Đề Xuất 2/2023 # Giải Pháp Phát Triển Chăn Nuôi: An Toàn Sinh Học # Top 3 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Giải Pháp Phát Triển Chăn Nuôi: An Toàn Sinh Học # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giải Pháp Phát Triển Chăn Nuôi: An Toàn Sinh Học mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thay đổi tập quán

Ở nông thôn, hầu hết các gia đình đều chăn nuôi gia cầm. Song tập quán chăn nuôi của người Việt là gia cầm thường “ở chung” ở rất gần với con người. Ngay các các hộ chăn nuôi có quy mô khá hiện đại cũng thường được xây dựng trong khu dân cư hoặc ở trên các khu vực gò đồi rất dễ gây ô nhiễm đất, không khí… Khi dịch bệnh gia cầm xảy ra ngày càng nhiều, người ta càng quan tâm hơn tới việc an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm, đặc biệt ở những nước đang phát triển như Việt Nam. Hiện nay, tất cả các tỉnh, thành đều triển khai chăn nuôi gia cầm theo hướng an toàn sinh học.

Những đặc điểm nổi bật của chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học đó là giữ khoảng cách giữa các trang trại, các vùng nuôi với nhau và với cộng đồng. Quản lý chặt chẽ từ con giống đến thức ăn, nguồn nước, hạn chế phát sinh dịch bệnh, khống chế dịch bệnh nếu dịch xảy ra. Giữ vệ sinh cho vật nuôi và cả người nuôi ở mức độ cao nhất. Liên tục khử trùng vùng nuôi.

Sở dĩ chăn nuôi an toàn sinh học được tăng cường ráo riết là do khi ngành chăn nuôi tập trung, sản lượng lớn, rất dễ trở thành “trung gian” lây truyền các bệnh truyền nhiễm trên gia cầm và người, điển hình là cúm gia cầm. Ngoài ra, nhìn từ khía cạnh lợi ích, thì chăn nuôi an toàn sinh học sẽ giúp các trang trại chủ động kiểm soát dịch bệnh. Những cơ sở thực hiện tốt sẽ vượt qua được các đợt đại dịch, bảo vệ được con giống, phát triển được kinh doanh. Ngược lại, nếu làm không tốt, có thể cơ sở nuôi gia cầm sẽ bị “xóa trắng” chỉ trong một đợt dịch.

Sạch hơn… bệnh viện

Nghe có vẻ nghịch lý, song thực tế thì môi trường an toàn sinh học trong chăn nuôi gà giống ở các cơ sở lớn tại Bình Định được quan tâm tối đa. Thậm chí so với những ngành giống nổi tiếng như ngành tôm thì chăn nuôi kinh doanh gà giống hiện cũng được quản lý chặt chẽ tương đương, thậm chí hơn cả ngành làm giống tôm.

Phóng viên có mặt tại một số trại giống lớn của Bình Định như Minh Dư, Cao Khanh thì cảm tưởng không khác gì vào các trại giống làm tôm nổi tiếng của C.P. hay của Việt – Úc. Đó là các trại gà này đều nằm xa khu dân cư, sâu trong rừng, bán kính hàng km2 quanh đó không một bóng người. Các trang trại đều được bảo vệ nghiêm ngặt và chỉ những ai có trách nhiệm mới được vào. Tất cả đều được khử trùng thường xuyên.

Các nhân viên làm việc trong trại gà “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, họ sinh hoạt ăn ở trong trại, mỗi người có một phòng riêng, có giường, tủ lạnh, máy giặt, ti vi. Hầu như cách ly với bên ngoài.

Thức ăn, nước uống cho gà đều được sát khuẩn ở mức cao nhất. Chuồng trại vệ sinh, hàng vạn con gà nhưng không thấy phân gà, không có mùi hôi! Hệ thống cho ăn tự động, ánh sáng, nhiệt độ được kiểm soát.

Có nhiều người so sánh việc chăn nuôi gà an toàn sinh học hiện nay chẳng kém gì các bệnh viện, nơi mà vi trùng, vi khuẩn nguy hiểm không dễ gì xâm nhập!

Địa phương cùng chia sẻ

Tuy nhiên, một thực tế là chăn nuôi an toàn sinh học chưa mang lại kết quả như mong muốn. Bởi, chăn nuôi nông hộ vẫn manh mún, nhỏ lẻ nên mới triển khai ở dạng các mô hình, chưa thể nhân rộng, phát triển quy mô lớn. Trong khi đó, người chăn nuôi vẫn nếp làm việc theo thói quen, kinh nghiệm đã có nên không tích cực tiếp cận, ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật, khi bị “khép” vào những quy trình, quy định bắt buộc thì tỏ ra lúng túng…

Chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học sẽ không có mấy ý nghĩa nếu tỉnh này áp dụng mà tỉnh khác lại lơ là. Dịch bệnh có thể dễ dàng lan từ tỉnh này qua tỉnh khác do tập quán tiêu thụ sản phẩm gia cầm tươi sống vẫn rất phổ biến. Các tỉnh, thành hiện đều triển khai chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học.

Điển hình là ở Thanh Hóa, có khoảng 80% số hộ chăn nuôi gà trên địa bàn tỉnh áp dụng chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học. Nhờ các công nghệ chế phẩm sinh học balasa NO1, hầm biogas, ủ phân compost giúp việc xử lý chất thải chăn nuôi dễ dàng hơn, hạn chế ô nhiễm môi trường chăn nuôi nên gà lớn nhanh, xuất chuồng sớm từ 10 đến 15 ngày, giảm ngày công lao động; hiệu quả kinh tế tăng từ 15 đến 20% so với chăn nuôi theo phương pháp truyền thống.

Tỉnh Thái Nguyên cũng tích cực chăn nuôi gia cầm, song vấn đề gặp phải là ô nhiễm môi trường khi chăn nuôi quy mô lớn. Ngành nông nghiệp đã khuyến cáo các hộ tăng cường ứng dụng cộng nghệ sinh học vào chăn nuôi. Chất thải của gà gồm phân và thức ăn dư thừa được phân hủy hoàn toàn ngay trong chuồng nuôi dưới tác dụng của vi sinh vật có trong đệm lót, chuồng nuôi không có mùi hôi thối, hạn chế ruồi, muỗi, không ảnh hưởng đến vật nuôi, người lao động và môi trường xung quanh khu vực nuôi.

Tập trung các giống gia cầm chủ lực

Với tổng đàn vịt gần 7 triệu con, sản lượng trứng bình quân trên 273 triệu trứng/năm, tỉnh Đồng Tháp hiện là địa phương có tổng đàn vịt lớn nhất ĐBSCL. Đồng Tháp cũng đang chuyển mạnh sang chăn nuôi vịt an toàn sinh học. Thay vì chăn nuôi vịt thả đồng truyền thống, tỉnh đang dần chuyển sang nuôi nhốt để giám sát dịch bệnh.

Xu hướng nuôi an toàn sinh học đang dần đi vào đời sống, vì nhờ những hợp đồng chăn nuôi an toàn sinh học mà sản phẩm của người nông dân dễ dàng được nhận tiêu thụ tại siêu thị, các thành phố lớn thông qua các kênh phân phối uy tín. Trong đó, Công ty CP Ba Huân đã ký kết tiêu thụ trứng vịt an toàn sinh học của tỉnh Đồng Tháp.

Theo thống kê của tỉnh Hưng Yên, toàn tỉnh hiện chăn nuôi trên 8 triệu con gia cầm các loại, trong đó chiếm số lượng lớn là gà thịt, gà sinh sản. Đàn gà Đông Tảo, Đông Tảo lai chiếm khoảng 30 – 35% tổng đàn. Số hộ chăn nuôi gà áp dụng quy trình an toàn sinh học đã chiếm trên 35%, đa số tập trung vào giống gà đặc sản Đông Tảo. Cách thức là sử dụng đệm lót sinh học, khử trùng chuồng trại, thức ăn và nước uống cho gà Đông Tảo đảm bảo vệ sinh cao nhất. Điều đáng mừng là giống gà quý Đông Tảo đang được bảo tồn tốt chính nhờ vào chăn nuôi an toàn sinh học, tỷ lệ sống của đàn cao, giá trị thương phẩm tăng.

Chăn nuôi ATSH cũng bao gồm việc hạn chế sử dụng kháng sinh. Khi đàn gia súc, gia cầm giảm dịch bệnh do đã được chăm sóc theo phương pháp chăn nuôi ATSH, người nuôi không cần sử dụng kháng sinh.

Để thực hiện đồng bộ, cần thông tin tuyên truyền từ trung ương đến địa phương, mục đích giúp người nuôi hiểu chăn nuôi ATSH sẽ giúp sản phẩm an toàn cho cộng đồng, cho bản thân họ. Cần xây dựng mô hình điểm để người dân tự áp dụng ở những mô hình của mình khi thấy phù hợp. Tăng cường đào tạo huấn luyện cho cán bộ khuyến nông các cấp, để phối hợp đồng bộ trong hoạt động này. Cán bộ khuyến nông cũng giúp người nuôi hiểu rằng việc áp dụng chăn nuôi ATSH sẽ mất thời gian, công sức, ghi chép, truy xuất nguồn gốc so với chăn nuôi tự do, tuy nhiên việc này không tốn kém, quan trọng là cần thay đổi thói quen chăn nuôi.

Với chăn nuôi nhỏ lẻ, cũng nên tạo liên kết sản xuất để người chăn nuôi tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt, đồng đều, được thị trường chấp nhận.

An Toàn Sinh Học Trong Chăn Nuôi

An toàn sinh học trong chăn nuôi

Quản lý vật nuôi mới nhập trại – ngăn ngừa sự xâm nhập của bệnh dịch

Bệnh truyền nhiễm thường lan truyền trực tiếp từ con vật mang mầm bệnh sang con vật chưa mắc bệnh. Có 3 chỉ dẫn chung để ngăn ngừa dịch bệnh xâm nhập vào trại khi có lứa vật nuôi mới:

Trại nuôi nên áp dụng các nguyên tắc chung sau:

– Sử dụng vật nuôi sinh trưởng trong trại của mình để duy trì và phát triển quy mô chăn nuôi

– Không cho vật nuôi tiếp xúc “qua hàng rào” với động vật bên ngoài.

– Không cho con đực từ ngoài vào để giao phối.

– Không đưa vật nuôi ra ngoài trại rồi lại đưa vào trại.

– Không nuôi hỗn độn nhiều lứa, nhiều giống và vật nuôi có nhiều độ tuổi khác nhau trong cùng chuồng, dãy.

– Trong cùng một ngăn, một dãy nên thực hiện nguyên tắc “cùng nhập, cùng xuất”, không nuôi gối đầu, luân chuyển trong một khu chuồng.

2. Cách ly vật nuôi mới nhập trại

Việc nuôi cách ly lứa vật nuôi mới nhập trại là điều bắt buộc, cần thực hiên các việc sau:

– Sử dụng chuồng nuôi, hệ thống cấp thức ăn và bãi nuôi (nếu có) riêng biệt để nuôi lứa mới.

– Không cho vật nuôi cũ và mới tiếp xúc nhau.

– Chất thải đàn vật nuôi mới nhập không được đưa qua khu vực nuôi chung.

– Nuôi cách ly đủ thời gian cần thiết (tuỳ thuộc vào loại vật nuôi) và theo dõi mọi biểu hiện của bệnh dịch.

Kiểm tra bệnh dịch trước khi thả lứa mới vào chuồng nuôi chung.

3. Biết rõ nguồn gốc lứa mới và qua kiểm tra thú y

Cần biết rõ lai lịch của lứa mới, tình trạng bệnh dịch của nơi bán và các loại văcxin đã được tiêm vào vật nuôi.

Hạn chế sự dịch chuyển trong trại của các vật chủ mang bệnh – ngăn ngừa bệnh dịch phát tán

Mầm mống bệnh dịch như vi khuẩn, virus, nấm… có thể được mang theo từ người và các loại động vật khác vào trại và trong điều kiện thuận lợi sẽ phát triển và phát tán trong khắp trại. Cần thực hiện các biện pháp sau:

Chim chóc bay quanh trại có thể mang mầm bệnh trong chân và hệ tiêu hóa. Để hạn chế chim trong trại:

– Loại bỏ tất cả các lỗ, hốc nhỏ chim có thể làm tổ trong các mái nhà, bức tường, bụi cây trong trại.

– Các lỗ thông hơi và quạt gió cần có lưới chắn.

– Không cho chim đầu vào khu vực chế biến thức ăn chăn nuôi của trại.

– Loại bỏ những vật gần chuồng nuôi mà chim có thể đậu.

2. Kiểm soát loài gặm nhấm, chuột và chó, mèo

Chuột và các loại gặm nhấm rất dễ mang mầm bệnh vào thức ăn của vật nuôi vì bản thân chúng là những ổ bệnh tiềm năng. Để hạn chế chuột và các loài gặm nhấm:

– Các chuồng nuôi được thiết kế chống sự xâm nhập của các loài gặm nhấm.

– Loại bỏ các tổ chuột, nơi trú ẩn của loài gặm nhấm trong trại nuôi.

– Kho chứa thức ăn và bể nước cách xa chuồng nuôi.

– Thường xuyên tổ chức diệt chuột và các loài gặm nhấm trong và xung quanh trại nuôi.

– Kiểm tra sự di chuyển của chó và mèo trong trại.

– Hạn chế chó mèo tiếp xúc trực tiếp với vật nuôi hoặc vào khu vực cho vật nuôi ăn.

– Chó và mèo nuôi trong trang trại phải tiêm vắc xin.

Người có thể mang mầm bệnh trên giầy, quần áo và trên tay. Cần thực hiện các biện pháp:

+ Kiểm soát khách thăm:

– Thông báo cho mọi nhân viên, khách thăm hoặc lái xe vào trại về các biện pháp phòng dịch và đề nghị họ hợp tác thực hiện.

– Không khuyến khích khách thăm vào chuồng nuôi và nơi vật nuôi ăn.

– Hạn chế tối đa khách đã đi thăm trại chăn nuôi khác 1-5 ngày trước khi đến trại mình.

– Ngoài cổng trại nuôi treo biển “Cấm vào” và không cho người lạ tự do vào trại.

– Không cho khách thăm tiếp xúc trực tiếp với vật nuôi.

– Cho khách chỉ được vào những khu vực nhất định trong trại

– Bắt buộc khách thăm rửa giầy khi vào và ra trại bằng cách nhúng chân vào hố chứa dung dịch sát trùng.

– Cấp ủng cao su hoặc túi bó giầy bằng chất dẻo, áo khoác sạch cho khách.

+ Kiểm soát nhân viên:

– Công nhân sau khi tiếp xúc với vật nuôi bằng tay phải rửa tay.

– Công nhân làm việc trong chuồng nuôi phải mặc trang phục và đội mũ bảo hiểm lao động. Quần áo lao động trong trại cần được khử trùng trước khi giặt.

– Hạn chế tối đa công nhân đi từ khu vực chăn nuôi này sang khu vực chăn nuôi khác trong trại hay tiếp xúc với quá nhiều nhóm vật nuôi trong một ngày.

– Nhân viên trại nuôi không nên chăn nuôi thêm ở gia đình mình. Cán bộ thú y của trại không hành nghề thú y bên ngoài.

– Không mang các loại thực phẩm sống vào khu vực quanh chuồng nuôi để nấu ăn. Nhìn chung không mang thức ăn có nguồn gốc sản phẩm thịt vào trại nuôi.

4. Kiểm soát phương tiện chuyên chở trong trại

– Tổ chức đường vận chuyển thức ăn không qua khu vực bị nhiễm phân.

– Không chung phương tiện vận chuyển phân với trại nuôi bên cạnh.

– Không dùng phương tiện chở phân để chở thức ăn, trong trường hợp cần phải dùng thì cần rửa rất sạch trước khi chở thức ăn.

– Bố trí kho thức ăn cách xa hố chứa phân, tránh làm đường đi chung đến hai nơi.

5. Kiểm soát thức ăn và đồ dùng cho vật nuôi ăn

– Mua thức ăn có chất lượng bảo đảm và đã được kiểm tra.

– Tránh để thức ăn bị nhiễm hóa chất, chất bảo vệ thực vật và thuốc chữa bệnh trong quá trình bảo quản.

– Không để thức ăn bị nhiễm phân.

– Sắp xếp các loại thức ăn cẩn thận để không cho vật nuôi ăn nhầm thức ăn.

– Bảo quản thức ăn đúng quy cách.

– Cho vật nuôi uống nước có chất lượng đảm bảo, đã được khử trùng và luôn làm sạch hệ thống cấp nước.

6. Làm sạch dụng cụ chăn nuôi

– Mỗi khu chuồng nên có dụng cụ chăn nuôi riêng. Nếu cần luân chuyển trong trại thì phải rửa sạch và khử trùng khi đưa từ khu chuồng này sang khu chuồng khác.

– Dụng cụ chăn nuôi mang vào hoặc mang ra khỏi trại cần được rửa sạch và khử trùng bên trong, bên ngoài và sau thời gian khử trùng cần thiết mới dùng.

Quản lý vệ sinh và khử trùng – Ngăn chặn sự phát sinh của dịch bệnh

Sự phát sinh của dịch bệnh từ bên trong trại nuôi giảm khi các biện pháp vệ sinh phòng bệnh được thực hiện:

Vật dụng chuyên chở xác súc vật có thể gây nguy hiểm cho người và các loại đông vật khác. Thậm chí đất, nước, không khí ở trong khu vực đó cũng phải được chú ý một cách đặc biệt. Nhằm giảm thiểu mức độ lây nhiễm nguy hiểm cần phải:

– Đưa ra ngoài trại xác động vật chết trong vòng 48 tiếng (sau khi động vật chết).

– Gọi đội chuyên xử lý xác động vật chết đến để mang xác đi.

– Nếu phải chôn trong trại thì cần chôn xác vật nuôi tối thiểu ở độ sâu 0,6m.

– Vệ sinh và khử trùng toàn bộ khu vực ngay sau khi đã đưa xác vật nuôi đi.

– Mặc quần áo bảo hộ khi vệ sinh và khử trùng chuồng trại lưu giữ xác vật nuôi.

– Giữ xác vật nuôi nhỏ trong những thùng chứa cho đến khi đem vứt bỏ.

2. Quản lý phân và chống ruồi nhặng

Sự lây lan dịch bệnh thông thường từ phân, nước tiểu và từ xác chết của vật nuôi. Tác nhân trung gian có thể gây bệnh là từ thức ăn, nước uống và chuồng trại. Các biện pháp sau làm giảm bớt sự lây lan dịch bệnh qua phân vật nuôi:

– Xây dựng và láp đặt hệ thống chứa phân nhằm ngăn chăn sự ô nhiễm môi trường phù hợp với các tiêu chuẩn về vệ sinh chăn nuôi.

– ủ và chứa đựng phân đúng qui cách để loại trừ hầu hết các loại dịch bệnh từ vi khuẩn.

– Thường xuyên lấy phân cũ trong các bể chứa để không cho động vật ký sinh và ruồi sống qua chu kỳ sống ở đó.

– Hạn chế sự phát triển của ruồi bằng cách dọn phân, sử dụng các loai bẫy, các loại mồi và giấy dính ruồi, sử dụng thuốc diệt côn trùng.

– Chuồng nuôi phải được làm vệ sinh hàng ngày và phải được khử trùng định kỳ theo chế độ phòng bệnh của thú y.

– Sau khi xuất toàn bộ vật nuôi phải tiến hành khử trùng toàn bộ chuồng nuôi theo chế độ tổng vệ sinh và khử trùng trước khi nuôi lứa mới.

– Trường hợp trong chuồng nuôi có vật nuôi bị chết vì bệnh dịch thì phải thực hiện chế độ khử trùng cấp bách theo hướng dẫn của thú y.

4. Sử dụng các chất khử trùng

Để khử trùng trại chăn nuôi cần sử dụng thuốc khử trùng có các tính chất sau:

– Phải có tác dụng diệt khuẩn, nấm và virus.

– Có tác dụng khử trùng rác hữu cơ (nhiễm phân).

– Không bị giảm tác dụng khi pha vào trong nước có độ cứng cao

– Lưu tác dụng trong một thời gian nhất định sau khi đã tiếp xúc với vật được khử trùng.

– Có thể kết hợp sử dụng với các loại xà phòng hoặc chất tẩy rửa.

– Có thể sử dụng cho các dụng cụ, thiết bị chăn nuôi (không ăn mòn, làm hỏng).

– Không làm ô nhiễm môi trường và được phép sử dụng.

– Thích hợp với mục đích sử dụng (vì thông thường không phải chất khử trùng nào cũng đều diệt được mọi vi sinh gây bệnh).

Thực hiện tốt an toàn sinh học kết hợp với tiêm vắc xin cho vật nuôi là cơ sở đảm bảo cho thành công trong việc phòng chống dịch bệnh.

Theo trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội

Giải Pháp Phát Triển Chăn Nuôi Bền Vững

Sở NN-PTNT Hà Nội vừa tổ chức hội nghị “Bàn giải pháp phát triển chăn nuôi bền vững với diễn biến dịch tả lợn châu Phi trên địa bàn thành phố”.

Thiệt hại 600 tỷ đồng

Ngành chăn nuôi Việt Nam chưa bao giờ gặp khó khăn do bệnh dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) như hiện nay. Trong chăn nuôi, chăn nuôi lợn chiếm tỉ trọng quá lớn so với các đối tượng chăn nuôi khác.

Cục trưởng Cục chăn nuôi Nguyễn Xuân Dương phát biểu tại hội nghị.

Ông Nguyễn Huy Đăng, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Hà nội chia sẻ, DTLCP đang diễn biến hết sức phức tạp và có chiều hướng lan rộng. Tại Hà Nội, dịch xảy ra từ ngày 23/2 tại phường Ngọc Thụy (Q. Long Biên). Tính đến ngày 12/6, thành phố ước thiệt hại trên 600 tỷ đồng.

“Đến nay, thành phố đang tập trung chỉ đạo các giải pháp ứng phó với dịch bệnh, hạn chế thấp nhất rủi ro, thiệt hại. Đảm bảo hỗ trợ kịp thời cho người chăn nuôi, có kế hoạch phát triển chăn nuôi bò, chăn nuôi gia cầm, thủy sản để dần thay thế thịt lợn nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng sản phẩm động vật cho người tiêu dùng trên địa bàn thành phố”, ông Đăng cho hay.

Theo Cục Thống kê Hà Nội, tính đến ngày 1/4, đàn lợn của Hà Nội còn hơn 1,5 con giảm 5,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhu cầu tiêu thụ thịt lợn dao động từ 650 – 700 tấn thịt lợn/ngày, tương đương với 270,2 – 280,5 nghìn tấn/năm.

Do DTLCP xảy ra nên sản lượng thịt lợn năm 2019 ước đạt 200 – 220 nghìn tấn/năm, đạt 60 – 65% nhu cầu tiêu thụ, thiếu hụt 90 – 100 nghìn tấn thịt lợn cần cho nhu cầu thực phẩm cho người dân thành phố.

Để chăn nuôi lợn an toàn, có hiệu quả trước “bão dịch”, ông Đăng bảo, Hà Nội đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi. Tập trung xử lý môi trường. Thu hút đầu tư, tư vấn cho các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong khâu sơ chế, giết mổ…

Ông Đăng khuyến cáo, các chủ trang trại, gia trại khi tái đàn phải báo cáo với cán bộ thú y các cấp. Nếu cố tình tái đàn, khi đàn lợn mắc dịch sẽ không có hỗ trợ.

Trong khi đó, Cục trưởng Cục Chăn nuôi Nguyễn Xuân Dương khẳng định, chúng ta xác định phải sống chung với DTLCP. Và, chắc chắn vẫn phải tái đàn, nhưng tái đàn như thế nào cho đúng hướng, đúng cách trong tình hình hiện nay.

Toàn cảnh hội nghị.

Theo ông Dương, những hộ, khu vực chăn nuôi đã dính dịch, tuyệt đối không được phép tái đàn, bởi nguy cơ mắc dịch vẫn còn cao. Song, ở những trang trại nằm trong vùng an toàn dịch thì cho phép tái đàn. Khi tái đàn, phải kiểm tra, vệ sinh chuồng trại, lấy mẫu con giống và con giống phải được chuyển đi bằng xe có đăng ký, đảm bảo sạch sẽ.

Giải pháp

Ông Nguyễn Trọng Long, Giám đốc HTX Hoàng Long chia sẻ, trong thời gian qua ngành chăn nuôi lợn của cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng gặp nhiều sóng gió. Tuy nhiên, việc chăn nuôi lợn của HTX vẫn phát triển ổn định với quy mô 450 lợn nái và 4.000 lợn thịt.

Để phát triển ổn định đàn lợn nái và lợn thịt như trên, đặc biệt trong bối cảnh bệnh DTLCP đang hoành hành, HTX Hoàng Long đã thực hiện triệt để các giải pháp như áp dụng triệt để các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản (giữ đàn lợn trong môi trường được bảo vệ nghiêm ngặt. Chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý tốt đàn lợn, tạo sức khỏe và sức đề kháng cho đàn lợn. Kiểm soát chặt chẽ khu vực chăn nuôi).

Tổ chức chăn nuôi theo chuỗi khép kín và ứng dụng công nghệ cao gắn với tiêu thụ sản phẩm. Ổn định giá các sản phẩm của chuỗi trên thị trường dựa trên cơ sở ổn định giá thành sản phẩm của chuỗi; tạo uy tín, chất lượng sản phẩm đối với người tiêu dùng; củng cố và phát triển thượng hiệu chuỗi.

Là một trong những đơn vị tiêu thụ thịt lợn trên địa bàn Hà Nội, đại diện Chuỗi thực phẩm sạch Organic Green chia sẻ, để có được những sản phẩm đảm đảo chất lượng cao, giá thành hợp lý, Cty đã liên kết với các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn các huyện ngoại thành Hà Nội nhằm xây dựng chuỗi liên kết SX thịt lợn truy xuất nguồn gốc.

Đến nay, các sản phẩm của Cty được bán rộng rãi trên các hệ thống siêu thị, khách sạn, bếp ăn… trên địa bàn Hà Nội.

MAI CHIẾN – HƯNG GIANG

Biện Pháp An Toàn Sinh Học Trong Chăn Nuôi Gia Cầm

Một là: Hiện nay mưa nhiều và kéo dài, thời tiết lạnh, ẩm cộng thêm nước lũ từ thượng nguồn đổ về với lượng rất lớn tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển, nhất là bệnh cúm gia cầm. Nếu người chăn nuôi không chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không nắm được quy trình phòng bệnh cho gia cầm của mình, sức đề kháng của gia cầm suy yếu dễ phát sinh dịch bệnh nguy hiểm, trong đó có bệnh cúm.

Hai là: Sự tăng đàn đột ngột làm mật độ nuôi quá cao hoặc điều kiện chuồng nuôi không đảm bảo, đều làm suy giảm sức khỏe của gia cầm.

Ba là: Theo quy luật phát sinh dịch bệnh trong tỉnh hàng năm, bệnh cúm gia cầm thường hay xảy ra vào tháng 1, 2 và tháng 9, 10 trong năm.

Nhằm giúp người chăn nuôi thành công, tránh được rủi ro do dịch bệnh, xin giới thiệu đến bà con những biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm như sau:

* Khi mua gia cầm giống về nuôi

– Gia cầm phải có nguồn gốc rõ ràng, các cơ sở cung cấp con giống có uy tín, thương hiệu và chỉ chọn những gia cầm khỏe mạnh, nhanh nhẹn. Điều đặc biệt cần quan tâm là phải hỏi rõ xem gia cầm bố mẹ đã được tiêm phòng vắc-xin chưa và tiêm phòng những bệnh nào?

– Khi mua gia cầm về, bà con nên nhốt riêng gia cầm mới mua (cách ly với đàn gia cầm nhà đang nuôi) và cho uống thuốc bồi dưỡng như: B.complex, Aminovit, các thuốc dùng cho gà, vịt giai đoạn úm trong vòng 2 tuần đầu để theo dõi, khi thấy khỏe mạnh mới thả vào cùng đàn gia cầm nhà.

* Điều kiện chuồng nuôi và môi trường nuôi phải đảm bảo vệ sinh

Trước khi nuôi: Chuồng trại phải được chuẩn bị thật tốt trước khi mua con giống về nuôi.

– Đối với gà nuôi thả trong sân vườn, cần phải có trại, mái che để gà tránh mưa, tránh nắng. Gà nhạy cảm với điều kiện lạnh, ẩm hơn vịt, nếu bị mưa ướt gà rất dễ sinh bệnh. Mật độ nuôi: gà từ 1-2 tuần tuổi: 80-100 con/m2; gà từ 3-4 tuần tuổi: 50-70 con/m2.

– Mật độ nuôi cần vừa phải, nếu nuôi quá đông, gia cầm hay cắn mổ, môi trường quá ô nhiễm dễ phát sinh bệnh tật.

– Cần chú ý vệ sinh tiêu độc chuồng gia cầm, khu vực xung quanh chuồng, dụng cụ chăn nuôi trước khi đưa gia cầm vào nuôi.

Trong thời gian nuôi: Nên giữ cho chuồng nhốt gia cầm luôn khô ráo, sạch sẽ, thoáng mát, không bị mưa tạt gió lùa.

– Sân thả gia cầm cần khô sạch sẽ, có hàng rào bao quanh.

– Nếu nuôi gia cầm có chất độn chuồng thì chất độn chuồng phải sạch sẽ, khô ráo và phơi nắng trước khi cho vào chuồng gia cầm.

– Cần định kỳ quét phân, thay chất độn chuồng, rắc vôi bột vào các nơi ẩm ướt, quét vôi chuồng nuôi, sân thả gia cầm, phun thuốc diệt muỗi, mò, mạt.

– Phân gia cầm, chất độn chuồng lẫn phân cần được gom và ủ để diệt mầm bệnh.

– Trong thời gian này, cần định kỳ vệ sinh, tiêu độc sát trùng chuồng trại (1 tuần/lần), sát trùng chuồng, khu vực xung quanh chuồng, dụng cụ chăn nuôi… để giảm thiểu mầm bệnh.

Sau mỗi đợt nuôi: Cần tổng vệ sinh, sát trùng và để trống chuồng ít nhất 15 ngày mới thả nuôi lứa khác để cắt đứt các mầm bệnh.

Các loại hóa chất sát trùng có thể sử dụng để tiêu độc sát trùng chuồng trại như: Cloramin B, Iodine, Benkocid, BKA…

* Biện pháp cách ly để hạn chế mầm bệnh lây lan

– Hạn chế người ra vào khu vực chăn nuôi gia cầm. Nếu có dịch bệnh xảy ra ở địa phương xung quanh thì không cho người ngoài đến. Người nuôi gia cầm không được đến nơi xảy ra dịch.

– Cần có biện pháp ngăn ngừa không cho gia cầm tiếp xúc với các động vật khác như chim hoang, heo, chuột…

– Thường xuyên loại thải những gia cầm gầy yếu ra khỏi đàn để tránh lây lan bệnh.

Pha 50ml nước sinh lý mặn đã làm mát vào lọ 100 liều, tiêm dưới da cổ hoặc cơ ngực, liều 0,5ml/con.

Nguyên tắc chăn nuôi gà an toàn sinh học

Nguyên tắc cơ bản trong chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học là đàn gia cầm phải được nuôi trong một môi trường được bảo vệ, được chăm sóc tốt và tất cả mọi sự di chuyển ra vào trại, giữa các khu vực trong trại đều phải được kiểm soát. Vị trí xây dựng chuồng trại gia cầm an toàn phải xa khu dân cư, bệnh viện, trường học, chợ, v.v…, tránh xây trại ở những nơi gần sông, suối, kênh mương, bảo đảm có nước sạch thường xuyên.

* Các biện pháp thực hành nuôi gia cầm an toàn sinh học:

– Nuôi khép kín với từng trại (trong mỗi trại chỉ nuôi một giống gia cầm và cùng độ tuổi. Đối với gia cầm giống nên có các khu vực nuôi dành cho các lứa tuổi khác nhau);

– Kiểm soát dịch bệnh theo từng khu vực trong trại. Sử dụng con giống an toàn.

– Nuôi cách ly gia cầm mới nhập trại (trong trường hợp nuôi nhiều đàn, nhiều lứa).

– Phòng bệnh bằng vắc xin. Xét nghiệm định kỳ, giám sát sự lưu hành các loại mầm bệnh.

– Vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng trại trong thời gian nuôi và sau mỗi đợt nuôi.

– Xử lý chất thải (bằng biogas hoặc ủ), tiêu hủy gia cầm ốm, chết.

– Kiểm soát chặt chẽ sự di chuyển ra vào trại.

Chống sự xâm nhập của động vật bên ngoài.

Bệnh phổ biến nhất đối với gà là bệnh viêm đường hô hấp. Biện pháp phòng bệnh này tốt nhất là tiêm phòng và tiêm nhắc lại theo định kỳ. Quan trọng hơn phải vệ sinh định kỳ trong chuồng trại, vì viêm đường hô hấp còn gọi là bệnh do ô nhiễm. Điều trị mà không có những biện pháp vệ sinh an toàn kèm theo thì bệnh vẫn tái phát, đặc biệt trong giai đoạn chuyển mùa.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giải Pháp Phát Triển Chăn Nuôi: An Toàn Sinh Học trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!