển các khu chế biến và các vùng nguyên liệu phụ trợ; phát triển CN điện năng công nghệ mới, tiêu hao ít năng lượng, sản xuất xanh. Đồng thời rà soát, xử lý dứt điểm các dự án sản xuất CN hoạt động kém hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường, có tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái. Kiên quyết xử lý những dự án triển khai không bảo đảm tiến độ cam kết theo quy định pháp luật. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, huy động các nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng, thu hút dự án có giá trị gia tăng cao, phát triển bền vững, tạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Tăng cường phối hợp thực hiện công tác xúc tiến đầu tư vào các KCN; phối hợp, hỗ trợ chủ đầu tư hạ tầng các KCN triển khai thực hiện có hiệu quả công tác hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, phát triển CN theo hướng gắn với bảo vệ môi trường, phát triển CN có giá trị gia tăng cao, phát triển CN với đô thị, dịch vụ. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, phổ biến pháp luật về đất đai cho người dân nhằm nâng cao hiểu biết, quyền lợi, nghĩa vụ của người dân có đất nằm trong quy hoạch các KCN, tạo sự đồng thuận về chủ trương phát triển KCN của tỉnh. 

Lê Chung

Các Giải Pháp Thực Hiện Chương Trình Mục Tiêu Quốc Gia Về Nông Thôn Mới

(VOV5)- Trong chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, Chính phủ Việt Nam đã quyết định 7 giải pháp chủ yếu để thực hiện 11 nội dung mà Chương trình mục tiêu quốc gia đề ra, nhằm đạt mục tiêu cụ thể từ nay đến năm 2015 sẽ có khoảng 20% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và đến năm 2020 sẽ có 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới mà chính phủ đã ban hành.

Giải pháp thứ hai trong việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là quyết định, lựa chọn một cách khoa học, sát thực tế với từng địa phương những nội dung, việc làm cần ưu tiên thực hiện trước trong quá trình triển khai xây dựng nông thôn mới, trong đó phải kiên trì quy hoạch và bổ sung quy hoạch lại nông thôn theo tiêu chí nông thôn mới. Đến nay, việc quy hoạch nông thôn mới đã được các địa phương dần triển khai thực hiện. Ông Nguyễn Văn Khả, Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam cho hay: ” Năm 2012, huyện đang xúc tiến một số công việc, trong đó tập trung cho công tác quy hoạch, phấn đấu 4 xã làm điểm phải làm xong công tác quy hoạch và các xã còn lại phải xúc tiến công tác quy hoạch. Chủ trương xây dựng nông thôn mới là chủ trương đúng đắn và được sự đồng tình của nhân dân rất cao. Trong ngân sách của tỉnh, riêng trong năm nay tỉnh đã đầu tư cho huyện 5 tỷ đồng để xây dựng nông thôn mới.”

Việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới bao gồm cả việc kiên trì, lâu dài hỗ trợ nông dân về khoa học- kỹ thuật, ứng dụng tiến bộ khoa học vào nông nghiệp, nông thôn. Ngoài ra, việc đào tạo đội ngũ cán bộ cho xây dựng nông thôn cũng là một giải pháp cần thiết. Ông Tăng Minh Lộc cho biết Đảng và Nhà nước VN đã đầu tư khoản kinh phí không nhỏ để đào tạo đội ngũ cán bộ xây dựng nông thôn mới trong nhiều năm qua. Thêm nữa, Đảng và Nhà nước đã đổi mới một số chính sách, cơ chế hiện nay chưa phù hợp mà mục tiêu là tăng huy động nguồn lực xã hội cho xây dựng nông thôn mới. Ông Tăng Minh Lộc cho biết: ” Ở trong nhóm chính sách có những chính sách tín dụng để khuyến khích người dân vay xây dựng nông thôn mới, vay cho sản xuất để nâng thu nhập và đó là những nguồn để xây dựng nông thôn mới, rồi chính sách nữa là khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào xây dựng nông thôn mới, rồi chính sách thu hút cán bộ trẻ về công tác ở vùng sâu, vùng xa. Tất cả những chính sách này hiện nay đã có rồi. Ví dụ nghị định 41 về chính sách tín dụng nông thôn đã được cải thiện rất nhiều. Rồi nghị định 61 khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn. Rồi chính sách thu hút doanh nghiệp trẻ thì có nghị định 28 của chính phủ và chính phủ đang thực hiện chủ trương đưa 60 trí thức trẻ về các xã vùng sâu, vùng xa công tác xây dựng nông thôn mới. Đây là cách tăng cường đưa chất xám về xây dựng nông thôn.” Ảnh: chúng tôi Theo ông Tăng Minh Lộc, Cục trưởng Cục kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn, Chánh văn phòng Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, trong số 7 giải pháp thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giải pháp hàng đầu là thực hiện cuộc tuyên truyền vận động sâu rộng trong cả nước về xây dựng nông thôn mới. Ông Tăng Minh Lộc cho biết:“Điều này là rất cần vì đây là một chương trình mới, một nội dung mới nên muốn huy động được cả hệ thống chính trị vào cuộc và để người dân tham gia một cách tự giác thì phải cho họ hiểu thế nào là xây dựng nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới thì việc ở xã, ở làng thì thế nào, rồi cách nào để họ huy động được nguồn lực và cán bộ ở làng, ở xã tham gia vào chương trình này thế nào. Cái chính là chương trình này do người dân quyết định cách làm và được hưởng thụ thành quả từ cách làm đó.Có nhiều nơi họ có nhiều cách làm rất hay,ví dụ làm tờ rơi, tờ gấp, tuyên truyền trên hệ thống thông tin đại chúng, phát động các cuộc thi đua ở các nơi.”

Hệ thống giải pháp để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở VN còn có việc hình thành giá đỡ để nông dân yên tâm sản xuất sản phẩm nông, lâm ngư nghiệp. Theo đó, Chính phủ đã có quyết định về an ninh lương thực quốc gia, cũng có nghĩa là ổn định lâu dài khoảng 3,7 triệu ha diện tích đất trồng lúa. Ngoài ra, Nhà nước còn quy định giá mua lúa phải bảo đảm 30%-40% lợi nhuận cho nông dân trên giá thành và có nhiều chính sách bảo hiểm để nông dân yên tâm trồng lúa trong điều kiện có rủi ro do thời tiết, thiên tai, dịch bệnh. Nhà nước cũng đảm bảo tạo môi trường tốt nhất cho các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với trình độ cư dân từng xã, làng, từng loại hình sản phẩm cây trồng, vật nuôi, làng nghề… tính chất sản phẩm của từng dân tộc với mục tiêu tạo ra sản phẩm hàng hoá có giá trị cao, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn./.

Thu Hoa

Đảm Bảo An Ninh Môi Trường Cho Mục Tiêu Phát Triển Bền Vững

ThienNhien.Net – An ninh môi trường là một thành tố của an ninh quốc gia. Việc không đảm bảo an ninh môi trường có thể gây suy yếu nền kinh tế, gia tăng đói nghèo, gia tăng bất ổn chính trị, thậm chí trở thành ngòi nổ cho các cuộc xung đột và chiến tranh. Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới đang đứng trước rất nhiều thách thức về môi trường như: biến đổi khí hậu, tranh chấp nguồn nước, ô nhiễm xuyên biên giới… Do đó, cần đưa ra giải pháp nhằm làm giảm nhẹ các nguy cơ đe dọa an ninh môi trường, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển bền vững của đất nước, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay.

An ninh môi trường là gì?

Có rất nhiều cách định nghĩa về khái niệm này, trong đó, một số nhà nghiên cứu trong nước cho rằng an ninh môi trường là trạng thái ổn định và bền vững của môi trường có thể đáp ứng các điều kiện sống cơ bản của con người như cung cấp nơi ở, cung cấp năng lượng và nguyên liệu, khả năng chấp nhận chất thải, cung cấp thông tin khoa học và cung cấp các tiện nghi môi trường. Đây là một định nghĩa đúng nhưng chưa đủ bởi bên cạnh sự ổn định các điều kiện của môi trường đáp ứng điều kiện sống an toàn và bền vững của con người, an ninh môi trường còn bao hàm cả việc phát triển khoa học công nghệ an toàn, khoa học công nghệ “sạch”, đáp ứng đủ máy móc thiết bị để xử lý toàn bộ rác thải, khí thải, chất độc hại thải ra khỏi môi trường…

Như vậy, an ninh môi trường cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn, tức có sự tác động qua lại giữa con người với môi trường và môi trường với con người chứ không chỉ là tác động một chiều. Trong đó, chiều thứ nhất có thể được hiểu theo định nghĩa nêu trên – tức là trạng thái ổn định các điều kiện của môi trường đáp ứng điều kiện sống an toàn và bền vững của con người và chiều thứ hai chính là sự tác động an toàn của con người ngược trở lại môi trường (ở đâychính là ý thức giữ gìn môi trường sống của con người).

Riêng với Việt Nam, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra một cách mạnh mẽ đã và đang làm thay đổi đáng kể điều kiện sống của người dân. Tuy nhiên, hệ lụy của quá trình phát triển đánh đổi môi trường cũng nảy sinh nhiều tác động tiêu cực tới chất lượng cuộc sống. Theo Báo cáo tổng kết của Cục Cảnh sát môi trường năm 2014, cả nước hiện có hơn 300 khu công nghiệp, hàng trăm cụm công nghiệp nhỏ và khoảng hơn 2.000 làng nghề rải rác ở nhiều địa phương, tuy nhiên có đến 70% khu công nghiệp không có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn; hơn 90% cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không xử lý nước thải; hơn 4.000 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; khoảng 55 – 70% số doanh nghiệp không chấp hành quy định về lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết bảo vệ môi trường; 98% doanh nghiệp có hành vi vi phạm về xả nước thải không đạt chuẩn môi trường; 100% doanh nghiệp thải khí không có thiết bị xử lý chất độc hại. Đó là chưa kể đến một khối lượng lớn rác thải sinh hoạt đô thị, chất thải y tế hàng ngày, thuốc bảo vệ thực vật và chất độc hóa học được sử dụng trong chiến tranh vẫn tồn lưu ở nhiều nơi đang cần được xử lý. Ngoài ra, việc nhập khẩu chất thải dưới danh nghĩa phế liệu vào Việt Nam cũng có xu hướng ngày càng gia tăng, trong đó có các loại phế liệu độc hại như: ắc quy chì, tàu cũ… hay việc săn bắt, buôn bán động vật quý hiếm, chặt phá rừng vẫn diễn biến phức tạp và gay gắt tại rất nhiều địa phương.

Có thể nói, sự tác động thái quá của con người vào môi trường tự nhiên đang làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt và gây ra không ít sự cố đáng tiếc về môi trường như: thiên tai, lũ lụt, hạn hán, biến đổi khí hậu, ô nhiễm…

Giải pháp đảm bảo an ninh môi trường

Quản lý an ninh môi trường là một trong những giải pháp căn cơ nhất giúp phòng ngừa, ngăn chặn các loại hình tội phạm về môi trường, các nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường và góp phần quản trị rủi ro về môi trường. Tuy nhiên, để quản lý an ninh môi trường tốt, cần thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho người dân và doanh nghiệp về môi trường và bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường, trong đó, trước hết cần rà soát, loại bỏ những quy định không phù hợp, chưa đầy đủ hoặc gây cản trở hoạt động của cơ quan bảo vệ môi trường.

Ngoài ra, cần tập trung nghiên nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh nhằm tiết kiệm nhiên liệu, không gây ô nhiễm môi trường, đồng thời nâng cao năng lực quan trắc, dự báo, cảnh báo, khắc phục hậu quả thiên tai, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thêm nữa, cần làm tốt công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật về môi trường, đấu tranh ngăn chặn các loại tội phạm về môi trường; thúc đẩy hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường, trong đó cần đẩy mạnh việc quản lý, sử dụng và chia sẻ công bằng nguồn nước xuyên biên giới nhằm đảm bảo lợi ích quốc gia và đảm bảo an ninh môi trường.

TS. Nguyễn Trung Kiên, Học viện An ninh nhân dân

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giải Pháp Thực Hiện Mục Tiêu Phát Triển Công Nghiệp trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!