Đề Xuất 12/2022 # Giải Pháp Quan Trọng Để Nâng Cao Chất Lượng Sản Phẩm Nông Nghiệp Và Dịch Vụ, Tạo Bước Đột Phá Trong Phát Triển Kinh Tế Khu Vực Nông Thôn / 2023 # Top 14 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Giải Pháp Quan Trọng Để Nâng Cao Chất Lượng Sản Phẩm Nông Nghiệp Và Dịch Vụ, Tạo Bước Đột Phá Trong Phát Triển Kinh Tế Khu Vực Nông Thôn / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giải Pháp Quan Trọng Để Nâng Cao Chất Lượng Sản Phẩm Nông Nghiệp Và Dịch Vụ, Tạo Bước Đột Phá Trong Phát Triển Kinh Tế Khu Vực Nông Thôn / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chương trình OCOP – giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ, tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế khu vực nông thôn

()

Chương trình mỗi xã một sản phẩm (tên tiếng Anh là: One commune one product, gọi tắt là Chương trình OCOP). Chương trình OCOP là Chương trình phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hướng phát triển nội lực và gia tăng giá trị; là giải pháp, nhiệm vụ trong triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM. Trọng tâm của Chương trình OCOP là phát triển sản phẩm nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế ở mỗi địa phương theo chuỗi giá trị, do các thành phần kinh tế tư nhân (doanh nghiệp, hộ sản xuất) và kinh tế tập thể thực hiện. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, ban hành khung pháp lý và chính sách để thực hiện; định hướng quy hoạch các vùng sản xuất hàng hoá, dịch vụ; quản lý và giám sát tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm; hỗ trợ các khâu: Đào tạo, tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, tín dụng. OCOP yêu cầu cần được triển khai một cách có hệ thống với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, không phải là một phong trào hay cuộc vận động và không phải là nhiệm vụ của riêng ngành nông nghiệp.

Chương trình OCOP giải quyết hàng loạt vấn đề ở nông thôn như: hình thành và tái cấu trúc các hợp tác xã, doanh nghiệp ở vùng nông thôn trở thành chủ nhân của quá trình phát triển; tạo công ăn việc làm, thu nhập thông qua sản xuất và kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ có lợi thế; đào tạo, huấn luyện nhân lực tham gia OCOP;…Đó là các vấn đề cốt yếu mà Đảng, Nhà nước đã xác định trong các Nghị quyết: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với vai trò quan trọng của kinh tế hợp tác; xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính và hành động; mục tiêu 1 triệu doanh nghiệp, 15.000 hợp tác xã;…Vì vậy OCOP không đơn thuần là chương trình kinh tế, mà còn tham gia thực hiện các vấn đề về chính trị, xã hội ở vùng nông thôn do vậy cần có sự vào cuộc quyết liệt, sâu sát của cấp uỷ Đảng từ tỉnh đến huyện, xã để Chương trình được triển khai một cách có bài bản, nghiêm túc.

          Thực hiện Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018 – 2020; tỉnh Thái Nguyên đã ban hanh kế hoạch số 108/KH-UBND ngày 12/9/2018 về việc thực hiện Chương trình OCOP tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2018-2020 và đang hoàn thiện Đề án “Mỗi xã một sản phẩm” tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2019-2025 với các mục tiêu cụ thể./.

 *  Chu trình OCOP

Ban Thường vụ Tỉnh uỷ thông qua Đề án “Mỗi xã một sản phẩm”

tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2019 – 2025 tại kỳ họp định kỳ tháng 5/2019

Sở Nông nghiệp và PTNT tổ chức Hội nghị lấy ý kiến vào dự thảo

Đề án“Mỗi xã một sản phẩm tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2019-2025”

                                                   

                                                                        Bài và ảnh: Phan Duy

                                                                               (Văn phòng điều phối NTM tỉnh)

Giải Pháp Quan Trọng Nâng Cao Chất Lượng Sản Phẩm Nông Nghiệp / 2023

Lâm Đồng là tỉnh có điều kiện địa lý, khí hậu rất phù hợp cho việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao, tập trung qui mô lớn. Tuy nhiên công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh nông lâm sản và thủy sản còn nhiều hạn chế, tỷ lệ sản phẩm không đảm bảo chỉ tiêu về an toàn thực phẩm còn cao, gây dư luận và phản ứng không tốt trong nhân dân, niềm tin về thực phẩm an toàn còn thấp.

Nguyên nhân là hầu hết các cơ sở sản xuất, kinh doanh nông sản thực phẩm quy mô nhỏ, phân tán, tập quán canh tác, chăn nuôi, chế biến sản phẩm theo quy trình lạc hậu, nhận thức của người dân về an toàn thực phẩm chưa cao, việc dùng nhiều hóa chất, phân bón vô cơ, chất kích thích sinh trưởng, xử lý chất thải không đúng cách, sản xuất không theo quy hoạch, chưa gắn kết thành các chuỗi sản xuất an toàn và hệ thống quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm từ tỉnh tới các địa phương còn hạn chế dẫn đến việc kiểm soát an toàn thực phẩm còn nhiều bất cập. Xây dựng và phát triển các mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn là giải pháp yêu cầu tất cả các nhà sản xuất kinh doanh thực phẩm tuân thủ đầy đủ các yêu cầu đảm bảo an toàn thực phẩm, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng, tuân thủ quy định về hội nhập quốc tế, cơ sở để thực hiện hiệu lực, hiệu quả, luật pháp về an toàn thực phẩm, đồng thời nâng cao vai trò trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với cộng đồng. Việc triển khai mô hình kiểm soát theo chuỗi là chia sẻ rủi ro và trách nhiệm cho người dân, doanh nghiệp, cùng nhau cam kết thực hiện các qui định chặt chẽ trong sản xuất thực phẩm, cùng nhau thúc đẩy sản xuất, nâng cao giá trị và tiêu thụ sản phẩm.

Những năm qua Lâm Đồng đã xây dựng thành công và vận hành gần 30 chuỗi sản phẩm an toàn: Các chuỗi điển hình gồm: HTX Anh Đào, HTX DVNN Tổng hợp Tân Tiến, Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phong Thúy, Công Ty TNHH Đà Lạt GAP, HTX Xuân Hương, Công ty Cao Nguyên, HTX Minh Thúy, HTX Tiến Huy … với sản lượng 100.000 tấn/năm chiếm tỷ lệ 0,05% sản lượng rau toàn tỉnh. Công ty TNHH Long Đỉnh, xí nghiệp chế biến trà Cầu Tre, Doanh nghiệp chè Phước Lạc, Công ty Phú Sơn, Công ty Sơn Điền,  Công ty Phương Nam… với sản lượng chè thành phẩm 2.100 tấn/năm chiếm tỷ lệ 4,66% sản lượng chè toàn tỉnh. Ngoài ra, còn một số doanh nghiệp sản xuất chè Oolong đầu tư xây dựng chuỗi khép kín từ vùng nguyên liệu đến sơ chế, chế biến và tiêu thụ như: Công ty Fushang, Haiyih, Hà Linh, Phú Sương… với diện tích 300ha, sản lượng thành phẩm 900 tấn/năm, chiếm 2% sản lượng chè toàn tỉnh.

Một số cơ sở đã xây dựng được trung tâm sau thu hoạch đạt tiêu chuẩn VietGAP hoặc GMP, HACCP với nhiệm vụ thu gom, sơ chế, chế biến, đóng gói và ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm an toàn với các trung tâm thương mại, siêu thị, nhà hàng, khách sạn, bếp ăn tập thể, chợ đầu mối nông sản và xuất khẩu. Các chuỗi sản phẩm đang vận hành được kiểm tra, giám sát thường xuyên của các cơ quan chuyên môn cũng như tự giám sát nội bộ, vì thế các chỉ tiêu phân tích dư lượng (thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, vi sinh…) không vượt quá mức giới hạn cho phép, được các siêu thị, nhà hàng có uy tín chấp nhận.

Để xây dựng thành công chuỗi sản phẩm an toàn, các cơ sở sản xuất phải lựa chọn địa điểm phù hợp quy hoạch vùng sản xuất của tỉnh, có cá nhân hoặc tập thể trong chuỗi tổ chức thu gom, sơ chế, chế biến; có kiến thức vận hành mô hình chuỗi, có khả năng tài chính để nâng cấp cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị của cơ sở, thực hiện đúng các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật được Nhà nước ban hành, có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm ổn định và thực hiện đúng các hợp đồng đã ký kết.

Chuỗi sản phẩm an toàn chỉ thành công khi tất cả cán bộ quản lý, nhân viên (trực tiếp và gián tiếp) của cơ sở tham gia mô hình chuỗi hiểu và nắm vững kiến thức về thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP hoặc VietGAHP), thực hành sản xuất tốt (GPPs), phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP), hệ thống kiểm soát tiên tiến (ISO)… và hệ thống kiểm soát về an toàn thực phẩm trong sản xuất và chế biến tiêu thụ sản phẩm. Các thành viên tham gia chuỗi an toàn thực phẩm phải thực hiện thành công và được cấp giấy chứng nhận VietGAP hoặc VietGAHP, chứng nhận GMP hoặc HACCP, ISO hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm (sơ chế, chế biến, đóng gói). Xây dựng được hệ thống quản lý chất lượng, phân tích mối nguy gây mất an toàn thực phẩm và đảm bảo truy xuất nguồn gốc sản phẩm không an toàn. Kiểm soát liên tục được chất lượng sản phẩm qua các công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ và có thị trường tiêu thụ ổn định thông qua ký kết hợp đồng, xây dựng được thương hiệu của cơ sở.

Dự kiến từ nay đến năm 2020, Nhà nước sẽ  hỗ trợ xây dựng thành công và chứng nhận 30 chuỗi sản phẩm điển hình cho những sản phẩm chủ lực của tỉnh (rau, chè, cà phê, cây ăn quả, cây dược liệu, bò sữa, lợn, gà) đang có nguy cơ cao về mất an toàn thực phẩm làm cơ sở để các địa phương tham quan, học tập, khuyến khích cơ sở tự xây dựng mô hình chuỗi sản phẩm an toàn đồng thời hỗ trợ nhân rộng 10 mô hình, mở rộng qui mô của các mô hình chuỗi đã thành công.

Việc xây dựng và phát triển các mô hình sản xuất theo chuỗi sẽ giúp cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát an toàn thực phẩm theo quy định trong Luật An toàn thực phẩm. Xây dựng và phát triển các chuỗi thực phẩm an toàn ”Từ trang trại đến bàn ăn” là một giải pháp hết sức cần thiết có tính đột phá và bền vững để quản lý tốt chất lượng, an toàn thực phẩm, đồng thời đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng địa phương và hội nhập quốc tế.

 

 

Văn Hồng – Chi cục Quản lý Chất lượng NLS và TS Lâm Đồng

Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Trong Hoạt Động Phát Triển Nông Thôn / 2023

Nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong hoạt động phát triển nông thôn được quy định như thế nào? Xin chào Ban biên tập Thư Ký Luật. Tôi tên là Minh Thùy, sống tại Bình Dương. Hiện nay tôi đang làm việc trong lĩnh vực môi trường. Tôi đang tìm hiểu về nhiệm vụ quyền hạn của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và tôi có một số thắc mắc nhỏ cần được giải đáp. Cụ thể là: Trong hoạt động phát triển nông thôn, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có những nhiệm vụ, quyền hạn gì? Văn bản nào quy định về vấn đề này? Mong nhận được câu trả lời từ Ban biên tập Thư Ký Luật. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban biên tập Thư Ký Luật. (0905***)

Theo quy định tại Khoản 9 Điều 2 Thông tư liên tịch 14/2015/TTLT-BNNPTNT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về nông nghiệp và phát triển nông thôn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Bộ Nội vụ ban hành thì nhiệm vụ quyền hạn của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong hoạt động phát triển nông thôn được quy định như sau:

a) Tổng hợp, trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh về cơ chế, chính sách, biện pháp khuyến khích phát triển nông thôn; phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại nông thôn, kinh tế hợp tác, hợp tác xã nông, lâm, ngư, diêm nghiệp gắn với ngành nghề, làng nghề nông thôn trên địa bàn cấp xã. Theo dõi, tổng hợp báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh về phát triển nông thôn trên địa bàn;

c) Hướng dẫn phát triển kinh tế hộ, trang trại, kinh tế hợp tác, hợp tác xã, phát triển ngành, nghề, làng nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh;

d) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện công tác xóa bỏ cây có chứa chất gây nghiện theo quy định; định canh, di dân, tái định cư trong nông nghiệp, nông thôn; đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn;

đ) Tổ chức thực hiện chương trình, dự án hoặc hợp phần của chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; xây dựng khu dân cư; xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn theo phân công hoặc uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

Trân trọng!

Giải Pháp Mở Rộng Tín Dụng Phát Triển Kinh Tế Hộ Sản Xuất Ở Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Hà Tây / 2023

Kinh tế thị trường là qui luật phát triển đi lên của bất cứ quốc gia nào. Đại hội Đảng lần thứ IX, một lần nữa Đảng ta khẳng định, Việt Nam quyết tâm xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước. Trong các thành phần kinh tế này thì tập trung phát triển kinh tế cá thể đang là một chính sách, một định hướng lớn của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình đẩy mạnh CNH_HĐH, bởi vì xét cho cùng thì sự phát triển của một đất nước phải đi từ mỗi người dân, từ mỗi gia đình. Với sự chuyển đổi sang cơ chế thị trường thì kinh tế hộ gia đình ngày càng trở nên quan trọng hơn. Sớm nhận thức thấy vai trò quan trọng của kinh tế cá thể đối với quá trình phát triển kinh tế của đất nước, Nghị quyết 10- NQ/TW ngày 05/04/1988 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã đưa hộ gia đình vào trọng tâm của sự phát triển kinh tế, hộ gia đình được tự chủ trong việc quyết định hướng phát triển kinh tế cho gia đình dựa trên nguồn tài nguyên, nhân lực hiện có. Bộ mặt kinh tế nông thôn đã và đang có những chuyển biến khởi sắc đáng kể đặc biệt từ khi Nhà nước có chính sách giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình để sản xuất lâu dài, tạo cơ sở vững chắc cho các hộ có thể yên tâm đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc giao ruộng đất cho các hộ sử dụng ổn định lâu dài với 5 quyền năng: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế, kết hợp với chính sách hỗ trợ nông dân phát triển kinh tế như mở rộng các hoạt động tín dụng trong nông thôn, tăng cường khuyến nông, khuyến lâm, ngư. đã khuyến khích nông dân phát triển khả năng sẵn có về đất đai, sức lao động, tiền vốn để đẩy mạnh sản xuất. Hiện nay có rất nhiều hộ có khả năng về lao động, sản xuất, quản lý. song không thể tiến hành mở rộng sản xuất kinh doanh được do thiếu vốn đầu tư. Tuy nhiên do một số hạn chế trong cơ chế chính sách, qui trình nghiệp vụ, cơ sở vật chất mạng lưới. cho nên các Ngân hàng về cơ bản chưa đáp ứng được đủ nhu cầu vốn cho nền kinh tế nói chung, vốn cho các hộ sản xuất nói riêng. Qua quá trình học tập ở nhà trường và thực tế nghiên cứu hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT Hà Tây, với mong muốn Ngân hàng sẽ là người bạn đường tích cực cùng với nông dân, với các hộ gia đình phát triển kinh tế, em quyết định lựa chọn đề tài: “Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu bài viết gồm ba chương: Chương I: Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với phát triển kinh tế hộ sản xuất. Chương II: Hoạt động tín dụng phát triển kinh tế hộ tại NHNo&PTNT Hà Tây. Chương III: Một số giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ tại NHNo&PTNT Hà Tây.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giải Pháp Quan Trọng Để Nâng Cao Chất Lượng Sản Phẩm Nông Nghiệp Và Dịch Vụ, Tạo Bước Đột Phá Trong Phát Triển Kinh Tế Khu Vực Nông Thôn / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!