Đề Xuất 12/2022 # Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế, Tạo Đột Phá Trong Nhiệm Kỳ Mới / 2023 # Top 14 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế, Tạo Đột Phá Trong Nhiệm Kỳ Mới / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế, Tạo Đột Phá Trong Nhiệm Kỳ Mới / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cây bưởi Diễn được coi là cây trồng mũi nhọn trong phát triển cây ăn quả tại huyện Yên Lập. Ảnh: Chí Thành

PTĐT – Nhiệm kỳ 2015-2020, mặc dù còn nhiều khó khăn song Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc huyện Yên Lập đã nỗ lực đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực với 20/21 chỉ tiêu đạt và vượt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Yên Lập lần thứ XXIII đề ra; thu hút đầu tư kết cấu hạ tầng đạt nhiều kết quả, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt trên 4.100 tỷ đồng với trên 500 công trình, góp phần đổi thay diện mạo nông thôn. Thị trấn Yên Lập đạt tiêu chuẩn đô thị loại V, huyện có 5/16 xã đạt chuẩn nông thôn mới. 

Bước vào nhiệm kỳ 2020-2025, từ những bài học kinh nghiệm có được từ nhiệm kỳ trước, huyện Yên Lập đã đề ra nhiều nhóm nhiệm vụ và giải pháp tích cực, có tính khả thi, hướng tới mục tiêu đưa huyện Yên Lập phát triển toàn diện, bền vững. Để tạo đột phá trong nhiệm kỳ mới, Yên Lập tập trung thực hiện 2 nhiệm vụ trọng điểm trong phát triển kinh tế là “Phát triển kinh tế đồi rừng trọng tâm là phát triển cây gỗ lớn, cây dược liệu và cây ăn quả” và “Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng gắn với xây dựng nông thôn mới”. Từ đặc điểm đất đai, khí hậu và trình độ canh tác, huyện Yên Lập tiếp tục xác định phát triển sản xuất nông- lâm nghiệp bền vững là yếu tố đảm bảo thu nhập chủ yếu, đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ và hướng đến sản xuất hàng hóa. Đến nay huyện đã từng bước hình thành 4 tiểu vùng kinh tế phù hợp với các loại cây trồng vật nuôi, trong đó lấy phát triển kinh tế đồi rừng là trọng tâm, tập trung vào phát triển cây gỗ lớn, cây dược liệu và cây ăn quả. Nhờ lợi thế thổ nhưỡng, huyện đẩy mạnh việc trồng và phát triển các loại cây dược liệu như quế, nghệ đỏ, đàn hương…tại vùng thượng huyện và hạ huyện.  Bên cạnh đó, huyện tiếp tục quảng bá đặc sản nếp Gà gáy Mỹ Lung và mở rộng diện tích cây bưởi, cây chè, xây dựng thương hiệu lợn rừng lai, cây măng gầy Trung Sơn… Chủ trương của huyện là đẩy mạnh dồn đổi, tích tụ đất đai gắn với thu hút các nguồn lực đầu tư vào nông nghiệp, nhất là các diện tích đất sau khi dồn đổi; từng bước tổ chức chăn nuôi theo hướng trang trại, tập trung quản lý sản phẩm khép kín từ chuồng nuôi đến thị trường tiêu thụ; khai thác diện tích mặt nước để phát triển thuỷ sản chất lượng cao; tăng cường liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp để hình thành chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm.  Yên Lập là huyện đi đầu trong thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng phòng hộ, phòng, chống cháy rừng; trồng rừng mới hằng năm từ 1.200ha trở lên, trong đó phát triển, mở rộng diện tích chuyển hóa và trồng cây gỗ lớn trung bình 400ha/năm. Nhờ lợi thế về đồi rừng, Yên Lập đẩy mạnh phát triển lĩnh vực công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp như khai thác vật liệu xây dựng, chế biến chè, gỗ, tinh dầu quế, các ngành nghề phục vụ nông nghiệp, nông thôn, hướng tới mục tiêu đưa công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp tăng trưởng 11,05%/năm. Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ trọng điểm về đầu tư kết cấu hạ tầng gắn với xây dựng nông thôn mới, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội, Yên Lập đã huy động các nguồn vốn để đầu tư, phấn đấu giai đoạn 2020 – 2025 tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội đạt từ 5.000 tỷ đồng trở lên; tập trung hoàn thành hạ tầng các cụm công nghiệp, khu đô thị, khu nhà ở và các công trình, dự án trọng điểm. Trong đó đầu tư hạ tầng các cụm công nghiệp Lương Sơn, thị trấn Yên Lập kết nối với khu công nghiệp Cẩm Khê đồng thời quy hoạch, xây dựng mới Cụm công nghiệp Đồng Lạc, Mỹ Lung nhằm thu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển công nghiệp dệt may và chế biến nông lâm sản, dược liệu giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động địa phương. Phấn đấu đến năm 2025 tỷ lệ lấp đầy hai cụm công nghiệp thị trấn Yên Lập và Lương Sơn đạt 100%, đảm bảo 100% các cơ sở sản xuất kinh doanh xây dựng thực hiện đúng cam kết bảo vệ môi trường, xử lý chất thải.  Cùng với đó, tiếp tục thu hút các dự án đầu tư có tính kết nối liên vùng; mở mới tuyến đường đối ngoại kết nối trung tâm huyện với cao tốc Nội Bài – Lào Cai tại nút giao IC10 và cải tạo, nâng cấp quốc lộ 70B, tuyến đường nối Chiến khu Phục Cổ (xã Minh Hòa) với Chiến khu Vạn Thắng (huyện Cẩm Khê); phát triển giao thông nông thôn để đảm bảo nhu cầu đi lại của nhân dân và giao thương hàng hóa. Đến năm 2025, phấn đấu tỷ lệ đường giao thông nông thôn được cứng hoá đạt từ 65% trở lên; huyện có thêm 3 xã đạt chuẩn nông thôn mới; bình quân đạt 17,5 tiêu chí/xã; có thêm 28 khu đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 5 khu đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.  Để khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động thương mại và dịch vụ, huyện chủ động tập trung giải phóng mặt bằng, thu hút các tổ chức, cá nhân trong và ngoài huyện đầu tư xây dựng các trung tâm thương mại, các cửa hàng kinh doanh dịch vụ, đưa vào hoạt động khu sinh thái dịch vụ tổng hợp Hồ thủy điện, khu vui chơi giải trí và trung tâm thương mại dịch vụ tổng hợp huyện Yên Lập. Tăng cường tuyên truyền, quảng bá sản phẩm hàng hóa của địa phương thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại, hội chợ. Cải tạo, nâng cấp một số chợ nông thôn, phát triển hệ thống bán lẻ ở tất cả các xã trên địa bàn huyện.  Tiếp tục quảng bá, xúc tiến mời gọi đầu tư, tạo điều kiện mời gọi các nhà đầu tư xây dựng một số dự án phát triển dịch vụ, du lịch sinh thái thuộc quy hoạch phát triển du lịch phía Tây Nam Phú Thọ như: Khu di tích lịch sử – văn hóa Căn cứ Tôn Sơn, Mộ Xuân- xã Xuân An, hướng tới phát triển du lịch sinh thái hồ Ngòi Giành sau khi công trình hoàn thành, đưa vào khai thác để kết nối với mạng lưới du lịch chung toàn tỉnh. Khuyến khích các làng nghề ở nông thôn phát triển nghề truyền thống; gắn phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với dịch vụ nhằm thu hút, giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động tại địa phương, nâng tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ, thương mại đạt 7,35% trở lên.  Với truyền thống quê hương anh hùng, tiếp nối những thành tích đã đạt được, Đảng bộ chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Yên Lập tiếp tục đoàn kết, khai thác và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, tạo đột phá mới trong thực hiện hai nhiệm vụ trọng điểm trong phát triển kinh tế, hướng tới xây dựng huyện Yên Lập phát triển toàn diện, bền vững.  Trần Việt Hùng   Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Yên Lập 

Đề Xuất Các Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Kinh Tế / 2023

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho rằng, năm 2019 có nhiều khó khăn phát sinh, tác động không thuận đến sự phát triển kinh tế-xã hội nhưng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, các mục tiêu đã đạt được.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Chiều 30/12, tại Hội nghị Chính phủ với các địa phương triển khai Nghị quyết của Quốc hội khóa XIV về nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2020, các đại biểu đều đánh giá cao sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời, hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã theo sát những diễn biến của tình hình trong nước và quốc tế để có chính sách, biện pháp ứng phó, điều hành linh hoạt.

Các đại biểu cũng đề xuất nhiều giải pháp nhằm hoàn thành thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2020.

Bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong triển khai thực hiện

Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cho rằng, năm 2019 có nhiều khó khăn phát sinh, tác động không thuận đến sự phát triển kinh tế-xã hội nhưng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra đã đạt được.

Theo Bộ trưởng, có được kết quả này là do sự chỉ đạo xuyên suốt, sự điều hành kiên định của Chính phủ nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Bên cạnh đó, hệ thống các chủ trương, chính sách trong phát triển kinh tế-xã hội được bảo đảm đồng bộ, hiệu quả. Chính phủ đã chủ động rà soát các văn bản pháp quy để báo cáo Quốc hội sửa đổi, cập nhật kịp thời, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

Điều này góp phần khai thác, phát huy mạnh mẽ các nguồn lực mới phục vụ đầu tư phát triển đất nước, nhất là nguồn lực xã hội, khu vực doanh nghiệp tư nhân, đầu tư nước ngoài.

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh chỉ rõ, năm 2020 sẽ ẩn chứa nhiều khó khăn, thách thức khi tình hình thế giới diễn biến nhanh, các đối tác, thị trường lớn khó đoán định, chưa thể dự báo hết được.

Các chỉ tiêu kế hoạch năm 2020 được xác định với yêu cầu rất cao (so với nền tảng đã đạt được ở mức cao của năm 2019) cũng là thách thức lớn đối với các bộ ngành, địa phương.

Vì thế, để đạt được các mục tiêu đề ra cần quyết tâm lớn của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương.

Thống nhất với các yêu cầu, chỉ đạo của Chính phủ, đặc biệt các nội dung trong Nghị quyết số 01 và Nghị quyết số 02 của Chính phủ, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho biết, thời gian tới, Bộ sẽ tập trung cụ thể hóa các nghị quyết này thành chương trình, kế hoạch hành động cụ thể của ngành Công Thương để tổ chức triển khai thực hiện.

Bên cạnh đó, tiếp tục phát huy bài học kinh nghiệm trong chỉ đạo điều hành những năm qua. Bộ trưởng cho rằng, cần bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong phối hợp chính sách giữa các bộ, ngành và tổ chức thực hiện ở các địa phương.

Theo Bộ trưởng, năm 2020, việc bảo đảm thị trường cho sản xuất, đầu tư trong nước sẽ đối mặt nhiều thách thức. Trước tình hình đó, Bộ Công Thương xác định nhiệm vụ là tiếp tục duy trì môi trường ổn định đối với các đối tác để thực hiện chiến lược đa phương hóa, đa dạng hóa, tránh sự phụ thuộc quá lớn vào một thị trường.

Bộ cũng đồng hành cùng với các bộ, ngành để tổ chức chương trình hành động, hỗ trợ hiệu quả các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp trong công tác phát triển thị trường, tổ chức lại sản xuất, hình thành các chuỗi sản xuất để tiếp cận bền vững thị trường quốc tế.

Ngoài ra, theo Bộ trưởng, cần nâng cao năng lực thể chế trong đấu tranh chống gian lận thương mại để xử lý vụ kiện, tranh chấp thương mại trong nước, quốc tế, từ đó hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tiếp cận thị trường bền vững.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh phát biểu. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Nâng cao năng lực ứng phó

Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường, năm 2020, bên cạnh những yếu tố thuận lợi cũng có nhiều thách thức lớn, trong đó có các khó khăn về thương mại, thị trường, biến đổi khí hậu, dịch bệnh… ảnh hưởng đến ngành Nông nghiệp.

“Có rất nhiều giải pháp nhưng phải nhấn mạnh giải pháp nâng cao kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực ứng phó với các tình huống xảy ra. Đây là giải pháp thường trực trong năm 2020,” Bộ trưởng nhấn mạnh

Theo Bộ trưởng, năm 2020 chỉ tiêu của ngành nông nghiệp là khá cao. Tốc độ tăng trưởng GDP đạt từ 2,91-3%; xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt từ 41,5-42 tỷ USD; có ít nhất 59% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. “Với chỉ tiêu này, Bộ, ngành sẽ quyết tâm phấn đấu ở mức cao nhất,” Bộ trưởng chỉ rõ.

Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ phối hợp với các bộ, ngành xây dựng các biện pháp, kế hoạch thực hiện để phấn đấu đạt được các chỉ tiêu cao nhất Nghị quyết của Chính phủ đề ra.

Bộ trưởng cho rằng, việc phát triển thị trường là khâu quyết định đến sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp nói riêng, tăng trưởng nền kinh tế nói chung. Bên cạnh các thị trường EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, ngành đặc biệt coi trọng hướng tới thị trường ASEAN.

Bộ Nông nghiệp sẽ phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương, các địa phương, doanh nghiệp, ngành hàng chuẩn bị đủ các điều kiện để thực hiện tốt vấn đề này.

Bên cạnh đó, theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, trong tái cơ cấu nông nghiệp gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, kể cả 3 trục sản phẩm là: nhóm sản phẩm cấp quốc gia, cấp tỉnh, nhóm OCOP (chương trình mỗi xã một sản phẩm) đều phải coi trọng ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là một trong những giải pháp quyết định.

Trong sản xuất chuỗi khép kín, từ khâu sản xuất đên chế biến, thương mại thì chế biến phải được xác định là khâu đột phá, có chế biến tốt mới có vùng nguyên liệu tốt, thương mại tốt mới bán được hàng…

Đối với vấn đề nông thôn mới, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường chỉ rõ, việc nâng cao đời sống nhân dân, thúc đẩy sản xuất ở vùng nông thôn gắn với môi trường là vấn đề cốt lõi.

Bộ trưởng cũng nhấn mạnh tới các giải pháp tăng cường ứng phó thiên tai, dịch bệnh ngay từ đầu năm; khắc phục hạn mặn xâm nhập ngày càng nghiêm trọng ở các tỉnh phía Nam. Đối với thị trường thịt lợn, Bộ đang tập trung tái đàn ở các tỉnh để tháng 1/2020 không xảy ra tình trạng thiếu thực phẩm, tránh để chỉ số giá tiêu dùng tăng cao ngay từ quý đầu năm./.

Theo Phan Phương (TTXVN/Vietnam+)

Link gốc:

5 Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Kinh Tế Vùng Đông Nam Bộ / 2023

(DĐDN) – Tại Diễn đàn Kinh tế Đông Nam Bộ 2016 diễn ra ngày 16/9, ông Đặng Xuân Quang – Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đã đưa ra 5 giải pháp đột phá nhằm phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ.

Ông Đặng Xuân Quang – Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Vị trí, vai trò đặc biệt

Ông Quang cho biết, vùng kinh tế Đông Nam Bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của cả nước.

Đây là vùng duy nhất hiện nay hội tụ đầy đủ các điều kiện và lợi thế để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đặc biệt phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử, tin học, công nghiệp dầu khí và sản phẩm hóa dầu; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du lịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng; nghiên cứu, ứng dụng và triển khai khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao.

Vùng kinh tế Đông Nam Bộ đã hình thành mạng lưới đô thị vệ tinh phát triển xung quanh thành phố Hồ Chí Minh, liên kết bởi các tuyến trục và vành đai thông thoáng. Đông Nam Bộ là một vùng công nghiệp trọng yếu lớn nhất của cả nước, đã hình thành và liên kết mạng lưới các KCN tập trung và phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn và cơ bản như: khai thác và chế biến dầu khí, luyện cán thép, năng lượng điện, công nghệ tin học, hóa chất cơ bản, phân bón và vật liệu… làm nền tảng công nghiệp hóa của vùng và của cả nước.

Cũng theo ông Quang, Đông Nam Bộ là vùng kinh tế năng động nhất cả nước trong việc thu hút đầu tư nước ngoài (ĐTNN). Ngay từ những năm đầu tiên của công cuộc đổi mới, ĐTNN đã nhanh chóng tập trung vào TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ , góp phần vào sự phát triển bứt phá của cả vùng. Cho đến nay, kim ngạch xuất khẩu của vùng chiếm gần 60% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Tính theo độ mở cửa kinh tế, đo bằng tỷ trọng xuất khẩu trên GDP, vùng có chỉ số mở cửa đạt gần 110% trong khi chỉ số cả nước chỉ khoảng 70%. Tỷ lệ đầu tư trên GDP chiếm 50%, cao gấp 1,5 lần so với cả nước; có nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao hơn khoảng 1,4 – 1,6 lần so với nhịp độ tăng trưởng bình quân chung cả nước.

Các dự án ĐTNN đã đi tiên phong trong hầu hết các ngành, lĩnh vực ưu thế của vùng. Tính đến tháng 8/2016, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư 11.537 dự án với tổng vốn 140,2 tỷ USD; điều đặc biệt là số lượng dự án và vốn đầu tư này chiếm 57,4% và 48,4% FDI của cả nước; các dự án FDI của vùng tập trung 55,8% số dự án và 58,0% vốn đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp và chế tạo.

5 giải pháp đột phá

Với vai trò là khu vực năng động, dẫn đầu cả nước về thu hút ĐTNN, dự kiến trong giai đoạn 2016 – 2020, tổng vốn đầu tư FDI vào toàn vùng đạt khoảng gần 60 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm khoảng từ 45-55% ĐTNN của cả nước. Đồng thời, Đông Nam Bộ cần giữ vai tiên phong trong việc chuyển hướng chiến lược trong việc thu hút ĐTNN – tập trung vào việc thu hút các dự án có hàm lượng công nghệ cao, thân thiện với môi trường.

Để đạt được các yêu cầu nêu trên, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài Đặng Xuân Quang đề nghị các địa phương vùng Đông Nam Bộ tập trung vào các giải pháp sau đây:

Một là, hoàn thiện quy hoạch các quy hoạch chuyên ngành cho không gian phát triển kinh tế – xã hội, nhất là quy hoạch sử dụng đất để tạo quỹ đất sạch thu hút đầu tư; quan tâm làm tốt công tác quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch phát triển đô thị. Kiện toàn hệ thống cơ sở hiện đại, đạt tiêu chuẩn cấp khu vực. Các mạng lưới giao thông đường bộ, đường thủy, đường không phải gắn kết với hệ thống vành đai các cụm, khu công nghiệp, khu chế biến tạo nên môi trường công nghiệp hiện đại, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, tăng năng lực cạnh tranh.

Hai là, trong điều kiện không gian hợp tác kinh tế quốc tế được mở rộng, với việc Việt Nam nỗ lực đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh đồng thời với việc gia nhập hàng loạt các cam kết quốc tế thế hệ mới sẽ tạo điều kiện cho nhiều phương thức thu hút đầu tư nước ngoài mới như M&A trong lĩnh vực công nghệ, tài chính, bất động sản… Hợp tác công tư (PPP) trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng và Mô hình khởi nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận với các nguồn vốn nước ngoài.

Ba là, trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội ở mức cao trong nhiều năm, dư địa nguồn lực cho phát triển còn lại của vùng (như đất đai, nguồn nhân lực…) sẽ phải tập trung cho các ngành ngành sản xuất công nghệ cao, công nghệ sinh học, dược phẩm…; cùng với việc phát triển dịch vụ về tài chính, công nghệ, sở hữu trí tuệ, dịch vụ vận tải, logistic, dịch vụ kinh doanh du lịch, y tế, giáo dục, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ hàng hải…có giá trị gia tăng cao sẽ là những ngành trọng điểm ưu tiên thu hút đầu tư trong giai đoạn tới.

Bốn là, xây dựng hệ thống đào tạo nhân lực có trình độ chuyên môn đạt tầm khu vực và quốc tế. Đảm bảo vùng cung cấp dồi dào nguồn nhân lực chất lượng cao với chi phí cạnh tranh cho các ngành công nghiệp hỗ trợ, chế biến – chế tạo. Đây phải được xem là giải pháp đột phá cả trong ngắn và dài hạn để đảm bảo Vùng kinh tế ĐPN phát triển bền vững.

Năm là, tăng cường các hoạt động hợp tác liên kết vùng để mở rộng khả năng tiếp cận thị trường; chú trọng liên kết với các tỉnh, nhất là các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long, miền Trung – Tây Nguyên để tạo thành chuỗi cung ứng sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng và hiệu quả cao; tạo ra thế mạnh, sức lan toả để phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn.

Hải Minh

Giải PháP Đột Phá PháT Triển GiáO Dục / 2023

Thứ tư, 12/10/2011 07:20

Trong đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục, cần có nhận thức mới về phát triển giáo dục theo hướng bảo đảm chất lượng của phát triển giáo dục, không làm giáo dục theo kiểu “phong trào”. Phát triển giáo dục nhanh và bền vững là yêu cầu cấp bách, nhưng cũng là yêu cầu lâu dài có ý nghĩa sống còn với giáo dục Việt Nam. Giáo dục Việt Nam tuy đã đạt được rất nhiều thành tựu, đã khởi sắc thực sự, song giáo dục Việt Nam vẫn là nền giáo dục của một nước nghèo, một nước trong những nước đang phát triển.

Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục là cánh cửa để dân tộc ta sáng tạo ra trí tuệ

và tiếp nhận thành tựu văn minh của nhân loại.

Để giáo dục có thể phát triển ngang tầm các nền giáo dục của các nước phát triển chỉ có thể phát triển nhanh và bền vững mới có điều kiện thúc đẩy giáo dục phát triển có hiệu quả và có sức cạnh tranh, không chạy theo “tốc độ thành tích”, không chạy theo số lượng, mở rộng quy mô đơn thuần; coi trọng nâng cao không ngừng chất lượng giáo dục để ngày càng một nâng cao vị thế giáo dục Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Phát triển giáo dục nhanh, bền vững và hiệu quả là tạo sức cạnh tranh cho kinh tế- xã hội, vì thực chất công cuộc cạnh tranh kinh tế- xã hội giữa các nước hiện nay là cạnh tranh về giáo dục. Phát triển nhanh và bền vững về giáo dục là góp phần đưa con người vào vị trí trung tâm của tiến trình phát triển kinh tế- xã hội ở nước ta, giáo dục tạo cơ hội giúp cho mọi người phát huy được tài năng, trí tuệ, sở trường, năng lực của mình, tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của quá trình đổi mới toàn diện nước ta mà Đảng đang thực hiện. Chất lượng cuộc sống của mỗi người ngày một nâng cao.

Các chính sách xã hội về giáo dục được thực hiện theo tinh thần: Nhà nước ngày một tăng nguồn lực cho giáo dục, thực hiện nhiều chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục, hỗ trợ các vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số, diện chính sách và người nghèo… ngày càng được hưởng nhiều chính sách ưu đãi về giáo dục, đồng thời phát huy tiềm năng, trí tuệ và các nguồn lực vật chất trong và ngoài nước của nhân dân, Việt kiều và các tổ chức quốc tế. Xác định điều kiện mới, động lực mới để thúc đẩy sự phát triển của bản thân hệ thống giáo dục. Sự tương quan phát triển giáo dục với các lĩnh vực khác trong phát triển kinh tế- xã hội, trong công cuộc đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng nền giáo dục dân tộc, chất lượng, tiên tiến, hiện đại để làm nền tảng cho nền kinh tế mới đang ngày một phát triển.

Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011- 2020 đã xác định một trong các khâu đội phá chiến lược là “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển khoa học công nghệ”. Cạnh tranh phát triển kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới hiện nay, nói cho cùng bản chất là cạnh tranh sự phát triển giáo dục. Giáo dục phát triển sẽ đào tạo ra nguồn nhân lực mới, nguồn nhân lực chất lượng cao. Do vậy, trong suốt những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu và có thể nói đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là quốc sách.

Kinh nghiệm 25 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới giáo dục cho thấy giáo dục nước ta muốn thực hiện tốt được những nhiệm vụ như đã nêu ở trên và nhất là muốn đổi mới căn bản và toàn diện thành công trong thập niên tới cần thực hiện các giải pháp đột phá.

Thứ nhất, đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về giáo dục trên cơ sở tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính giáo dục. Thống nhất một đầu mối quản lý nhà nước về giáo dục; quản lý theo pháp quyền trên cơ sở một hệ thống pháp luật giáo dục đồng bộ với sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, địa phương và triệt để phân cấp quản lý giáo dục; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các cơ sở giáo dục, nhất là các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Tăng hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục trong toàn ngành ở tất cả các cấp quản lý nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra giáo dục; chuyển dần quản lý nhà nước về giáo dục nặng về hành chính sang quản lý chất lượng và từ quản lý nhà nước theo cách kiểm soát sang giám sát mọi hoạt động giáo dục. Nâng cao vai trò các tổ chức xã hội nghề nghiệp giáo dục như Hội Giáo chức, Hội Khuyến học, liên hiệp hội các trường ngoài công lập… trong phát triển giáo dục.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, hiện đại và liên thông.

Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở và liên thông, chuẩn hóa, hiện đại hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế- xã hội trong đó đặc biệt coi trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao ở tất cả các cấp trình độ.

Xây dựng một hệ thống giáo dục đa dạng về phương thức học tập, đảm bảo “ai ai cũng được học hành”, được học theo nguyện vọng của chính mình và được học suốt đời trong xã hội học tập; một hệ thống giáo dục được chuẩn hóa với những tiêu chí dân tộc, tiên tiến, hiện đại đảm bảo sự liên thông trong và ngoài nước trên cơ sở chuẩn hóa với các yếu tố đảm bảo chất lượng trong từng cấp học và trình độ đào tạo.

Hệ thống giáo dục mới sẽ là hệ thống giáo dục chất lượng cao và là tiền đề cho phát triển khoa học, công nghệ, khai thác nhiều nhất và vận dụng có hiệu quả nguồn tri thức của dân tộc, của nhân loại và làm nền tảng cho công cuộc xây dựng nền kinh tế tri thức ở nước ta.

Thứ ba, xây dựng, phát triển nhanh đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giỏi.

Nguồn lực đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là vốn quý nhất, là động lực, là nhân tố đảm bảo cho lợi thế giáo dục nước ta phát triển và cạnh tranh được với các nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giỏi là chìa khóa, là nhân tố trung tâm cho sự nghiệp giáo dục phát triển.

Suy đến cùng, chất lượng nền giáo dục nước ta cao hay thấp phần lớn phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ thầy, cô giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Do vậy, phải đặt trọng tâm vào tạo bước chuyển biến chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Thực tiễn 25 năm đổi mới giáo dục đã khẳng định phải mở rộng, phát huy dân chủ và thực hiện đồng bộ các khâu phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, luân chuyển, bố trí sử dụng, thực hiện chính sách đãi ngộ tương xứng.

Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong toàn ngành là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài bởi vì sự nghiệp giáo dục nước ta luôn phát triển đặt ra yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao về trình độ, chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của nhà giáo và năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ quản lý giáo dục. Trách nhiệm của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục không chỉ là trách nhiệm với hiện trạng giáo dục nước ta hôm nay mà còn là trách nhiệm với quá khứ và tương lai. Ngành Giáo dục nước ta phải là nơi thu hút được những người giỏi nhất, thông minh nhất và yêu nghề nhất để thực sự là đòn bẩy để nâng con người Việt Nam lên vị trí hàng đầu trong khu vực và trên thế giới.

Do vậy, cần đẩy mạnh việc thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế, Tạo Đột Phá Trong Nhiệm Kỳ Mới / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!