Đề Xuất 2/2023 # Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Thcs Đồng Việt # Top 10 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Thcs Đồng Việt # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Thcs Đồng Việt mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đất nước ta đang bước vào giai đoạn hết sức quan trọng và mang tính quyết định, giai đoạn đổi mới giáo dục phổ thông. Chất lượng và hiệu quả vừa là mục tiêu phấn đấu vừa là cơ sở để đánh giá kết quả hoạt động. Một vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý, để đơn vị hoàn thành nhiệm vụ là vấn đề bức xúc được đặt ra cho những người làm công tác quản lý để đảm bảo cho đổi mới giáo dục thành công. Chính vì thế tìm ra biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay là công việc hết sức quan trọng đặt ra đối với các nhà trường.

Đối với ngành giáo dục đào tạo, NQTƯ II khóa VIII đặt ra cho ngành và trường học là phải đổi mới sự nghiệp giáo dục để đáp ứng nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới: ngành giáo dục và trường học phải nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục-đào tạo phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước nhằm đạt mục tiêu xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và giàu mạnh.

Xuất phát từ thực trạng công tác quản lý trường THCS Đồng Việt từ những năm học qua thực hiện cải tiến công tác quản lý. Do nhận thức và xác định rõ vai trò, nhiệm vụ công tác quản lý trong trường học nên trường THCS Đồng Việt đã chú trọng đổi mới, cải cách công tác quản lý trường học từ khâu xây dựng kế hoạch đến thực hiện kế hoạch.

Mặc dù trường còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất và đóng trên địa bàn là một địa phương kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, đội ngũ giáo viên tay nghề không đồng đều đa số là lớn tuổi. Tuy vậy trong những năm gần đây do thực hiện khá tốt công tác cải tiến quản lý nên nhà trường đã thu được một số thành công nhất định.

Xuất phát từ những nguyên nhân trên chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu “Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS Đồng Việt Yên Dũng Bắc Giang.”

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thcs Đại Trà

BGH luôn thực hiện đúng theo các văn bản chỉ đạo của ngành dọc cấp trên và sự chỉ đạo, lãnh đạo của HĐND, UBND huyện và UBND xã. BGH kết hợp với tổ chuyên môn (TCM) chỉ đạo giáo viên (GV) giảng dạy thực hiện đúng quy định, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT về chương trình, nội dung kế hoạch giảng dạy;

BGH xây dựng kế hoạch chung của nhà trường ngay từ đầu năm học trong đó xác định nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục đại trà là nhiệm vụ quan trọng của toàn trường. Nhiệm vụ đó được đặt ra trong kế hoạch của nhà trường, của tổ chuyên môn cũng như của từng giáo viên bộ môn (GVBM);

BGH kết hợp với các TCM làm tốt công tác bồi dưỡng GV, đánh giá GV và quản lý toàn diện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của GV; tăng cường thanh tra chuyên môn đối với GV nhà trường, tổ chức tốt Hội nghị cán bộ công chức hàng năm nhằm động viên cán bộ giáo viên (CBGV) đăng ký các danh hiệu thi đua các cấp và làm sáng kiến kinh nghiệm, đề tài nghiên cứu khoa học.

Chỉ đạo các TCM nghiêm túc thực hiện sinh hoạt tổ 2 đợt/tháng, tập trung vào đổi mới phương pháp giảng dạy, giảng dạy theo chuẩn kiến thức kỹ năng, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học, sử dụng đồ dùng nhằm làm cho HS hiểu bài, nắm bài dễ dàng hơn.

Phát động các đợt thi đua, hội giảng lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn như 26/3, 20/11, 22/12… đồng thời qua hội giảng giúp GV nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; tạo điều kiện thuận lợi cho CBGV tham gia học tập nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, chính trị.

Chỉ đạo đánh giá xếp loại CBGV hàng tháng, theo học kỳ và năm học theo đúng quy định; làm tốt công tác công khai, dân chủ trong trường học, phát huy tính sáng tạo trong nhà trường, tạo sự phấn khởi cho GV trước công việc được giao; chỉ đạo GV ôn tập cho HS trước mỗi kỳ thi; tổ chức khảo sát định kỳ, coi thi, chấm thi nghiêm túc theo đúng quy định và đánh giá xếp loại học sinh theo đúng quy chế của ngành.

Với Tổ chuyên môn

TCM có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ theo sự hướng dẫn, chỉ đạo của BGH nhà trường; thường xuyên giám sát, kiểm tra GV việc giảng dạy thực hiện đúng quy định, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT về chương trình, nội dung kế hoạch giảng dạy; tham gia chỉ đạo và trực tiếp giám sát GV làm tốt công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, kém;

Giám sát GV nghiêm túc thực hiện việc dạy thêm theo đúng quy định, theo nguyện vọng của phụ huynh và HS; tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà và mũi nhọn, giáo dục đạo đức xây dựng nếp sống mới cho HS, góp phần xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.

TCM chỉ đạo các thành viên duy trì nghiêm túc kỷ cương nề nếp cơ quan; xây dựng được tiêu chuẩn xếp loại thi đua hàng tháng đối với các tổ viên phù hợp.

Các tổ kết hợp với Công đoàn nhà trường làm tốt công tác chăm lo đời sống cho tổ viên, động viên GV hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, thực hiện tốt quy định về đạo đức nhà giáo… nhằm không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, trau dồi đạo đức nghề nghiệp, rèn luyện lối sống, tác phong, giữ gìn bảo vệ truyền thống nhà giáo.

TCM chỉ đạo thực hiện và động viên GV tích cực thực hiện đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng các giờ dạy hàng ngày; làm tốt công tác động viên, khích lệ GV tích cực tham gia phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt”, các đợt hội giảng do nhà trường phát động;

Chỉ đạo góp ý thiết kế bài dạy và rút kinh nghiệm cho đồng nghiệp trong các giờ hội giảng, các giờ thi giáo viên dạy giỏi các cấp, thi sử dụng thiết bị đồ dùng, thi sáng tạo… đạt kết quả tốt;

TCM hướng dẫn GV xây dựng nội dung chương trình ôn tập cho HS trước các kỳ thi; giám sát, kiểm tra GV thực hiện chấm thi nghiêm túc theo đúng quy định và đánh giá xếp loại HS theo đúng quy chế của ngành.

Với giáo viên bộ môn

GVBM xây dựng kế hoạch cá nhân trong nội dung chương trình môn mình giảng dạy đúng với quy định, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT; thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn, đổi mới cách soạn bài, áp dụng tốt các phương tiện và phương pháp dạy học tích cực để từng bước nâng cao hiệu quả giờ dạy.

Nâng cao chất lượng các giờ dạy bằng cách đổi mới phương pháp dạy học sao cho phù hợp với từng kiểu bài, từng lứa tuổi và từng đối tượng HS ở những lớp mình giảng dạy; thường xuyên bồi dưỡng năng lực chuyên môn nghiệp vụ qua các khóa học, lớp học chuyên môn của ngành hoặc tự học qua các tài liệu, qua các giờ dạy của đồng nghiệp, qua các tiết dạy của bản thân được đồng nghiệp rút kinh nghiệm hoặc tự rút kinh nghiệm.

GVBM chuẩn bị kỹ nội dung bài trước khi lên lớp, xác định đúng mục đích yêu cầu, trọng tâm của bài để khắc sâu kiến thức cơ bản, các kĩ năng cần thiết cho HS.

Thường xuyên liên hệ với thực tế, ứng dụng CNTT vào các giờ dạy, kết hợp tốt các phương pháp dạy học để tăng tính hứng thú của học sinh, tạo sự phấn khởi và niềm yêu thích môn học.

Với các tiết luyện tập cần có phương pháp giải phù hợp, định hướng với từng loại bài tập, xem kỹ các trường hợp có thể xảy ra (tránh cách nghĩ chủ quan đơn giản chỉ chọn chữa bài khó bỏ qua bài dễ); hướng HS tìm ra các phương thức tổng quát, cách giải với từng kiểu đề bài giúp HS nắm vững lý thuyết, biết vận dụng vào thực hành và có hứng thú học tập.

GVBM cần nhớ từng đối tượng HS trong lớp mình giảng dạy, hiểu tâm lý, lực học từng em để có cách dạy, giao bài tập sao cho phù hợp. Trong bài giảng cần có cử chỉ, ánh mắt, giọng nói bộc lộ sự tự tin vào kiến thức, quan tâm đều đến tất cả các em tạo sức hút cho bài giảng và tạo được không khí học tập thân thiện, tích cực.

GVBM chủ động ôn tập cho HS trước các kỳ thi; cho HS tập dượt nhiều dạng bài bám sát với kiến thức cơ bản cũng như một phần nâng cao với đối tượng khá giỏi; cho HS nghiêm túc chấm điểm bài làm của mình hoặc chấm bài của bạn, dưới sự hướng dẫn của GV; cho HS đánh giá đúng thực chất lực học bản thân để tự rút ra kinh nghiệm và cố gắng trong những đợt kiểm tra, các kỳ thi.

GVBM nghiêm túc thực hiện việc ra đề, coi kiểm tra đến việc chấm, chữa bài cho HS; khi chấm chú ý chỉ ra những lỗi sai và hướng dẫn cho HS tự sửa từ các bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết đến các bài thi định kỳ và kiểm tra học kỳ; không nên lấy điểm số làm áp lực với các em; tạo điều kiện thuận lợi để HS mạnh dạn thể hiện bản thân, sửa chữa nhược điểm; chấm và công bố điểm phải khách quan, công bằng tạo không khí thi đua trong học tập với HS.

GVBM luôn phối hợp tốt với giáo viên chủ nhiệm (GVCN) và phụ huynh học sinh (PHHS) để trao đổi thông tin và có những phương pháp giáo dục hiệu quả; luôn biết động viên, khích lệ với những tiến bộ dù nhỏ của các em. Với những HS cá biệt phải có cách hướng dẫn, uốn nắn các em kịp thời.

Với giáo viên chủ nhiệm

GVCN làm tốt nhiệm vụ chủ nhiệm lớp (theo Điều lệ trường THCS ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Mỗi GVCN phải là một nhà tâm lý để hiểu, quan tâm, động viên, khích lệ kịp thời đối với những tiến bộ của HS trong lớp (từ những tiến bộ dù là nhỏ nhất); là một người bạn thực sự để HS chia sẻ những tâm sự; là một người thân luôn bên cạnh các em để có những lời khuyên giúp các em tháo gỡ và giải quyết những khó khăn, khúc mắc trong học tập cũng như trong cuộc sống. Từ đó sẽ tạo nên cơ sở nền tảng chất lượng giáo dục đại trà đi vào thực chất và bền vững.

GVCN hướng dẫn, khích lệ cho HS giúp đỡ bạn trong học tập; chỉ đạo HS học nhóm, cho HS chọn nhóm bạn, đôi bạn “cùng tiến” và phân công bạn có lực học khá giỏi giúp đỡ bạn yếu kém; luôn tạo không khí học tập vui vẻ, thân thiện, hiệu quả trong lớp.

Với học sinh

HS thực hiện nhiệm vụ của học sinh (Điều 38 – Điều lệ trường THCS ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).

HS nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường; xác định rõ động cơ, mục đích học tập và luôn có ý thức phấn đấu; tiếp thu kiến thức tích cực; luôn tìm tòi, sáng tạo trong học tập; học tập chăm chỉ và yêu thích tất cả các môn học.

HS thực hiện nghiêm túc những quy định của GVBM về việc làm bài tập ở lớp và ở nhà; thực hiện những quy định về điểm kiểm tra miệng, các bài kiểm tra viết do GVMB yêu cầu; nghiêm túc thực hiện chống tiêu cực trong kiểm tra, thi cử… do nhà trường đề ra để có được những kết quả kiểm tra thực chất.

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Hướng Nghiệp Ở Trường Thcs

c - Các lực lượng ngoài nhà trường: Đa số chưa nắm rõ nội dung chương trình hoạt động hướng nghiệp - dạy nghề nên thiếu sự quan tâm, chưa tạo điều kiện về cơ sở vật chất cũng như tinh thần. Phụ huynh có suy nghĩ học nghề để được cộng điểm còn không thì thôi. c. Nội dung và hình thức tổ chức: *Ưu điểm: + Cán bộ quản lý cùng hội đồng sư phạm đã bám sát nội dung chương trình,kế hoạch của công tác HN- DN + Đã tổ chức hướng nghiệp cho HS khối 9 1tháng 1 tiết, dạy nghề 1tuần 1buổi(2tiết). + Công tác HN-DN được tiến hành ngay đầu năm học . * Tồn tại : + Hình thức tổ chức hướng nghiệp chưa phong phú,công tác hướng nghiệp trên hình thức thuyết trình, giáo viên chỉ cung cấp những kiến thức cơ bản về mặt lý thuyết trên lớp, chưa có điều kiện để tổ chức cho học sinh tham quan học tập một số nghề ở địa phương, hoặc chưa mời nghệ nhân giới thiệu một số ngành nghề mà địa phương có. + Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên làm công tác HN với GVCN, GVBM. + Công tác hướng nghiệp chưa được tập huấn thường xuyên. + Chưa thành lập được ban quản lý chỉ đạo hoạt động hướng nghiệp-dạy nghề trong trường học. d. Cơ sở vật chất: *Ưu điểm: Được sự quan tâm chỉ đạo của Phòng giáo dục, các cấp Đảng chính quyền địa phương nên nhà trường đã vận dụng được một số kinh phí trong ngân sách cho phép như quỹ học phí để mua sắm một số thiết bị dạy học phục vụ cho công tác HN-DN. *Tồn tại : Do nhà trường mới thành lập được 3 năm nên còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở vật chất còn thiếu,phòng học chỉ để phục vụ hoạt động dạy học trên lớp, chưa có phòng HN-DN,sân bãi đang tiến hành mở rộng. - Chưa tranh thủ các nguồn đóng góp của các lực lượng xã hội việc huy động cộng đồng còn hạn chế Với những tồn tại trên cho nên nó có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của công tác giáo dục HN-DN. e. Quản lý chỉ đạo * Ưu điểm -Cán bộ quản lý có sự quan tâm chỉ đạo việc dạy HN-DN cho học sinh khối 9 phù hợp với yêu cầu và chỉ tiêu đề ra của Bộ GD-ĐT, Sở GD-ĐT. -Xây dựng được kế hoạch thực hiện chương trình. * Tồn tại - Đội ngũ cán bộ QL chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo HN-DN,một số nghề không có giáo viên dạy. - Chưa chỉ đạo tốt trong việc phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường như GVCN, GVBM,hội cha mẹ HS,TTGDTX, các cơ quan sản xuất kinh doanh đóng trên địa bàn huyện. g.Công tác kiểm tra đánh giá - Việc kiểm tra công tác dạy HN-DN chưa được thường xuyên - Chưa có qui định rõ ràng trong việc đánh giá công tác DN của giáo viên - Thực chất của việc kiểm tra công tác dạy nghề chỉ thể hiện qua kết quả thi nghề của học sinh, kiểm tra chỉ trên hình thức thực hiện chương trình còn chất lượng dạy nghề ra sao thì chưa đánh giá được. Qua thực trạng hoạt động giáo dục HN- DN của khối 9 ở trường THCS Thị Trấn Khe Tre chúng tôi nhận thấy rằng công tác HN-DN được đưa vào trường PT là một việc làm rất cần thiết, trường đã có nhiều cố gắng trong việc triển khai kế hoạch và quản lý chỉ đạo cụ thể song chưa quán triệt được tất cả những yêu cầu nội dung chương trình của Bộ GD-ĐT, chưa đáp ứng mục tiêu đào tạo, yêu cầu của xã hội do ảnh hưởng nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên đã có một số tồn tại đáng kể. Trên cơ sở những mặt đã làm được và những mặt tồn tại nêu trên, tôi xin nêu một số giải pháp đã và đang thực hiện sau: Phần II: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỈ ĐẠO HOẠT ĐỘNG GDHN-DN Ở LỚP 9 TRƯỜNG THCS THỊ TRẤN KHE TRE 1) Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên, học sinh và lực lượng ngoài nhà trường. Nhận thức là một vấn đề rất quan trọng trong công tác quản lý, chỉ đạo hoạt động giáo dục HN-DN, đây là một hoạt động để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh. a. Đối với cán bộ giáo viên. Cán bộ giáo viên là lực lượng nòng cốt quyết định chất lượng các hoạt động trong nhà trường vì vậy nâng cao nhận thức là một việc làm cần thiết. Trước hết là đối với hiệu trưởng, người cán bộ quản lý trường học phải nhận thức được tầm quan trong của công tác HN - DN ở trường phổ thông nhận thức được sự chỉ đạo, tổ chức hoạt động HN-DN là nhiệm vụ của hiệu trưởng và Hội đồng giáo dục. Thấy được tầm quan trọng của công tác HN-DN trong trường phổ thông, giúp học sinh định hướng được nghề nghiệp hoặc làm quen được một số nghề sau này có cơ sở để chọn nghề mà mình yêu thích. Qua đó hiệu trưởng không được xem nhẹ công tác này và biết đầu tư thích đáng để công tác HN-DN hoạt động có chất lượng và đạt được hiệu quả cao nhất. Đối với khối 9 là khối cuối cấp, chương trình hướng nghiệp được đưa vào dạy học chính khoá, hiệu trưởng cùng giáo viên phải có sự quan tâm đến việc nâng cao nhận thức cho các em, các em phải có sự nhìn nhận, hiểu được tầm quan trọng của công tác HN-DN, đây là mục tiêu của việc giáo dục toàn diện học sinh. b. Đối với giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm. Sự hợp tác của GVCN và GVBM có vai trò quyết định cho sự thành công của công tác hướng nghiệp vì vậy nâng cao nhận thức cho giáo viên là việc cần làm. Thông qua hoạt động ngoại khoá như tổ ngoại khoá, tham quan hướng nghiệp, phòng hướng nghiệp dạy nghề...giúp giáo viên nhận thức tầm quan trọng của công tác hướng nghiệp, đây là nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục nói chung và trường nói riêng nhằm góp phần giáo dục toàn diện học sinh. Đặc biệt đối với GVCN khối 9 phải nhận thức được hoạt động HN-DN là một môn học chính khoá, hiểu được tầm quan trọng của bộ môn này từ đó có hướng giáo dục học sinh, tìm phương pháp giảng dạy phù hợp để công tác giáo dục HN-DN đạt hiệu quả cao nhất. c. Đối với học sinh khối 9 Đây là lứa tuổi sắp làm người lớn nhưng chưa có sự hiểu biết sâu sắc về tầm quan trong của hoạt động này. Vì vậy nhiệm vụ của CBGV là giúp các em hiểu được tầm quan trọng của công tác HN-DN để các em tham gia đầy đủ, tích cực và có ý thức hoạt động tốt. Thông qua các buổi ngoại khoá, chào cờ đầu tuần, sinh hoạt lớp, hoặc các bộ môn văn hoá như: Công nghệ, Vật lý, Sinh học...CBGV giúp học sinh nhận thức được trong thời đại công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước ngoài việc đào tạo những người thầy phải cần đến những người thợ. Những kiến thức mà các em được học trên lớp cần phải được vận dụng vào thực tiễn.Thông qua hoạt động này sẽ giúp các em tìm hiểu một số nghề để các em định hướng đựoc nghề nghiệp trong tương lai của mình. d.Đối với lực lượng ngoài xã hội. Trong giai đoạn hiện nay nước ta đang trên đà phát triển, nhu cầu về nhân lực đi hỏi ngày càng cao, để đáp ứng được nhu cầu đó thì yêu cầu học tập, hoạt động giáo dục nhà trường cũng được nâng cao. Để thực hiện mục tiêu giáo dục thì nhà trường cần có sự tiếp sức của lực lượng xã hội một cách có trách nhiệm. Nhà trường có trách nhiệm giúp phụ huynh học sinh, các lực lượng khác ngoài xã hội nhận thức đúng đắn vai trò, ý nghĩa của hoạt động HN-DN. Hoạt động này không thể ảnh hưởng đến chất lượng các môn văn hoá mà đây là công tác giúp các em phát triển toàn diện. Từ nhận thức đầy đủ về hoạt động này nhà trường dễ dàng tranh thủ sự hỗ trợ, hợp tác của họ trong qúa trình giáo dục. 2) Giải pháp 2: Xây dựng kế hoạch và chương trình hoạt động: Theo mục tiêu giáo dục của thời kỳ CNHĐH để phát triển toàn diện học sinh ngoài việc học các bộ môn văn hoá cần phải cung cấp thêm cho học sinh một số kiến thức cơ bản về một số nghề quen thuộc, giúp các em làm quen được với một số nghề mà em yêu thích, hiểu được ý nghĩa tầm quan trọng của việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai. Biết được một số thông tin cơ bản về định hướng phát triển KT-XH của đất nước, khu vực và địa phương, về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động, hệ thống giáo dục phổ thông, THCN và dạy nghề cao đẳng, đại học ở địa phương và cả nước. Để giúp học sinh hiểu được tầm quan trọng của hoạt động này cần phải chỉ đạo xây dựng kế hoạch từ đầu năm học. Công tác HN-DN được đưa vào kế hoạch hoạt động của năm học, đảm bảo đúng chỉ tiêu của Sở giáo dục đề ra tối thiểu là 80% học sinh khối 9 tham gia học nghề. Người phụ trách công tác hướng nghiệp của các lớp là GVCN. GVCN phối hợp với GVBM để làm tốt công tác. Tháng 9: Ý nghĩa tầm quan trọng của việc chọn nghề . Tháng 10: Định hướng phát triển KT-XH của đất nước và địa phương. Tháng 11: Thế giới nghề nghiệp quanh ta. Tháng 12: Tìm hiểu thông tin một số nghề phổ biến ở địa phương. Tháng 1: Thông tin về thị trường lao động. Tháng 2: Tìm hiểu năng lực bản thân và truyền thống nghề nghiệp của gia đình. Tháng 3: Tìm hiểu hệ thống GDTH và đào tạo nghề của TW và địa phương. Tháng 4: Các hướng đi sau khi tốt nghiệp THCS . Tháng 5: Tư vấn hướng nghiệp. Hiệu trưởng chỉ đạo GVCN phối hợp GVBM thực hiện đúng chương trình do Bộ, Sở giáo dục đào tạo quy định. Giáo viên phụ trách công tác hướng nghiệp có thể tổ chức nhiều hoạt động giáo dục hướng nghiệp bằng nhiều phương pháp: - Thuyết trình. - Tổ chức học sinh điều tra thông tin nghề. - Tổ chức học sinh học theo nhóm nhỏ. - Phương pháp đóng vai ( Diễn kịch ) mô phỏng. Đối với GVBM công nghệ, vật lý, sinh học...cần hướng nghiệp cho học sinh qua các tiết dạy, bài dạy. Sưu tầm một số mẫu vật giới thiệu một số nghề mà các em chưa biết hoặc những tài liệu có mục đích tư vấn nghề nghiệp. 3. Giải pháp 3: Tổ chức và chỉ đạo hoạt động, bồi dưỡng giáo viên và ban quản lý hoạt động HN-DN. GVCN, GVPT công tác hướng nghiệp phải chuẩn bị hồ sơ giáo án, có kế hoạch, hình thức tổ chức cụ thể tránh tình trạng soạn đối phó. Ngoài việc thực hiện đúng, đủ nội dung chương trình phần bắt buộc cần phải thường xuyên thay đổi hình thức tổ chức để tạo hứng thú cho học sinh. Thành lập Ban chỉ đạo hướng nghiệp . - Phó hiệu trưởng: Trưởng ban - Tổ trưởng CM : Phó ban - GVCN : Ủy viên - Tổng phụ trách: Ủy viên Huy động học sinh học nghề tại trung tâm GDTX và trường phải đạt tối thiểu là 80% . Ban chỉ đạo hướng nghiệp mỗi tháng họp một lần và có sự phân công trách nhiệm cụ thể. Hiệu trưởng chỉ đạo GVCN, GVBM cho học sinh tham quan học tập cách ươm giống cây ở vườn ươm của Lâm trường Khe Tre, mời Kỹ sư khuyến nông tập huấn cho học sinh cách trồng trọt chăn nuôi gia đình. Mời thợ dệt zèn giới thiệu nghề và kỹ thuật dệt các mặt hàng truyền thống, cho học sinh tham quan học tập ở cơ sở sản xuất và chế biến cau khô xuất khẩu, sản xuất chổi đót, hàng mặt mây. Để hoạt động hướng nghiệp có hiệu quả, có chất lượng thì không chỉ là nhiệm vụ của cán bộ quản lý, GVCN, GVBM, TPT mà là nhiệm vụ của tất cả hội đồng sư phạm và học sinh. Vì vậy bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ giáo viên là một việc làm cần thiết. Hiện nay nội dung chương trình hướng nghiệp có yêu cầu cao song CBGV, TPT chưa được tập huấn nhiều vì vậy để làm tốt công tác hướng nghiệp cần tổ chức các đợt tập huấn bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ tổ chức công tác hướng nghiệp, cho giáo viên tham quan học tập một số cơ sở sản xuất ở địa phương mình hoặc địa phương khác. Đối với TPT thông qua hoạt động GDNGLL giáo dục cho học sinh ý thức tham gia hoạt động HN và các buổi học nghề. Ngoài các nghề mà trường để tổ chức cần phối hợp với trung tâm GDTX tổ chức cho học sinh học tập các nghề khác như: Nhiếp ảnh, điện dân dụng, nữ công gia chánh ... Tổ chức kiểm tra việc tham gia học tập hướng nghiệp và học nghề theo sự hướng dẫn của Bộ, Sở GD-ĐT. 4) Giải pháp 4: Tăng cường cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động. Tham mưu với Đảng bộ, UBND Thị trấn, Hội phụ huynh để tranh thủ hỗ trợ xây dựng vườn trường. Đầu tư một số kinh phí để mua sắm trang thiết bị giảng dạy cho giáo viên bộ môn, GVCN, những người phụ trách công tác hướng nghiệp như sách tham khảo, tài liệu hướng nghiệp, những mô hình sản phẩm mô tả nghề . 5) Giải pháp 5: Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động HN-DN ở khối 9. Kiểm tra, đánh giá là một biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng hoạt động HN-DN. Bất kỳ một hoạt động nào ở trường cũng phải chú ý đến khâu kiểm tra, đánh giá. Không kiểm tra, đánh giá có nghĩa là không có quá trình quản lý. Vì vậy CBQL phối hợp với Ban chỉ đạo hướng nghiệp, các đoàn thể trong nhà trường phải thường xuyên kiểm tra đánh giá cụ thể công tác HN-DN của GVCN,GVBM. Thường xuyên dự giờ, kiểm tra các buổi hoạt động HN và các tiết dạy nghề để đánh giá chất lượng và hiệu quả của tiết dạy, hình thức tổ chức không phù hợp để kịp thời điều chỉnh và có biện pháp bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụ cho giáo viên. Kiểm tra việc thực hiện chương trình theo đúng quy định của Bộ và Sở GD-ĐT. Sau khi kiểm tra cần đánh giá cụ thể những mặt mạnh, mặt yếu từ đó rút ra kinh nghiệm về hình thức, phương pháp hoạt động để bổ sung vào kế hoạch. Phần III: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 1) Kết quả đạt được Nhờ sự quản lý chỉ đạo sát sao của Sở GD-ĐT, Phòng Giáo dục và Hiệu trưởng cùng với Hội đồng sư phạm để triển khai cụ thể các biện pháp nên hoạt động giáo dục HN-DN có bước chuyển biến rõ rệt. Giáo viên để nhận thức được vai trò vị trí của công tác HN trong trường phổ thông xem đây là một hoạt động tích cực thiết thực giúp học sinh phát triển toàn diện, định hướng được nghề nghiệp trong tương lai, có sự cân nhắc khi lựa chọn nghề sau khi tốt nghiệp bậc THCS. Học sinh ý thức được nhiệm vụ của mình là phải tham gia đầy đủ các buổi tổ chức HN và các buổi học nghề tại trường hoặc tại trung tâm GDTX. Kết quả đã huy động được số học sinh tham gia học nghề như sau: Năm học 2007-2008 Các nghề Tổng số HS tham gia học Tỉ lệ Tốt nghiệp và được cấp giấy CN Lâm sinh 65 25,19% 65 Điện dân dụng 48 18,60% 48 Tin học 79 30,62% 79 Tổng cộng 192 74,41% 192 Năm học 2008-2009 Các nghề Tổng số HS tham gia học Tỉ lệ Tốt nghiệp và được cấp giấy CN Lâm sinh 93 36,90% 93 Điện dân dụng 47 18,65% 47 Tin học 55 21,82% 55 Nữ công gia chánh 46 18,25% 46 Tổng cộng 241 95,63% 241 Tóm lại với vị trí, vai trò tầm quan trọng và hình thức tổ chức thực hiện các biện pháp chỉ đạo trên ở trường THCS Thị Trấn Khe Tre hiện nay hoạt động hướng nghiệp để thật sự trở thành bộ phận quan trọng của nền giáo dục phổ thông.Thực hiện công tác HN là một yêu cầu cần thiết của cải cách giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu, nguyên lý và nội dung giáo dục của Đảng. Góp phần tích cực có hiệu quả vào việc phân công và sử dụng hợp lý học sinh sau khi tốt nghiệp. Thực hiện hoạt động HN tích cực có hiệu quả sẽ góp phần gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của học sinh. Gắn liền nhà trường và cuộc sống, đáp ứng được mục tiêu KT-XH và Quốc phòng. 2) Bài học kinh nghiệm: Mặc dù chương trình HN mới được đưa vào học chính khoá ở trường phổ thông chỉ được một năm, công tác dạy nghề được hai năm nhưng qua việc thực hiện chương trình HN-DN ở khối 9 trường THCS Thị Trấn Khe Tre cho thấy nội dung chương trình hoạt động HN-DN rất phù hợp, hình thức tổ chức rất phong phú. Để hoạt động HN-DN có chất lượng, hiệu quả thì đội ngũ CBQL, Hội đồng sư phạm nhà trường phải có sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và năng lực tổ chức quản lý hoạt động HN-DN ở khối 9 . Hiệu trưởng phải xây dựng kế hoạch, phương hướng chỉ đạo hoạt động HN-DN Xây dựng Ban hướng nghiệp và có sự phân công cụ thể, đánh giá trách nhiệm của từng bộ phận. Cần phải xây dựng nội dung hoạt động cụ thể để hướng dẫn học sinh chọn nghề. Nghiên cứu xây dựng phần mềm cho bộ môn kỹ thuật phù hợp với sự phát triển KT-XH của địa phương. Muốn thực hiện công tác HN có hiệu quả phải có sự phối hợp 4 thành phần: Nhà trường, chính quyền địa phương, cơ sở sản xuất địa phương, cha mẹ học sinh. Phải tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt động HN-DN thường xuyên đưa hoạt động này vào tiêu chí thi đua của trường. Phần IV : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: 1.Kết luận Để đạt được mục tiêu của giáo dục là ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao, CBQL giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Đảng và nhà nước để đưa chương trình hoạt động HN-DN vào kế hoạch giáo dục của trường phổ thông là một trong những biểu hiện rõ nhất của sự nghiệp đổi mới giáo dục. Đảng và ngành giáo dục để chủ động bằng nhiều hình thức, biện pháp trong đó có biện pháp đổi mới phương pháp nội dung và hình thức dạy học . Việc đưa chương trình HN- DN văo trường phổ thông có tác dụng tích cực trong việc toàn diện học sinh. Để thực hiện mục tiêu giáo dục phát triển toàn diện học sinh nhà trường phải nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, đối chiếu thực trạng và tình hình thực tiễn của trường, của địa phương để có tầm nhìn chính xác hệ thống, khoa học, sau đó nhân rộng và rút ra bài học kinh nghiệm về công tác tổ chức HN-DN, tạo tiền đề cho các lớp tiếp theo đáp ứng yêu cầu giáo dục, yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, thời kỳ toàn cầu hoá. Qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và thực trạng hoạt động HN-DN ở khối 9 trường THCS Thị Trấn Khe Tre cho thấy: Việc đưa chương trình HN-DN và trường phổ thông là một việc làm có tác dụng tích cực góp phần thức đẩy các hoạt động khác của nhà trường. Việc tổ chức hoạt động HN-DN theo nội dung chương trình quy định của Bộ, Sở GD-ĐT, hình thức tổ chức phong phú đa dạng hơn, thiết thực hơn trước đây, tạo điều kiện cho việc định hướng và phân luồng học sinh sau này. 2.Kiến nghị - Đối với Sở GD-ĐT cần tổ chức tập huấn bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ phụ trách công tác HN. - Đối với Phòng giáo dục + Cần phải có một bộ phận chuyên môn của phòng để chỉ đạo công tác HN trên địa bàn . + Chú trọng công tác thanh tra . + Có Hội nghị bàn công tác HN giữa trường và trung tâm GDTX của Huyện. Nhận xét đánh giá xếp loại Người viết SKKN Của HĐSK cơ sở Nguyễn Thị Thắng Đánh giá của HĐSK cấp trên

Luận Văn Đề Tài Biện Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Thcs Lê Quý Đôn

Thực trạng ngành giáo dục ngày nay, không phải nhìn đâu cũng thấy tiêu cực, kém chất lượng. Cảm nhận như một bức tranh ảm đạm, ngổn ngang những tồn tại nhiều tiêu cực: nào là học sinh ngồi nhầm lớp, thầy đứng nhầm lớp, đạo đức học sinh sa sút, hiện tượng chạy trường, thầy nhục mạ trò . . . . Mà thực ra, từ sau năm 1945 cho đến nay, trong hoàn cảnh đất nước trải qua chiến tranh với nhiều mất mát về vật chất cũng như tinh thần, ngành Giáo dục cũng đã đem đến cho xã hội rất nhiều thành tựu, đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước. Chúng ta phải nhìn bức tranh ấy với góc độ lạc quan hơn, tự tin hơn. Người thầy giáo chính là những họa sĩ với đôi tay tài hoa sáng tạo để sáng tác nên bức tranh trí tuệ và tình cảm của con người. Từ cổ chí kim, chưa có ai trở thành những đại gia giàu có từ nghề dạy học của mình. Nếu có thu nhập kha khá đi nữa đối với những giáo sư, tiến sĩ . . . có chăng cũng chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống của một con người, số này cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Chất lượng của ngành Giáo dục có phát triển vững chắc hay không, đó chính nhờ vào đội ngũ thầy, cô giáo. Mặc dù ở đâu đó vẫn còn có những “con sâu làm rầu nồi canh”. Hơn nữa, làm công tác quản lý không chỉ có kiểm tra, nhắc nhở, phê bình mà phải biết khơi gợi trong mỗi đồng chí, đồng nghiệp của mình ngọn lửa của bầu nhiệt huyết tự tạo cho mình một bức cản, chống chọi lại những tiêu cực trong xã hội cho mình và cho các em học sinh thân yêu, xây dựng ngôi trường trở thành chiếc nôi thứ hai ấm áp tình người với những kiến thức trong bể sa mạc kiến thức của nhân loại cho các em học sinh thân yêu. Cốt lõi con người là sản phẩm tổng hoà của những mối quan hệ xã hội, tự nhiên. luôn hiện hữu hai mặt đối lập: cái thiện , ác, cái tốt, xấu, tích cực , tiêu cực. Người quản lý phải tự hướng cho mình, cho đồng nghiệp và các em học sinh đến cái tốt, cái thiện, cái tích cực . . ., lấy “LÒNG NHÂN ÁI” làm bài học đầu đời, để giải quyết tất cả mọi vấn đề. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, tất cả các lĩnh vực đều bị qui luật kinh tế thị trường chi phối. Tất cả các sản phẩm làm ra đều hạch toán lãi, lỗ, thì ngành giáo dục cũng không thoát khỏi quỹ đạo ấy. Tuy nhiên, ngành giáo dục mang tính đặc thù riêng, đối tượng, đối tác của Ngành là con người, sản phẩm của giáo dục là con người và chính là nhân tố tích cực giải quyết bài toán sản phẩm có chất lượng hay không ở các ngành khác. Hơn nữa, mối quan hệ giữa con người với con người, người quản lý với giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh. Nói đến phụ huynh học sinh là nói đến xã hội, phạm vi ảnh hưởng quan hệ rộng lớn. người làm công tác quản lý phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, tự học, tự sáng tạo, tìm ra những giải pháp tối ưu trong công tác, để đạt hiệu quả cao nhất, Đứng ở vị trí người làm công tác quản lý, qua bao nhiêu thời gian trăn trở, từ những cơ sở lý luận ban đầu và qua thực tế tôi có một số kinh nghiệm ít ỏi, mà thật ra gọi là những việc làm và suy nghĩ thì đúng hơn thực tế đã thực hiện và bước đầu gặt hái được một số kết quả xin được đúc kết thành đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS Lê Quý Đôn”

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Thcs Đồng Việt trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!