Đề Xuất 6/2022 # Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Marketing Mix Tại Khách Sạn Sheraton Hà Nội # Top Like

Xem 96,228

Cập nhật nội dung chi tiết về Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Marketing Mix Tại Khách Sạn Sheraton Hà Nội mới nhất ngày 30/06/2022 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 96,228 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Marketing Mix
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Marketing
  • Tài Liệu Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Marketing Mix Của Trung Tâm Athena
  • Công Ty Tnhh Tư Vấn Giải Pháp Marketing Manta
  • Luận Văn Chuyên Đề Một Số Biện Pháp Marketing Nhằm Phát Triển Thị Trường Sản Phẩm Máy Công Cụ Của Công Ty Cơ Khí Hà Nội
  • Published on

    1. 2. LỜI CẢM ƠN Hơn 3 năm phấn đấu học tập, rèn luyện và trưởng thành tại trường Đại học Thăng Long em đã may mắn nhận được sự chỉ dạy tận tình với những kinh nghiệm quý báu từ các thầy cô của trường, các thầy cô Khoa Kinh tế – Quản lý, các thầy cô từ bộ môn Quản trị Marketing. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các Quý thầy cô và đặc biệt là thầy Vũ Ngọc Thắng, người đã quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn em hoàn thành Khóa luận này. Cuối cùng xin gửi lời biết ơn vô hạn tới những người thân trong gia đình đã luôn ở bên và động viên con trong quá trình học tập, nghiên cứu, giúp con vượt qua những khó khăn để con có được ngày hôm nay. Sinh viên Đào Tuấn Nam Thang Long University Library
    2. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này! Sinh viên Đào Tuấn Nam
    3. 4. MỤC LỤC Trang LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING – MIX TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN ………………………………………………………………………….1 1.1. Du lịch và hoạt động kinh doanh khách sạn…………………………………………….1 1.1.1. Khái niệm kinh doanh du lịch……………………………………………………………1 1.1.2. Khái niệm kinh doanh khách sạn………………………………………………………2 1.2. Marketing trong hoạt động kinh doanh khách sạn ………………………………….3 1.2.1. Khái niệm và vai trò của marketing trong doanh nghiệp……………………..3 1.2.2. Khái niệm và đặc thù của marketing du lịch……………………………………….4 1.2.3. Khái niệm, vai trò và mục tiêu của hoạt động marketing trong kinh doanh khách sạn …………………………………………………………………………………………………5 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động marketing trong hoạt động kinh doanh khách sạn……………………………………………………………………………………………………..6 1.3.1. Những yếu tố bên trong doanh nghiệp……………………………………………….6 1.3.2. Những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp……………………………………………….7 1.4. Hoạt động marketing – mix trong kinh doanh khách sạn ……………………….10 1.4.1. Nghiên cứu thị trường và phân đoạn thị trường ……………………………….10 1.4.2. Xác định thị trường mục tiêu…………………………………………………………..12 1.4.3. Chiến lược marketing – mix trong kinh doanh khách sạn ………………….13 1.5. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động marketing – mix của doanh nghiệp kinh doanh khách sạn…………………………………………………………………………………24 1.5.1. Đánh giá về mặt chất………………………………………………………………………24 1.5.2. Đánh giá về mặt lượng ……………………………………………………………………25 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING – MIX TẠI KHÁCH SẠN SHERATON HÀ NỘI …………………………………………………………………………….28 2.1. Khái quát về Khách sạn Sheraton Hà Nội……………………………………………..28 2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển ……………………………………………………..28 2.1.2. Giới thiệu về khách sạn Sheraton Hà Nội…………………………………………29 2.1.3. Tầm nhìn, sứ mệnh và chiến lược của khách sạn Sheraton Hà Nội……30 2.1.4. Cơ cấu tổ chức của khách sạn …………………………………………………………30 2.2. Thực trạng hoạt động kinh doanh tại khách sạn Sheraton Hà Nội giai đoạn từ năm 2011 – 2013 …………………………………………………………………………………….33 2.2.1. Tình hình Doanh thu – Chi phí – Lợi nhuận…………………………………….34 2.2.2. Nguồn khách………………………………………………………………………………….37 Thang Long University Library
    4. 5. 2.2.3. Công suất sử dụng phòng………………………………………………………………..39 2.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động marketing – mix tại khách sạn Sheraton Hà Nội………………………………………………………………………………………………………..40 2.3.1. Yếu tố bên trong doanh nghiệp ………………………………………………………..41 2.3.2. Yếu tố bên ngoài doanh nghiệp………………………………………………………..41 2.4. Thực trạng hoạt động marketing – mix tại Khách sạn Sheraton Hà Nội …43 2.4.1. Xác định thị trường mục tiêu…………………………………………………………..43 2.4.2. Chính sách Sản phẩm……………………………………………………………………..45 2.4.3. Chính sách Giá ………………………………………………………………………………50 2.4.4. Chính sách Phân phối …………………………………………………………………….52 2.4.5. Chính sách Xúc tiến ……………………………………………………………………….53 2.4.6. Chính sách Con người…………………………………………………………………….58 2.4.7. Tiến trình……………………………………………………………………………………….60 2.4.8. Các yếu tố hữu hình ……………………………………………………………………….63 2.5. Đánh giá hiệu quả của hoạt động marketing – mix tại khách sạn Sheraton Hà Nội………………………………………………………………………………………………………..64 2.5.1. Đánh giá về chính sách sản phẩm, dịch vụ……………………………………….66 2.5.2. Đánh giá về chính sách giá ……………………………………………………………..67 2.5.3. Đánh giá chính sách phân phối……………………………………………………….68 2.5.4. Đánh giá chính sách xúc tiến…………………………………………………………..69 2.6. Những kết quả đạt được, tồn tại và nguyên nhân trong hoạt động Marketing – mix tại khách sạn Sheraton Hà Nội……………………………………………………………70 2.6.1. Những tồn tại trong hoạt động Marketing – mix tại khách sạn Sheraton Hà Nội ……………………………………………………………………………………………………70 2.6.2. Nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động Marketing – mix của khách sạn Sheraton Hà Nội ……………………………………………………………………..72 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MARKETING – MIX TẠI KHÁCH SẠN SHERATON HÀ NỘI…………………….75 3.1. Định hướng hoạt động kinh doanh của khách sạn Sheraton Hà Nội……….75 3.2. Định hướng hoạt động marketing – mix của khách sạn Sheraton Hà Nội trong thời gian tới……………………………………………………………………………………….76 3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động marketing – mix của khách sạn Sheraton Hà Nội …………………………………………………………………………………..78 3.3.1. Nghiên cứu cải tiến sản phẩm …………………………………………………………78 3.3.2. Thay đổi giá theo thời điểm……………………………………………………………..80 3.3.3. Phát triển kênh phân phối……………………………………………………………….80
    5. 7. DANH MỤC VIẾT TẮT Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ KDKS NHNN VSATTP Kinh doanh khách sạn Ngân hàng Nhà nước Vệ sinh an toàn thực phẩm
    6. 10. LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kinh tế phát triển, xã hội phát triển, thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được nâng cao thì nhu cầu đi du lịch càng trở nên phổ biến và đa dạng hơn. Gắn liền với phát triển du lịch, hoạt động kinh doanh khách sạn (KDKS) đã và đang là ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới. Ngành du lịch tại Việt Nam được cho là có tiềm năng to lớn. Trải qua gần 55 năm hình thành và phát triển (1960 – 2014), ngành du lịch Việt Nam đã và đang gặt hái được những thành công đáng kể, góp phần tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đóng góp vào thành công đó không thể không kể tới lĩnh vực quan trọng trong ngành du lịch – kinh doanh khách sạn. Không kể tới hệ thống các khách sạn, nhà khách Công đoàn trực thuộc Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam được xây dựng và vận hành từ những năm 1989, ngành KDKS tại Việt Nam mới thực sự bùng nổ vào những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 với hàng loạt các dự án khách sạn, khu nghỉ dưỡng… được đầu tư xây dựng trên khắp cả nước, đáp ứng nhu cầu lưu trú của du khách. Hòa chung với xu thế đó, Khách sạn Sheraton Hà Nội đã được xây dựng và đi vào hoạt động được trên 10 năm nay. Khách sạn đã không ngừng cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ khẳng định mình là một khách sạn 5 sao hàng đầu trên thị trường. Việt Nam là quốc gia đang phát triển, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng trong những năm gần đây thực tế còn khá chậm so với các quốc gia trong khu vực. Cùng với đó là xu thế cạnh tranh ngày càng gắt gao và khốc liệt của nền kinh tế thị trường và sự xuất hiện của hàng loạt các khách sạn cùng sự đa dạng phân khúc trên thị trường. Đứng trước thực tế đó, để có thể tồn tại và phát triển được, các công trong ty lĩnh vực KDKS luôn phải tìm mọi cách để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình so với các đối thủ cạnh tranh khác. Vì vậy vấn đề đặt ra đối với Khách sạn Sheraton Hà Nội là cần phải có các chính sách thu hút khách để tối đa hóa công suất sử dụng phòng nhằm ổn định doanh thu vượt qua giai đoạn khó khăn của khủng hoảng kinh tế và những biến động lớn từ những động thái của Trung Quốc đã và còn có khả năng xảy ra trong tương lai như vụ việc hạ đặt giàn khoan trái phép vừa qua trên bển Đông. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, là sinh viên chuyên ngành Quản trị Marketing được thực tập tại khách sạn Sheraton Hà Nội, em đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động Marketing – mix tại Khách sạn Sheraton Hà Nội” với mong muốn góp phần thúc đẩy hoạt động thu hút khách của khách sạn trong thời gian tới. Thang Long University Library
    7. 12. 1 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING – MIX TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN 1.1. Du lịch và hoạt động kinh doanh khách sạn 1.1.1. Khái niệm kinh doanh du lịch Khái niệm du lịch, kinh doanh du lịch Ngành Du lịch là ngành mang tính tổng hợp cao, là ngành công nghiệp ra đời tuy khá muộn so với các ngành công nghiệp khác nhưng doanh thu đem lại cho mỗi quốc gia là không hề nhỏ. Ngày nay du lịch đã trở thành một ngành mang tính toàn cầu, là nhu cầu thiết yếu của mỗi con người và đặc biệt là của người dân các quốc gia phát triển có thu nhập cao. Do tùy từng hoàn cảnh, điều kiện khác nhau, tùy từng góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người, mỗi tổ chức lại có cách hiểu khác nhau về du lịch: Theo Tổ chức Du lịch thế giới WTO (World Tourism Organizations): “Du lịch là tất cả những hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ không quá 12 tháng với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, công vụ và nhiều mục đích khác”. Theo tổng cục du lịch (pháp lệnh du lịch): “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi ở thường xuyên của mình nhằm thoả mãn các nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Ngành du lịch – lữ hành được chia làm 5 lĩnh vực chính: – Lĩnh vực lưu trú: Khách sạn, nhà nghỉ, trung tâm hội nghị… – Lĩnh vực tham quan: Công viên lớn, bảo tàng, lễ hội, sự kiện, di tích… – Lĩnh vực vận chuyển: Hàng không, tàu thủy… – Lĩnh vực tổ chức du lịch: Nhà tổ chức tour, hội nghị, đại lý đặt chỗ… – Lĩnh vực các tổ chức nơi đến: Văn phòng du lịch quốc gia, hiệp hội ngành du lịch… Kinh doanh du lịch, theo định nghĩa trong pháp lệnh du lịch số 11/1999/PLUBTVQH10 ban hành ngày 23/2/1999 của Tổng cục Du lịch Việt Nam thì “kinh doanh du lịch là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình hoạt động du lịch hoặc thực hiện dịch vụ du lịch trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. Như vậy, nói một cách cụ thể: kinh doanh du lịch là quá trình tổ chức sản xuất lưu thông, mua bán hàng hóa du lịch trên thị trường nhằm đảm bảo hiệu quả về mặt kinh tế cho xã hội, kinh doanh du lịch cũng như mọi loại hình khác, diễn ra theo một chu trình chặt chẽ, gồm các bước: – Tiếp thị, tổ chức sản xuất hàng hoá và dịch vụ du lịch; – Tiếp thị, ký kết hợp đồng kinh tế du lịch; – Tổ chức thực hiện hợp đồng; – Thanh quyết toán hợp đồng, rút kinh nghiệm để bước vào chu trình mới. Thang Long University Library
    8. 13. 2 Được coi là ngành công nghiệp không khói, phát triển kinh doanh du lịch đang là chiến lược trọng tâm của nhiều quốc gia. Để có được vị thế cao trong ngành du lịch các công ty, các quốc gia đều phải có những chiến lược marketing riêng cho mình. 1.1.2. Khái niệm kinh doanh khách sạn Kinh doanh khách sạn là một trong những lĩnh vực chính trong kinh doanh du lịch. Để có một cái nhìn cái nhìn đầy đủ và toàn diện, cần hiểu được quá trình hình thành và phát triển của hoạt động KDKS. Trải qua nhiều giai đoạn của quá trình phát triển ngành kinh tế du lịch, khái niệm “kinh doanh khách sạn” được hiểu dưới nhiều cấp độ khách nhau: – Ban đầu, KDKS chỉ là hoạt động kinh doanh dịch vụ cho thuê buồng trọ qua đêm cho khách vãng lai phải trả tiền của các hộ gia đình. Số lượng buồng phòng lúc bấy giờ rất nhỏ, chỉ mang tính tự phát. Từ đó khái niệm KDKS chỉ đơn thuần là “hoạt động cho thuê buồng ngủ phục vụ nhu cầu ngủ, nghỉ cho khách vãng lai”. – Sau đó, số lượng khách từ thập phương tới và có nhu cầu lưu lại lâu tại các điểm du lịch đã khiến chủ các nhà trọ tổ chức cung cấp thêm dịch vụ ăn uống cho khách. Khi đó khái niệm KDKS đã được mở rộng và được hiểu là hoạt động kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi và ăn uống cho khách từ nơi khác đến. – Cùng với sự phát triển của kinh tế thế giới, mức sống về vật chất và tinh thần của con người ngày càng được nâng cao. Số lượng khách du lịch tăng lên nhanh chóng, động cơ đi du lịch của du khách ngày càng đa dạng. Ngoài việc đi du lịch để nghỉ ngơi, giải trí, tìm tòi…, người ta còn đi du lịch với các lý do khác như nghiên cứu thị trường, đầu tư, tham gia hội nghị, hội thảo, chữa bệnh… Những nhu cầu đòi hỏi của du khách ngày càng cao, đa dạng hơn. Vì thế số lượng và chất lượng của các sản phẩm được cung cấp trong thời gian lưu lại của du khách buộc phải tăng lên. Từ đó, kinh doanh du lịch không chỉ còn đơn thuần là dịch vụ cho thuê buồng ngủ và dịch vụ ăn uống mà còn có thêm hoạt động kinh doanh các dịch vụ bổ sung cho khách du lịch như: thể thao, giặt là, y tế, cho thuê phòng hội nghị, hội thảo… – Ngày nay, cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch và nhu cầu đi du lịch, sự cạnh tranh của các đơn vị cung cấp dịch vụ ngày càng quyết liệt nhằm thu hút du khách. Điều đó đã làm tăng tính đa dạng trong phương thức tổ chức của hoạt động kinh doanh và dẫn tới sự ra đời của nhiều loại hình doanh nghiệp với nhiều mức độ cung cấp dịch vụ khác nhau, hướng tới thị trường khác nhau, với tên gọi phong phú như: Motel, Khách sạn, Nhà nghỉ… và được gọi chung là cơ sở lưu trú du lịch. Điều 4 khoản 12 của Luật Du lịch Việt Nam đã khẳng định: “Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dich vụ khác phục vụ khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu”.
    9. 16. 5 Có thể nhận thấy trên thế giới khá nhiều định nghĩa, quan điểm về marketing du lịch được nêu ra, tuy nhiên tóm tắt lại marketing du lịch như là một quá trình nghiên cứu, phân tích nhu cầu của khách hàng – sản phẩm du lịch – phương thức cung ứng và hỗ trợ của tổ chức để đưa khách hàng đến với sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch và mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp cung ứng dịch vụ. 1.2.3. Khái niệm, vai trò và mục tiêu của hoạt động marketing trong kinh doanh khách sạn Khái niệm marketing khách sạn Marketing trong KDKS là sự vận dụng của marketing, marketing du lịch vào ngành khách sạn. “Nó là một quá trình liên tục nối tiếp nhau, trong đó các cơ quan tổ chức quản lý trong ngành khách sạn lập kế hoạch nghiên cứu thực hiện và kiểm soát các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng cũng như đạt được mục tiêu của khách sạn”. Marketing khách sạn tập trung vào nghiên cứu phân tích và sử dụng các thông tin về sự biến động của thị trường, những thông tin về thị hiếu, sở thích, nhu cầu, khả năng thanh toán, quỹ thời gian… để đề ra những biện pháp thích hợp nhằm hợp lý hóa các sản phẩm của khách sạn; nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu khách du lịch và đảm bảo mục tiêu dài hạn cho khách sạn. Vai trò của hoạt động marketing trong kinh doanh khách sạn Sự phát triển rầm rộ của hệ thống các khách sạn hiện nay làm cho cung về khách sạn vượt quá cầu, điều đó dẫn đến khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn về dịch vụ lưu trú và khách sạn buộc phải có nhiều hoạt động marketing hơn để thu hút khách hàng. Để chiến thắng đối thủ cạnh tranh, các cơ sở kinh doanh lưu trú phải làm thỏa mãn đầy đủ những yêu cầu của khách hàng mục tiêu. Trước tình hình thị trường và môi trường kinh doanh biến đổi nhanh chóng, việc lập kế hoạch chiến lược là điều bắt buộc của mỗi khách sạn nhằm đạt được mục tiêu lâu dài. Vì thế bộ phận Marketing ngày càng đóng vai trò quan trọng trong khách sạn và người quản trị marketing đóng vai trò quan trọng nhất. Hoạt động marketing trong KDKS bao gồm việc lập kế hoạch chiến lược, phân tích thị trường, xây dựng các mục tiêu, mục đích và chiến lược, xác định kế hoạch sản phẩm, thị trường, kênh phân phối và kiểm soát chất lượng sản phẩm… Có 3 nhân tố cơ bản làm tăng tính ưu tiên của hoạt động marketing trong khách sạn: – Thứ nhất, sự gia tăng cạnh tranh trong lĩnh vực KDKS thể hiện qua số lượng các khách sạn gia tăng mỗi năm và sự xuất hiện của các hình thức khách sạn tập đoàn và khách sạn hợp tác độc quyền. Chính vì thế để tồn tại trong thị trường cạnh tranh khốc liệt không còn cách nào tốt hơn để tồn tại và phát triển đó là tập trung thực hiện tốt hoạt động marketing. Thang Long University Library
    10. 17. 6 – Thứ hai, nhu cầu của khách hàng ngày càng thay đổi theo nhiều chiều, nhiều xu hướng khó dự đoán. Vì thế trên tổng thể, thị trường đã và đang được phân đoạn sâu và rộng hơn. Đó là nguyên nhân khiến cho hoạt động marketing cần thiết phải được chú trọng nhiều hơn. – Thứ ba là sự cạnh tranh giữa KDKS với các ngành khác đang diễn ra mạnh mẽ. Chẳng hạn ngành truyền thông đang cạnh tranh bằng cách phát nhiều hơn các chương trình trực tiếp, sự kiện và điều này làm cho khách hàng tiềm năng ở nhà xem vô tuyến thay vì đi du lịch. Như vậy hoạt động marketing đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự thành công của hoạt động KDKS nói riêng và doanh nghiệp nói chung. Nó trực tiếp ảnh hưởng tới nhu cầu cũng như quyết định sử dụng sản phẩm và dịch vụ của khách hàng, ảnh hưởng tới sự hài lòng của khách hàng, từ đó tác động tới doanh thu và lợi nhuận của khách sạn. Mục tiêu của marketing trong kinh doanh khách sạn Mục tiêu tổng quát của hoạt động marketing của các doanh nghiệp nói chung, của các khách sạn nói riêng là thiết lập và duy trì mối quan hệ giữa khách hàng và doanh nghiệp. Xét một các cụ thể hơn thì mục tiêu của hoạt động marketing là nghiên cứu, dự đoán được nhu cầu hiện tại và trong tương lai của khách hàng như thế nào, qua đó đáp ứng nhu cầu đó một cách tốt nhất có thể trong phạm vi nguồn lực của mình. Việc phục vụ tốt cho nhu cầu sẽ góp phần xây dựng lòng trung thành của khách hàng, nâng cao vị thế cạnh tranh so với đối thủ và thu được lợi nhuận trong dài hạn, tăng trưởng bền vững. 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động marketing trong hoạt động kinh doanh khách sạn 1.3.1. Những yếu tố bên trong doanh nghiệp Bản thân Doanh nghiệp Nhiệm vụ cơ bản của marketing là sáng tạo ra các sản phẩm để cung cấp và làm hài lòng khách hàng mục tiêu. Tuy nhiên sự thành công của công việc đó lại đòi hỏi vào nhiều yếu tố của doanh nghiệp và đặc biệt là sự phối hợp từ các bộ phận. Trước khi được thực thi, các quyết định marketing phải tuân thủ các chiến lược, mục tiêu, sứ mệnh cụ thể mà ban lãnh đạo cấp cao đã vạch sẵn cho doanh nghiệp. Đối với một doanh nghiệp du lịch, lưu trú, việc đặt ra ngay từ đầu hướng đi của doanh nghiệp sẽ theo đuổi thị trường theo phân khúc nào? Loại hình du lịch kết hợp? Phong cách chủ đạo của dịch vụ?… và từ đó marketing sẽ đưa ra phương hướng, sáng tạo ra các cách làm hiệu quả nhất. Ngoài ra sự kết hợp giữa bộ phận Marketing và các bộ phận khác như: Kế toán, Giặt là, Ẩm thực, Lễ tân… là cực kỳ quan trọng. Sự thành công của các chiến lược marketing, các chính sách marketing phụ thuộc rất lớn vào sự liên kết và thống nhất trong hoạt động giữa các bộ phận.
    11. 20. 9 – Cạnh tranh thương hiệu: Giữa nhiều doanh nghiệp cùng cung ứng sản phẩm, dịch vụ du lịch cho cùng loại khách hàng, doanh nghiệp cần xây dựng thương hiệu và tạo cho mình chỗ đứng riêng. Công chúng Là những nhóm người có quan tâm hoặc sẽ quan tâm tới hoạt động của doanh nghiệp, có thể có các ảnh hưởng tích cực hoặc không tích cực tới hoạt động marketing. Để tận dụng được tối đa lợi ích cũng như hạn chế tối thiểu rủi ro của yếu tố này, doanh nghiệp cần phải quan tâm tới các nhóm công chúng được xếp theo mức độ và tính chất ảnh hưởng như sau: – Công chúng tích cực: có thái độ thiện chí với hoạt động của doanh nghiệp, là đối tượng cần phải được duy trì mối quan hệ tốt đẹp – Công chúng tìm kiếm: nhóm người chưa quan tâm tới hoạt động của công ty, là đối tượng doanh nghiệp cần có hoạt động gây thiện chí, lôi kéo sự chú ý – Công chúng không mong muốn: có thái độ thiếu thiện chí với hoạt động của doanh nghiệp và cần phải quan tâm theo dõi, tránh hậu quả xấu khi họ có hành động tiêu cực tới doanh nghiệp Xếp theo chức năng: – Giới tài chính bao gồm: ngân hàng, bảo hiểm, các công ty đầu tư… ảnh hưởng tới khả năng đảm bảo nguồn vốn của doanh nghiệp – Tổ chức truyền thông đại chúng bao gồm: giới báo chí, truyền thanh, truyền hình, ảnh hưởng tới hình ảnh của doanh nghiệp trước công chúng – Các cơ quan nhà nước và các hiệp hội: cục VSATTP, bộ Tài nguyên và môi trường, bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch… cũng sẽ ảnh hưởng tới các hoạt động marketing của doanh nghiệp thông qua các quy định ban hành – Lực lượng quần chúng: mặc dù lực lượng này không phải là một tổ chức nhưng hình ảnh của công ty dưới con mắt của quần chúng có ảnh hưởng đến hoạt động du lịch của doanh nghiệp – Các tổ chức khác: các đối tác trong ngành, công ty du lịch, khách sạn… Ngoài các yếu tố mang tính vi mô, hoạt động marketing trong KDKS còn bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài thuộc môi trường vĩ mô như môi trường kinh tế, chính trị – pháp luật, văn hóa… Môi trường kinh tế Môi trường kinh tế bao gồm các yếu tố như lãi suất ngân hàng, giai đoạn của chu kỳ kinh tế, cán cân thanh toán, chính sách tài chính – tiền tệ… Trước mỗi tình hình kinh tế khác nhau thì chiến lược marketing của khách sạn cũng khác nhau. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến những quyết định và kết quả đạt được cũng như hiệu quả của hoạt động marketing trong doanh nghiệp. Thang Long University Library
    12. 21. 10 Môi trường chính trị – pháp luật Môi trường chính trị – pháp luật ảnh hưởng nhiều đến marketing của khách sạn, bao gồm các hệ thống luật, văn bản pháp quy, các công cụ chính sách của nhà nước. Nó thể hiện sự quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế. Khi một chính sách được ban hành, quy định về dịch vụ đòi hỏi các nhà quản trị marketing cần nắm vững những nội dung chính từ đó biết được những hoạt động nào được phép của nhà nước và hoạt động nào không được phép để có chính sách phù hợp. Môi trường chính trị tác động đến marketing bằng các công cụ như: hệ thống luật pháp, các công cụ chính sách của nhà nước, cơ chế điều hành của chính phủ và môi trường chính trị. Hoạt động marketing cần tuân thủ theo đúng những quy định của pháp luật đó là định hướng chung cho mọi hoạt động trong ngành kinh tế. Môi trường văn hóa Văn hóa là hệ thống giá trị, quan niệm, truyền thống và các chuẩn mực hành vi đơn nhất với một nhóm người cụ thể nào đó được chia sẻ một cách tập thể. Văn hóa không chỉ ảnh hưởng đến marketing mà đôi khi nó còn ảnh hưởng cả đến văn hóa công ty. Những giá trị văn hóa cơ bản quy định những cách thức hoạt động nhất định. Để có thể hoạt động kinh doanh, mỗi doanh nghiệp cần phải đối mặt với sự tác động của rất nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài. Mỗi yếu tố ít nhiều ảnh hưởng tới hoạt động marketing của doanh nghiệp, vì vậy mỗi doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực khách sạn cần phải quan tâm tới các yếu tố trên, đảm bảo sự hài hòa trong chính sách marketing của mình để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất, hướng tới mục tiêu lợi nhuận trong dài hạn. 1.4. Hoạt động marketing – mix trong kinh doanh khách sạn 1.4.1. Nghiên cứu thị trường và phân đoạn thị trường Nghiên cứu thị trường Tìm hiểu và khai thác những thị trường mới luôn là phương hướng quan trọng của các doanh nghiệp. Từ việc phân tích đặc điểm nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp nêu rõ các đoạn thị trường mà doanh nghiệp hướng tới. Đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp KDKS, nghiên cứu thị trường, nghiên cứu marketing là một trong những công đoạn đầu tiên cần thực hiện. Người ta chia thị trường thành 4 loại: – Thị trường tiềm năng: thị trường mà doanh nghiệp có khả năng khái thác trong tương lai, bao gồm khách hàng chưa sử dụng dịch vụ và những người đang mua dịch vụ của đối thủ – Thị trường thực tế: thị trường mà doanh nghiệp đang khai thác – Thị trường mục tiêu: thị trường chiếm phần lớn doanh thu của doanh nghiệp – Thị trường cần thâm nhập: thị trường hội đủ các điều kiện cần thiết để doanh nghiệp có thể chiếm lĩnh, gia tăng thị phần
    13. 22. 11 Đối với hoạt động kinh doanh lưu trú, khi số lượng khách hàng thực tế của doanh nghiệp là con số không lớn thì số lượng khách hàng tiềm ẩn, những người đang có nhu cầu đi du lịch, đang tìm kiếm địa điểm phù hợp để lưu trú là con số rất lớn và phân tán trên một phạm vi rộng. Do đó đây có thể coi là một trở ngại cho hoạt động marketing trong việc xúc tiến quảng bá sản phẩm, dịch vụ hướng tới nhiều nhóm khách hàng mục tiêu khác nhau ở các vùng địa lý khác nhau trong khi các nguồn lực về ngân sách, con người có giới hạn. Khi đã xác định được khách hàng của mình là ai, tập trung nguồn lực để thỏa mãn nhu cầu cho họ chính là cách mang lại hiệu quả kinh doanh cao nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân đoạn thị trường “Phân đoạn thị trường chỉ ra rằng con người có những sở thích, nhu cầu, thái độ, phong cách sống, gia đình và thành phần khác nhau. Đây là một chính sách có tính toán thận trọng nhằm tối đa hóa nhu cầu của thị trường bằng việc chỉ đạo những nỗ lực marketing vào những phân nhóm khách hàng và người tiêu dùng”.(Chirisnall, 1985) Việc phân đoạn thị trường giúp doanh nghiệp hướng tới chuyên môn hóa và tập trung hóa các kế hoạch marketing, do đó nó được coi là phương pháp thu hút khách hàng mục tiêu rất hiệu quả. Phân đoạn thị trường được thực hiện dựa trên những tiêu thức nhất định, đối với marketing du lịch có 7 phương pháp chủ yếu để phân đoạn thị trường như sau: – Dựa vào mục đích chuyến đi: công vụ, khám phá, nghỉ dưỡng… – Dựa vào nhu cầu, động cơ và lợi ích tìm kiếm của người mua: tìm nơi lưu trú, tìm nơi ăn uống… – Dựa vào hành vi người mua/đặc điểm của việc sử dụng sản phẩm: tần suất mua, lợi ích tìm kiếm, giai đoạn sẵn sàng của người mua… – Dựa vào nhân khẩu học, kinh tế và địa lý: vùng miền, tỉnh, khí hậu, tuổi, giới tính, thu nhập, nghề nghiệp… – Dựa vào tâm lý: tầng lớp xã hội, đặc tính cá nhân, kiểu sống… – Dựa vào đặc điểm địa lý nhân chủng: người da trắng, da vàng, da đen… – Dựa vào giá: giá cao, giá thấp… Dựa trên những cách thức của nghiên cứu thị trường, ta có thể xây dựng mối quan hệ giữa chúng với việc chọn thị trường mục tiêu, định vị sản phẩm theo sơ đồ như sau: Thang Long University Library
    14. 24. 13 1.4.3. Chiến lược marketing – mix trong kinh doanh khách sạn Sơ đồ 1.2. Các yếu tố trong hoạt động Marketing – mix 7P Mục tiêu Marketing – mix Mục tiêu của Marketing – mix có thể tóm tắt lại ở bảng sau: Sơ đồ 1.3. Mục tiêu của hoạt động Marketing – mix trong doanh nghiệp KDKS Marketing Mix 7P Sản phẩm Product Giá cả Price Phân phối Place Xúc tiến Promotion Con người People Tiến trình Process Các yếu tố hữu hình Physical evidence Mục tiêu Marketing – Mix Có được khách hàng Giữ được khách hàng Thu hút khách hàng bằng thương hiệu tốt Bán sản phẩm, dịch vụ Sản phẩm, dịch vụ hiệu quả Sự thỏa mãn khách hàng – Thiết kế sản phẩm – Xúc tiến sản phẩm, quan hệ đối tác – Xác định mức giá phù hợp – Thiết kế kênh tiêu thụ hiệu quả – Sản phẩm, dịch vụ phong phú – Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị tốt – Nguồn nhân lực có chất lượng cao – Các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao – Các sản phẩm, dịch vụ tạo sự gắn bó của khách với doanh nghiệp Thang Long University Library
    15. 25. 14 1.4.4.1. Sản phẩm – Product Hoạt động kinh doanh khách sạn bao gồm hai dịch vụ chính: kinh doanh lưu trú và kinh doanh ăn uống. Khác với các sản phẩm khác, sản phẩm lưu trú có tính xác định về không gian. Vì vậy cần phải nghiên cứu những trang thiết bị hạ tầng (nếu có) và quy mô của chúng nhằm mục đích sử dụng đối với cơ sở kinh doanh mới được xây dựng. Sản phẩm lưu trú được quyết định ngay từ khâu chọn vị trí để xây dựng – tức là được quyết định ngay trong bước mở đầu của việc xây dựng kế hoạch kinh doanh. Quyết định về vị trí xây dựng khách sạn thể hiện tính tiện lợi, tính nghệ thuật, quy mô và thứ hạng của khách sạn. Một vị trí xây dựng khách sạn tốt sẽ tiềm ẩn trong sản phẩm của khách sạn những giá trị vô hình như sự thuận lợi trong đi lại, sự khoáng đạt về tầm nhìn tạo ra cảm giác thoải mái cho khách lưu trú, lợi thế về tài nguyên du lịch trong vùng, sự hài hoà về kiến trúc và không gian nghệ thuật với cảnh quan thiên nhiên và các công trình đã có từ trước… Tất cả những yếu tố này tạo ra một phần giá trị của sản phẩm khi đưa khách sạn vào khai thác và cũng là khả năng để đầu tư mở rộng hoặc nâng cấp thứ hạng của khách sạn trong tương lai. Trong kinh doanh lưu trú và kinh doanh ăn uống trong khách sạn, thực chất của việc đánh giá và phân loại chất lượng sản phẩm lưu trú là quá trình so sánh giữa giá trị mong đợi của khách hàng trước khi sử dụng dịch vụ và giá trị dịch vụ thực tế mà doanh nghiệp cung cấp. Trên cơ sở này, dịch vụ lưu trú được phân loại theo các mức sau: – Sản phẩm có chất lượng rất cao (Excellent service) là dịch vụ mang lại giá trị thực tế cao hơn giá trị mong đợi. – Sản phẩm có chất lượng tốt (Good service) là dịch vụ mang lại giá trị thực tế ngang bằng với giá trị mong đợi. – Sản phẩm có chất lượng tồi (Bad service) là dịch vụ mang lại giá trị thực tế thấp hơn giá trị mong đợi. Trong thực tế, người ta thường phân loại sản phẩm lưu trú, ăn uống trong KDKS theo các mức độ dịch vụ mà doanh nghiệp có thể đáp ứng trước những nhu cầu của khách hàng. Theo cách này, người ta thường chia sản phẩm lưu trú, dịch vụ ăn uống thành hai loại: – Sản phẩm bình dân (Economic class) là sản phẩm chỉ cung cấp các dịch vụ cơ bản, mang lại sự tiện nghi cho khách ở mức độ vừa phải. Một cơ sở cung cấp dịch vụ lưu trú bình dân thường chỉ có hai dịch vụ cơ bản. Thứ nhất là dịch vụ cho thuê phòng ngủ và các dịch vụ bổ sung phục vụ lưu trú (như giặt là, nơi trông giữ phương tiện). Thứ hai là dịch vụ ăn uống (cung cấp suất ăn và nước giải khát) – Sản phẩm hạng sang (First class/ Deluxe class) là sản phẩm được thực hiện theo một quy trình và chuẩn mực của các tổ chức du lịch quốc tế. Loại sản phẩm này mang
    16. 26. 15 lại cho khách một sự tiện nghi tối đa và phải đáp ứng nhu cầu của khách ở mức độ cao nhất. Phần giá trị vô hình chiếm hầu hết giá trị của sản phẩm. Để cung cấp sản phẩm hạng sang, ngoài hai loại dịch vụ cơ bản nêu trên, cơ sở lưu trú phải cung cấp các dịch vụ bổ sung khác một cách đầy đủ và tiện nghi như: Dịch vụ bar, café; Dịch vụ vui chơi giải trí như sàn nhảy, bể bơi, sân tennis, cầu lông, bi da…; Dịch vụ tài chính; Trung tâm thông tin cho khách hàng (điện thoại, internet, fax…); Dịch vụ bổ trợ (thuê thư ký, thuê phiên dịch….). Riêng với sản phẩm là dịch vụ ăn uống, có một số hình thức phục vụ như: ăn tự chọn (buffet), gọi các món ăn trong thực đơn (à la carte). Trong đó hình thức ăn tự chọn sẽ xác định được món ăn nào được khách hàng ưa thích nhất. Sau quá trình phân loại sản phẩm, doanh nghiệp sẽ quyết định được rằng mình sẽ cung cấp loại sản phẩm nào để vừa phù hợp với hệ thống cơ sở vật chất thiết bị hiện có, vừa phù hợp với đối tượng khách hàng mục tiêu. Trong trường hợp phải điều chỉnh thì doanh nghiệp sẽ quyết định ngay là phải thay đổi cơ sở vật chất để phù hợp với thị trường mục tiêu hay giữ nguyên hiện trạng mà tập trung vào khai thác một đối tượng khách hàng khác, một phân đoạn thị trường khác phù hợp hơn. Bên cạnh yếu tố vật chất, sản phẩm lưu trú còn phụ thuộc rất lớn vào yếu tố con người. Quá trình cung cấp dịch vụ cho khách là một quá trình tiếp xúc giữa khách của khách sạn và những người lao động trong khách sạn. Trong quá trình đó, khách không chỉ sử dụng những tiện nghi vật chất của khách sạn mà còn cảm nhận sự thoả mãn về dịch vụ của khách sạn thông qua quá trình phục vụ của đội ngũ nhân viên. Cung cách giao tiếp, trang phục nhân viên và kỹ năng thực hiện các quy trình nghiệp vụ là một trong những yếu tố tạo nên nét đặc trưng cho sản phẩm lưu trú của khách sạn – những yếu tố có khả năng quyết định có hay không việc trở lại khách sạn của khách trong những lần tiếp theo. 1.4.4.2. Giá – Price Giá cả, một thành phần quan trọng của marketing – mix trong kinh doanh lưu trú, cũng tuân theo những quy luật chung. Việc xác định giá được xem như là một quá trình nảy sinh trong những tình huống marketing cụ thể của doanh nghiệp: khi xây dựng sản phẩm mới hoặc xâm nhập vào một thị trường mới. Giá xâm nhập trong kinh doanh lưu trú còn được hiểu là giá sử dụng với mục đích thu hút khách hàng mới cho một sản phẩm hiện có hoặc cho cho một cơ sở lưu trú chưa có thương hiệu. Tuỳ vào đặc điểm của mỗi đoạn thị trường nhất định và mỗi sản phẩm cụ thể mà giá có thể chỉ xác định cho riêng dịch vụ lưu trú hoặc cho dịch vụ lưu trú và kèm các phương án khác nhau của dịch vụ ăn uống (ăn từng phần, ăn trọn gói). Thứ hạng của cơ sở lưu trú cũng là một cơ sở để định ra các mức giá khác nhau trong kinh doanh lưu trú. Trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường dịch vụ như hiện Thang Long University Library
    17. 27. 16 nay, phẩm cấp hay thứ hạng của cơ sở lưu trú là một trong số những tiêu chí để khách hàng lựa chọn dịch vụ. Đó là nguyên nhân của sự chênh lệch giá rõ rệt giữa các khách sạn có thứ hạng cao và khách sạn bình dân. Tuy nhiên, trong mối quan hệ cạnh tranh giữa các cơ sở lưu trú cùng thứ hạng thì phải tính đến yếu tố cầu của thị trường. Trong kinh doanh lưu trú, việc đánh giá sự tương quan giữa chất lượng và giá cả thường mang tính chủ quan và xảy ra sau khi khách đã tiêu dùng sản phẩm. Do vậy, tại từng thời điểm trong ngắn hạn, vai trò của cầu trong việc định giá dịch vụ lưu trú rất hạn chế. Yếu tố quyết định thuộc về độ nhạy bén và tính mềm dẻo của chủ trương quản trị trong doanh nghiệp và của chính những người chào bán sản phẩm. Trong dài hạn, cầu có tác động đến giá một cách rõ rệt thể hiện qua uy tín của khách sạn. Mức cầu đối với dịch vụ lưu trú của một khách sạn cụ thể tỷ lệ thuận với uy tín và mức độ nổi tiếng của khách sạn đó. Khách sạn càng nổi tiếng, có uy tín trên thị trường thì khả năng chủ động định giá của khách sạn đó càng lớn. Giá cả trong kinh doanh lưu trú còn chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm của tài nguyên du lịch trong vùng. Tài nguyên du lịch và điều kiện tự nhiên của mỗi địa phương là nguồn gốc của tính mùa vụ trong kinh doanh du lịch nói chung và kinh doanh lưu trú nói riêng của địa phương đó. Tại cùng một thời điểm nhưng có thể mùa du lịch cao điểm của địa phương này, lại có thể là mùa vắng khách của địa phương khác. Khai thác quy luật mùa vụ để định giá sản phẩm là một nội dung quan trọng trong marketing du lịch đặc biệt là marketing nhà hàng, khách sạn. Tuỳ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh, quy mô của doanh nghiệp và mục tiêu kinh doanh trong ngắn hạn mà mỗi doanh nghiệp chọn những cách thức khác nhau để xây dựng chương trình về giá cho sản phẩm của mình một cách hợp lý nhất. Để giá cả trở thành một công cụ đắc lực và phát huy hiệu quả trong marketing – mix, doanh nghiệp phải xác định rõ mục tiêu định giá của mình. Các mục tiêu phổ biến của doanh nghiệp khi tiến hành định giá là: – Mục tiêu tồn tại – Mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận – Mục tiêu dẫn đầu về thị phần – Mục tiêu dẫn đầu về chất lượng sản phẩm – Mục tiêu thu hồi vốn nhanh Tùy thuộc vào nguồn lực hiện có, vị thế cạnh tranh và chiến lược marketing của mình mà doanh nghiệp xác định mục tiêu định giá phù hợp nhằm đạt hiệu quả kinh doanh một cách tốt nhất. 1.4.4.3. Phân phối – Place Phân phối trong kinh doanh lưu trú là một tiến trình tương đối khác với việc phân phối các sản phẩm vật chất thông thường. Nếu việc phân phối một sản phẩm vật chất là
    18. 28. 17 quá trình doanh nghiệp đưa sản phẩm tiếp cận với khách hàng theo các kênh phân phối nhất định thì phân phối trong kinh doanh dịch vụ lưu trú lại là quá trình doanh nghiệp tìm cách thu hút để khách hàng tự tìm hiểu, tiếp cận và sử dụng dịch vụ của mình. Để thực hiện tốt quá trình này, hầu hết các doanh nghiệp đều phải dựa vào các trung gian, vì trong thực tế, cầu về sản phẩm lưu trú thường xuất phát từ nhiều nguồn khách khác nhau và rất khó nắm bắt. Trên cơ sở đó, sản phẩm lưu trú cũng được phân phối qua hai kênh truyền thống là kênh trực tiếp và kênh gián tiếp. – Kênh phân phối trực tiếp là kênh chỉ gồm doanh nghiệp kinh doanh lưu trú và khách hàng tiêu dùng trực tiếp. Kênh phân phối trực tiếp phổ biến ở những cơ sở kinh doanh lưu trú có quy mô nhỏ, nằm ở ven đường, đối tượng phục vụ chủ yếu là khách vãng lai. Đối với các cơ sở kinh doanh lưu trú có quy mô lớn thì người ta chỉ dùng một tỷ lệ quỹ buồng nhất định, rất hạn chế để tiêu thụ trực tiếp. – Kênh phân phối gián tiếp bao gồm doanh nghiệp trung gian phân phối sản phẩm lưu trú và khách hàng tiêu dùng sản phẩm. Các kênh phân phối gián tiếp hình thành nên mạng lưới kinh doanh rộng và đa dạng. Mạng lưới này bao gồm những khả năng giúp cho khách hàng đặt chỗ trong những cơ sở lưu trú. Những nhà trung gian phân phối sản phẩm lưu trú bao gồm: + Các nhà kinh doanh lữ hành (tour – operators). Họ thường ký hợp đồng thuê buồng, có sử dụng hoặc không sử dụng dịch vụ bổ sung trong một giai đoạn định trước. Thống nhất với các cơ sở kinh doanh lưu trú về số lượng buồng, thời gian sử dụng cũng như ngày báo hủy nếu như công ty lữ hành không bán được sản phẩm. Ưu điểm lớn nhất trong việc lựa chọn công ty lữ hành với tư cách nhà trung gian phân phối là ở chỗ đảm bảo sự tiêu thụ sản phẩm khá ổn định và đều đặn. Tuy nhiên, khi tiêu thụ sản phẩm thông qua các công ty lữ hành, doanh nghiệp thường phải bán với mức giá rất thấp. Mức giá sản phẩm lưu trú bán qua trung gian dạng này phụ thuộc lớn vào sự nổi tiếng và khả năng hoạt động của các công ty lữ hành, phương thức đặt phòng và phương thức thanh toán. Việc phân phối sản phẩm lưu trú thông qua các công ty lữ hành là một quá trình có lợi cho cả hai phía. Sự có mặt của các cơ sở lưu trú nổi tiếng sẽ làm các chương trình du lịch của các công ty lữ hành trở nên hấp dẫn và đặc sắc. Đồng thời, khi lựa chọn các công ty lữ hành làm một mắt xích trong kênh phân phối, các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú sẽ có cơ hội quảng bá chất lượng và uy tín sản phẩm của mình trong một thị trường rộng lớn. +Sản phẩm lưu trú có thể được bán thông qua các cơ sở có khả năng bán sản phẩm lưu trú: bán buôn và bán lẻ. Những đối tác này thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm lưu trú để được hưởng hoa hồng. Thang Long University Library
    19. 32. 21 yếu tố quyết định lợi nhuận và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường kinh doanh khách sạn. Tuy nhiên việc đào tạo phải được diễn ra thường xuyên liên tục phù hợp với sự phát triển của thị trường và xã hội. 1.4.4.6. Tiến trình – Process Hoạt động của tất cả bộ phận phục vụ trực tiếp trong khách sạn đều được thực hiện theo một quy trình nhất định. Các quy trình phục vụ ở từng bộ phận khác nhau là không giống nhau. Tuy nhiên chúng đều có những điểm chung là được thực hiện theo một chu trình chung gọi là quy trình khách. Quy trình khách đối với một khách sạn là quá trình gồm các giai đoạn của tiến trình tiêu dùng sản phẩm khách sạn của một lượt khách kể từ khi người khách bắt đầu có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm và kết thúc khi khách đã tiêu dùng xong sản phẩm và rời khỏi khách sạn. Quy trình khách của một khách sạn được thể hiện trong một quá trình bao gồm 4 giai đoạn sau: Giai đoạn 1: Trước khi khách tới khách sạn Giai đoạn 2: Khi khách tới khách sạn Giai đoạn 3: Trong thời gian khách lưu lại tại khách sạn Giai đoạn 4: Khi khách chuẩn bị rời khách sạn Phục vụ trong dịch vụ lưu trú Sơ đồ 1.5. Quy trình phục vụ tổng thể dịch vụ lưu trú của khách sạn – Nhận đăng ký buồng khách sạn + Hoạt động bắt đầu từ khi khách có nhu cầu liên hệ với khách sạn để tìm hiểu và đưa ra yêu cầu đặt buồng của mình. Việc này có thể được diễn ra qua điện thoại, thư điện tử, fax… hoặc đến thẳng khách sạn để ký hợp đồng hoặc thỏa thuận bằng miệng với người thứ ba. – Làm thủ tục check-in cho khách + Giai đoạn phục vụ này thường được bắt đầu trước khi khách tới khách sạn một số ngày đối với việc phục vụ những khách đăng ký buồng trước. 1.Nhận đặt phòng khách 2. Làm thủ tục check-in 3. Phục vụ tại khách sạn 4. Làm thủ tục check-out Thang Long University Library
    20. 34. 23 hoạt động cụ thể về: Cách thức đón tiếp, đưa khách vào buồng; Quy trình và yêu cầu kỹ thuật vệ sinh giường ngủ, phòng vệ sinh, tẩy rửa khác; Quy trình xử lý các đồ bỏ quên trong khách sạn… Phục vụ trong dịch vụ ẩm thực Trong nhà hàng, hoạt động tổ chức kinh doanh ăn uống được thực hiện theo một quy trình nhất định. Hoạt động kinh doanh ăn uống trong các cơ sở lưu trú du lịch đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao cả về công tác quản lý và cả về công tác thực hiện ở tất cả các khâu của quá trình hoạt động. – Xây dựng kế hoạch thực đơn. Gồm 4 bước: + Xây dựng thực đơn và các món ăn trong thực đơn. Có nhiều kiểu để phân loại thực đơn: Cố định, theo chù kỳ, có nhiều sự lựa chọn (à la carte)… + Xác định công thức tiêu chuẩn để chế biến món ăn trong thực đơn + Xác định giá bán của món ăn trong thực đơn + Thiết kế, in ấn thực đơn – Tổ chức mua, nhập, lưu trữ + Dựa vào các tiêu chí về nhu cầu tiêu thụ hàng hóa qua thực đơn và công thức chế biến các món ăn của nhà hàng, số lượng hàng tồn kho… để có thể xác định nhu cầu cần mua đối với từng mặt hàng. Tìm kiếm và gửi đơn đặt hàng tới nhà cung cấp phù hợp. + Khâu nhập hàng cầu phải dựa trên hệ thống đánh giá về tiêu chuẩn chất lượng, VSATTP và số lượng hàng đã được thỏa thuận. + Áp dụng nguyên tắc “vào trước, ra trước” trong hoạt động của kho để đảm bảo hàng trong kho phải được tôn trọng, chắc chắn rằng không hàng nào bị lưu lại quá lâu. – Chế biến thức ăn + Giai đoạn sơ chế phải có khu vực chuyên dùng. Các loại thực phẩm phải được phân loại kĩ và được tổ chức sơ chế riêng để đảm bảo yêu cầu vệ sinh và không làm ảnh hưởng tới chất lượng và hương vị của nguyên liệu. + Giai đoạn chế biến nóng phụ thuộc vào đặc điểm của từng món ăn, khẩu vị, thời tiết, tính chất món ăn để lựa chọn phương pháp chế biến phù hợp như: luộc, hầm, nấu, rán, nướng, xào… – Phục vụ trực tiếp tại nhà hàng. Tuân thủ theo quy tình khách của khách sạn, tổ chức phục vụ trực tiếp tại nhà hàng thông qua chu kỳ gồm 4 giai đoạn được lặp lại cho các lượt khách: + Giai đoạn 1: Chuẩn bị và bày bàn ăn + Giai đoạn 2: Đón tiếp và giúp khách chọn món + Giai đoạn 3: Phục vụ trực tiếp + Giai đoạn 4: Thanh toán, tiễn khách, dọn dẹp bàn ăn Thang Long University Library
    21. 36. 25 1.5.2. Đánh giá về mặt lượng Ngoài việc đánh giá về chất người ta còn có thể đánh giá hiệu quả hoạt động marketing – mix về mặt lượng thông qua những con số phản ánh những kết quả dự kiến và biện pháp cho phép đạt được những mục tiêu đã định. Các mục tiêu này thường gắn với khối lượng bán, phần thị trường và khả năng sinh lợi nên việc đánh giá về lượng thường phải được tiến hành dựa trên các vấn đề như: cơ cấu khách hàng, doanh thu và chi phí. Nguồn khách Xác định các chỉ tiêu về nguồn khách sẽ giúp cho: – Doanh nghiệp xác định được vị thế của doanh nghiệp trên thị trường thông qua phân tích về thị phần. – Xác định các đoạn thị trường mục tiêu cho khách sạn, xây dựng và hoàn thiện chính sách marketing – mix cho từng đoạn thị trường mục tiêu. – Xây dựng kế hoạch kinh doanh chung của khách sạn và cho từng bộ phận kinh doanh trong khách sạn. Đánh giá về nguồn khách của khách sạn có thể thông qua các chỉ tiêu: – Chỉ tiêu về lượt khách tiêu dùng dịch vụ lưu trú, ẩm thực, bổ sung – Chỉ tiêu về cơ cấu khách tiêu dùng dịch vụ lưu trú: khách nội địa, khách quốc tế, khách lẻ, khách công vụ… Kết quả kinh doanh Dữ liệu để phân tích, kiểm soát kết quả kinh doanh của khách sạn được tập hợp từ nguồn ghi chép nội bộ của các bộ phận: Kinh doanh buồng, Kinh doanh ẩm thực, Kinh doanh dịch vụ bổ sung. Để đánh giá kết quả kinh doanh của khách sạn cần phải dựa trên hai yếu tố chính: doanh thu và chi phí. – Chỉ tiêu Tổng doanh thu bao gồm tất cả các khoản thu của khách sạn trong kỳ phân tích. DKS = D1 + D2 + D3 Trong đó: DKS: Tổng doanh thu của khách sạn trong kỳ phân tích D1: Doanh thu dịch vụ lưu trú D2: Doanh thu dịch vụ ẩm thực D3: Doanh thu dịch vụ bổ sung + Phân tích đánh giá doanh thu dựa trên cơ cấu của tổng doanh thu theo đối tượng khách: khách quốc tế, khách nội địa, doanh thu từ khách của doanh nghiệp lữ hành, khách lẻ… Thang Long University Library

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Luận Văn Một Số Giải Pháp Nhằm Hoàn Thiện Chính Sách Marketing
  • Giải Pháp Nhằm Hoàn Thiện Chính Sách Marketing Mix Tại Công Ty Du Lịch
  • Hoàn Thiện Chiến Lược Marketing Du Lịch Nhằm Thu Hút Du Khách Quốc Tế Đến Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Hoạt Động Marketing Tại Công Ty Cổ Phần Di Lịch Thương Mại Và Đầu Tư
  • Đề Tài Giải Pháp Hoàn Thiện Hoạt Động Marketing Tại Trung Tâm Du Lịch Quốc Tế Ngôi Sao Mới
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Marketing Mix Tại Khách Sạn Sheraton Hà Nội trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×