Đề Xuất 12/2022 # Giải Pháp Đổi Mới, Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Tuyên Truyền Nghị Quyết Của Đảng, Góp Phần Thực Hiện Thắng Lợi Nghị Quyết Đại Hội Xi Đảng Bộ Tỉnh / 2023 # Top 14 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Giải Pháp Đổi Mới, Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Tuyên Truyền Nghị Quyết Của Đảng, Góp Phần Thực Hiện Thắng Lợi Nghị Quyết Đại Hội Xi Đảng Bộ Tỉnh / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giải Pháp Đổi Mới, Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Tuyên Truyền Nghị Quyết Của Đảng, Góp Phần Thực Hiện Thắng Lợi Nghị Quyết Đại Hội Xi Đảng Bộ Tỉnh / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Công tác tuyên truyền, phổ biến nghị quyết của Đảng là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm đưa chủ trương, chính sách của Đảng đi vào cuộc sống. Chủ trương, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước chỉ có thể đi vào cuộc sống khi chúng ta thực hiện tốt việc tuyên truyền làm cho Nhân dân nhận thức đúng và đầy đủ, biến nhận thức thành tình cảm, trách nhiệm, hành động để thực hiện. Trong thời gian qua, thông qua các tổ chức thành viên của Mặt trận mà các chủ trương, nghị quyết của Đảng đã được tuyên truyền, phổ biến đến cán bộ, đoàn viên, hội viên và Nhân dân.

          Công tác tuyên truyền miệng là một trong những kênh thông tin quan trọng, có sự tương tác trực tiếp giữa người nói và người nghe; định hướng tư tưởng cho cán bộ, đoàn viên, hội viên và Nhân dân trước các vấn đề thời sự quan trọng trong nước và quốc tế. Việc quán triệt, học tập nghị quyết những năm gần đây còn được đổi mới theo hình thức truyền hình trực tiếp, trực tuyến. Trong học tập, tập trung làm rõ những nội dung mới, cơ bản của nghị quyết, đây là hình thức được tiết kiệm rất nhiều thời gian, kinh phí.

          Thời gian qua, công tác tuyên truyền được thực hiện với nhiều hình thức như tuyên truyền miệng, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội, các hình thức sinh hoạt chính trị, tuyên truyền bằng các phương tiện trực quan, qua các chuyên trang, chuyên mục; thông qua các hoạt động văn hoá, văn nghệ, các đội thông tin tuyên truyền lưu động, tham quan…; thông qua các hoạt động cộng đồng, các lễ hội, các câu lạc bộ, nhóm sở thích, nghề nghiệp … nhằm tạo sự đồng thuận, nhất quán với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tạo phong trào hành động cách mạng ở mỗi địa phương. Chính từ đó các chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được triển khai đến Nhân dân.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tuyên truyền được sử dụng thường xuyên hơn. Việc tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng được coi trọng, đẩy mạnh. Đồng thời tăng cường chuyên trang, chuyên mục, nâng cao chất lượng hình ảnh, nội dung tin, bài phục vụ nhiệm vụ chính trị, đáp ứng nhu cầu thông tin của Nhân dân. Từ hoạt động nầy giúp củng cố xây dựng mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân được chặt chẽ hơn; đa số các chủ trương, chương trình, đề án khi triển khai đều được Nhân dân đồng tình và hưởng ứng.

          Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tuyên truyền vẫn còn hạn chế, thường chỉ diễn ra một chiều, trình độ, năng lực, kỹ năng của cán bộ làm công tác tuyên truyền, là những báo cáo viên, tuyên truyền viên của Mặt trận, đoàn thể vẫn chưa đáp ứng kịp sự phát triển của xã hội, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác tuyên truyền còn thiếu nhiều (hệ thống máy chiếu, màn chiếu, máy tính phục vụ cho nhiệm vụ tuyên truyền ở cơ sở không có). Trên thực tế, ở cơ sở còn rất lúng túng trong việc tổ chức tuyên truyền học tập Nghị quyết cho cán bộ, đoàn viên, hội viên và Nhân dân, bởi thông tin cho báo cáo viên còn rất hạn hẹp, chỉ gói gọn mấy nội dung trong phạm vi nghị quyết hay trên nói sao dưới nói vậy mà chưa có sự phân tích và chứng minh một cách linh hoạt, hay nói ít hơn, nói nhiều sợ sai….. vì vậy việc triển khai nghị quyết ở một số nơi chất lượng không cao.

          Nguyên nhân: Do cán bộ làm công tác tuyên truyền ít được tập huấn về chuyên môn. Vì vậy việc tuyên truyền, triển khai chủ trương, nghị quyết chỉ đạt ở mức độ nhất định, chưa đáp ứng tốt yêu cầu; tài liệu tuyên truyền còn hạn chế, chưa đáp ứng cho các đối tượng cần được tuyên truyền; một số cấp ủy, chính quyền ở cơ sở chưa quan tâm đúng mức cho công tác tuyên truyền, còn chỉ đạo chung chung trong thực hiện; thông tin không được mở rộng, phân tích thêm, vì vậy chưa tạo được tính hấp dẫn đối với người nghe; tác động của mặt trái mạng xã hội đã làm cho việc cập nhật thông tin của một số người bị ảnh hưởng,… vì vậy công tác tuyên truyền, thông tin chính thống cần phải được cung cấp nhanh chóng, kịp thời để định hướng tích cực đến nhận thức của cán bộ, đoàn viên, hội viên và Nhân dân.

          Hiện nay, chúng ta có rất nhiều kênh, nhiều hình thức để thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, nghị quyết đến cán bộ, đoàn viên, hội viên và Nhân dân. Trong mỗi hình thức, cách làm đó đều có mặt được và chưa được tác động nhất định đến chất lượng hiệu quả công tác tuyên truyền. Vì vậy chúng ta phải đổi mới nội dung, biện pháp, cách thực hiện sao cho việc học tập chủ trương, Nghị quyết của Đảng phù hợp với đối tượng cần được tuyên truyền để đạt được mục đích tuyên truyền, chất lượng hiệu quả ngày càng cao.

           Trong thời gian tới, để công tác tuyên truyền chủ trương, nghị quyết của Đảng đạt hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh, lưu ý một số giải pháp:

          + Một: Phải xem công tác tuyên truyền là nhiệm vụ quan trọng và phải xác định người nghe là ai để biên soạn nội dung cho phù hợp. Nội dung tuyên truyền phải có trọng tâm, trọng điểm, không nói chung chung, chọn những nội dung dễ hiểu, dễ nhớ, dễ nói, thiết thực trong đời sống, để người nghe dễ dàng nhận thức được và làm được. Thực hiện công tác tuyên truyền đối với người đứng đầu tổ chức, thành phần tiêu biểu, có uy tín trong cộng đồng dân cư sẽ có sức lan tỏa và tác động hiệu quả hơn. Trong lĩnh vực tôn giáo, chức sắc là người có uy tín sẽ ảnh hưởng lớn đến quần chúng tín đồ. Tiếng nói của chức sắc có sức thuyết phục lớn tác động, quyết định đến lập trường và thái độ của tín đồ. Do vậy đối với công tác tôn giáo thì việc tuyên truyền vận động chức sắc các tôn giáo là rất quan trọng.

Tập trung tuyên truyền, tổ chức học tập Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh, nhiệm kỳ 2020-2025 và các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, cụ thể hóa Nghị quyết của Đại hội thành chương trình hành động để triển khai thực hiện. Vận động Nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước; đặc biệt là thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua “Đồng khởi mới” theo Chỉ thị số 01-CT/TU ngày 17/10/2020 của Tỉnh ủy về phát động Phong trào thi đua “Đồng Khởi mới” giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2030, “Công dân Đồng khởi”, ….

          + Hai: Củng cố, xây dựng và phát triển lực lượng làm công tác tuyên truyền của Mặt trận, đoàn thể tại cơ sở: có kỹ năng, được tập huấn, nhiệt tình. Người cán bộ làm công tác tuyên truyền phải lấy sự gương mẫu để vận động tuyên truyền. Tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm và vai trò của mỗi cán bộ, đoàn viên, hội viên để tuyên truyền, vận động ra Nhân dân.

          + Ba: Công tác tuyên truyền phải được gắn kết với việc thực hiện các phong trào hành động cách mạng ở địa phương. Cán bộ, đoàn viên, hội viên tích cực đóng góp, tham gia xây dựng và cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở mỗi cơ quan, đơn vị. MTTQ Việt Nam làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, chính quyền với Nhân dân. Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Mỗi cán bộ, đoàn viên, hội viên phải thật sự là những người nồng cốt trong mọi hoạt động, nói và làm theo Nghị quyết, gương mẫu trong Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

          + Bốn: Cán bộ, đoàn viên, hội viên và Nhân dân là sự tập hợp nhiều người có trình độ, nhận thức, quan điểm khác nhau, nên khi đưa ra một vấn đề gì thường có nhiều ý kiến khác nhau. Do đó việc đầu tiên là phải tuyên truyền giáo dục, tuyên truyền để người dân có nhận thức tốt về đường lối, chính sách, đồng thời phải lắng nghe ý kiến khác nhau, phân tích để đi đến thống nhất thực hiện.

          + Năm: Thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật thông tin, kiến thức, kỹ năng, cung cấp tài liệu cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên của Mặt trận, các đoàn thể cơ sở để thực hiện công tác tuyên truyền.

Năm năm tới chúng ta bước vào giai đoạn thi đua mới, tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước của Nhân dân tỉnh nhà và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận xã hội, chung sức, chung lòng quyết tâm duy trì và nâng cao hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước toàn diện trên các lĩnh, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI nhiệm kỳ 2020-2025.

          Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ đòi hỏi cán bộ làm công tác tuyên truyền phải giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận sâu sắc, bản lĩnh chính trị vững vàng, kinh nghiệm sống phong phú để có đủ năng lực trao đổi, đối thoại, giải đáp những băn khoăn, thắc mắc, bức xúc của người dân; am hiểu công nghệ thông tin để có thể sử dụng và tác chiến trên không gian mạng.

Tuyên truyền là một việc quan trọng và cần thiết, là nhiệm vụ chính trị của mỗi cấp, mỗi ngành và mỗi người cán bộ đảng viên; làm sao để chủ trương, Nghị quyết của Đảng đi vào đời sống một cách thiết thực. Do đó việc nắm dư luận xã hội, hiểu được tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đoàn viên, hội viên và Nhân dân đối với các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là rất quan trọng; kịp thời phản ánh với các cấp lãnh đạo, các cơ quan chức năng những vấn đề mà Nhân dân quan tâm. Đồng thời làm cơ sở cho công tác tuyên truyền và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thực Hiện Thắng Lợi Nghị Quyết Đại Hội Đảng Các Cấp / 2023

TẬP TRUNG CÁC GIẢI PHÁP ĐƯA THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TRỞ THÀNH ĐÔ THỊ LOẠI I (Đồng chí Hoàng Văn Thành, Tỉnh ủy viên, Bí thư Thành ủy Thái Bình)

Thị xã Thái Bình ngay từ buổi bình minh thành lập năm 1890 đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và là đầu mối giao thông quan trọng, nơi giao thoa các sắc thái văn hóa của tỉnh Thái Bình với tên gọi “Kỳ Bố Hải Khẩu”. Cùng với sự phát triển của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thị xã Thái Bình đã có bước chuyển mình mạnh mẽ. Năm 2003, thành phố Thái Bình trở thành đô thị loại III và 10 năm sau được Chính phủ công nhận là đô thị loại II. Đặc biệt, 5 năm qua, kinh tế – xã hội của thành phố có bước chuyển biến rõ rệt, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, quốc phòng địa phương được giữ vững, nhiều chỉ tiêu đạt và vượt tiêu chí đô thị loại I. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 13,86%; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giảm còn 1,5%, 3 năm liền thành phố được Hiệp hội Đô thị Việt Nam công nhận là đô thị xanh – sạch – đẹp.

Để sớm trở thành đô thị loại I, thành phố tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế, trọng tâm là phát triển công nghiệp hiện đại với các ngành công nghiệp phụ trợ, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm; phát triển khu dịch vụ vui chơi giải trí quy mô lớn gắn với phát triển đô thị du lịch nghỉ dưỡng và giải trí hai bên bờ sông Trà Lý, khu Quảng trường Thái Bình; huy động tối đa các nguồn lực phục vụ đầu tư phát triển, đa dạng hóa các loại hình đầu tư, nguồn lực đầu tư. Về phát triển đô thị, thành phố tập trung hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội các khu đô thị hiện hữu để phát triển đô thị về cả hai phía Đông và Tây theo hướng hiện đại, thông minh, bền vững; xây dựng kế hoạch thực hiện quy hoạch chung thành phố đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050; quy hoạch phân khu khu vực cảnh quan hai bên bờ sông Trà Lý; triển khai đầu tư xây dựng, kết nối các tuyến đường giao thông trọng điểm; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, từng bước xây dựng đô thị thông minh.

PHẤN ĐẤU CÁN ĐÍCH NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO, NÔNG THÔN MỚI KIỂU MẪU (Đồng chí Nguyễn Văn Huy, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Hưng Hà)

Năm 2015, Hưng Hà là 1 trong 8 huyện đầu tiên của cả nước, là huyện đầu tiên của tỉnh Thái Bình được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận huyện đạt chuẩn NTM. Đến tháng 1/2020, Hưng Hà có 2 xã được đoàn thẩm định của tỉnh đánh giá đạt 11/11 tiêu chí nông thôn mới (NTM) nâng cao; 6 xã đạt 10/11 tiêu chí; 5 xã đạt 9/11 tiêu chí; các xã còn lại đạt từ 6 – 8 tiêu chí NTM nâng cao và có 2 xã đăng ký xây dựng NTM kiểu mẫu giai đoạn 2020 – 2025. Kết quả xây dựng NTM đã góp phần thay đổi diện mạo nông nghiệp, nông thôn huyện Hưng Hà.

QUYẾT LIỆT CHỈ ĐẠO, TẠO ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI ĐỂ THU HÚT CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀO KHU KINH TẾ THÁI BÌNH (Đồng chí Lại Văn Hoàn, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Tiền Hải)

Đại hội Đảng bộ huyện Hưng Hà nhiệm kỳ 2020 – 2025 đã xác định 1 trong 5 nhiệm vụ trọng tâm của cả nhiệm kỳ là: “Tập trung duy trì, nâng cao chất lượng các tiêu chí NTM; xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu”. Để thực hiện thành công nhiệm vụ này, Đảng bộ huyện Hưng Hà tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu gồm: Xây dựng nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện về xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu giai đoạn 2020 – 2025 và xác định rõ xây dựng NTM là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, thường xuyên, lâu dài, không có điểm kết thúc. Đẩy mạnh phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập cho người dân. Tập trung ưu tiên nguồn lực, làm tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng để đầu tư xây dựng một số công trình trọng điểm của huyện trong kế hoạch trung hạn giai đoạn 2021 – 2026 và đầu tư xây dựng hạ tầng NTM. Tiếp tục phân cấp, tạo điều kiện để các cơ sở và người dân chủ động trong việc nâng cao chất lượng các tiêu chí NTM. Tập trung xây dựng hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở vững mạnh toàn diện. Quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn phân bổ từ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM. Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị trong chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện chương trình xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu… Phấn đấu từng bước xây dựng Hưng Hà trở thành trung tâm kinh tế – xã hội phía Tây Bắc của tỉnh.

TẬP TRUNG LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CÂY TRỒNG TRÊN ĐẤT TRỒNG LÚA KÉM HIỆU QUẢ (Đồng chí Trần Quang Triển, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Đông Hưng)

Trong những năm qua, huyện Tiền Hải đã triển khai thực hiện kịp thời các dự án đầu tư phát triển vùng ven biển, hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, hỗ trợ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ mang lại hiệu quả cao, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Sản xuất thủy sản phát triển khá mạnh cả nuôi trồng, khai thác và dịch vụ. Chế biến thủy sản từng bước được chú trọng, đã hình thành các doanh nghiệp đầu mối chế biến cung cấp trong nước và xuất khẩu. Huyện thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các ngành của tỉnh tập trung quy hoạch mở rộng và từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Tiền Hải, quy hoạch và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng 5 cụm công nghiệp. Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 36/2017/QĐ-TTg về việc thành lập Khu kinh tế Thái Bình, tỉnh Thái Bình với diện tích tự nhiên 30.583ha. Trong đó, huyện Tiền Hải có 15 xã nằm trong Khu kinh tế. Để hội nhập Khu kinh tế Thái Bình, phát huy lợi thế tuyến đường bộ ven biển, huyện Tiền Hải tích cực phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư triển khai xây dựng các khu công nghiệp – đô thị – dịch vụ trên địa bàn huyện, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các dự án đầu tư có quy mô lớn, có tính chất động lực cho phát triển kinh tế – xã hội của huyện và của tỉnh. Thường xuyên theo dõi, phối hợp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để các doanh nghiệp hoạt động. Tập trung quyết liệt thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện thuận lợi khai thác các dự án kết cấu hạ tầng quan trọng, các dự án đầu tư vào Khu kinh tế Thái Bình. Trong đó, giải quyết vướng mắc trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để hoàn thành bàn giao toàn bộ mặt bằng cho nhà đầu tư dự án tuyến đường bộ ven biển, dự án hạ tầng cụm công nghiệp An Ninh, dự án đường 221A, mở rộng khu công nghiệp Tiền Hải, khu công nghiệp Hải Long, khu nuôi trồng thủy sản công nghệ cao Nam Phú, Nam Hưng, Nam Thịnh và các dự án trong Khu kinh tế khi được tỉnh yêu cầu.

VŨ THƯ CHÚ TRỌNG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ (Đồng chí Nguyễn Thanh Tuấn, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Vũ Thư)

Nhiệm kỳ 2015 – 2020, Đảng bộ và nhân dân huyện Đông Hưng phát huy truyền thống đoàn kết, nhất trí và quyết tâm chính trị cao, vượt qua khó khăn, thách thức, giành những thành tựu toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Trong nông nghiệp, bà con nông dân đã tích cực chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng, con vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Diện tích chuyển đổi đất cấy lúa kém hiệu quả sang trồng cây hàng năm và cây ăn quả của huyện đạt 340ha. Giá trị thu nhập bình quân cây hàng năm và cây ăn quả đạt từ 200 – 600 triệu đồng/ha/năm.Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp đề ra trong 5 năm tới, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời quản lý được quy hoạch sử dụng đất, cấp ủy, chính quyền các cấp trong huyện sẽ thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm sau: Tăng cường tuyên truyền, quán triệt chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước, của tỉnh về chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang phát triển cây ăn quả và cây hàng năm khác cho giá trị kinh tế cao hơn; trao đổi kinh nghiệm và nhân rộng các mô hình, điển hình chuyển đổi hiệu quả. Tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vùng sản xuất rau, củ, quả an toàn, hữu cơ đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 ở các địa phương, bảo đảm đúng quy định. Làm tốt công tác quản lý, giám sát và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về chuyển đổi đất lúa ở các địa phương, không để lấn chiếm và sử dụng sai mục đích. Chú trọng công tác nghiên cứu, khảo nghiệm, sản xuất thử, lựa chọn các loại giống phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng, đặc biệt chú trọng phát triển các giống cây trồng bản địa có chất lượng, xây dựng các vùng chuyển đổi trồng các cây đặc sản có giá trị kinh tế cao. Thường xuyên tổ chức kiểm tra hoạt động sản xuất, kinh doanh giống cây nông nghiệp, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Tích cực tham gia chương trình xúc tiến thương mại các mặt hàng rau, củ, quả theo chương trình của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và của tỉnh. Phát triển cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, bảo quản, chế biến rau, củ, quả. Ưu tiên nguồn lực, ban hành các cơ chế hỗ trợ phù hợp để khuyến khích chuyển đổi cây trồng, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và thu nhập cho bà con nông dân.

TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT, LIÊN KẾT SẢN XUẤT, TIÊU THỤ SẢN PHẨM THEO CHUỖI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI (Đồng chí Vũ Ngọc Trì, Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Kiến Xương)

Xác định phát triển kinh tế biển là ngành kinh tế mũi nhọn, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện ban hành Nghị quyết số 01 về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chủ động huy động các nguồn lực nhằm thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững kinh tế biển, ven biển của huyện giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2025. Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành thủy sản giai đoạn 2015 – 2020 đạt 7,83%/năm (tăng 2,35%/năm so với giai đoạn 2010 – 2015). Để khai thác tốt tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, chủ quyền biển, đảo trên địa bàn huyện Thái Thụy trong tiến trình xây dựng, phát triển Khu kinh tế Thái Bình, tôi xin đề xuất một số giải pháp sau: Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong việc tham gia thực hiện nhiệm vụ này; tăng cường giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế biển theo chương trình đào tạo nghề ngư dân ven biển; đẩy mạnh cải cách hành chính; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo đà tiếp tục phát triển mạnh mẽ dịch vụ, hạ tầng du lịch và từng bước phát triển kinh tế – xã hội; thực hiện tốt các chương trình, dự án trồng, bảo vệ rừng ngập mặn, mở rộng diện tích khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước; xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân khu vực biên giới biển ngày càng vững chắc, tạo ra thế phòng thủ liên hoàn, khép kín trong chiến lược phòng thủ của huyện; xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế biển, ưu tiên khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh đầu tư hạ tầng vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, chính sách hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp khai thác, chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản, phát triển du lịch, phát triển đội tàu xa bờ gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo, chính sách bảo hiểm, hỗ trợ khi dịch bệnh, thiên tai xảy ra…

Đến năm 2019, huyện Kiến Xương đã thực hiện tích tụ được 911ha đất nông nghiệp có quy mô từ 2ha trở lên; diện tích tổ chức sản xuất hàng hóa theo hợp đồng liên kết bao tiêu sản phẩm là 2.190ha; sản lượng nông sản tiêu thụ qua hợp đồng liên kết đạt khoảng 16.000 tấn, chiếm trên 10% tổng sản lượng từ trồng trọt của huyện. Diện tích đất trồng lúa chuyển sang trồng cây nông nghiệp khác có giá trị cao hơn đạt 63ha; diện tích chuyển 1 vụ là 36ha, chuyển cả 2 vụ là 27ha. Năm 2019, Kiến Xương được công nhận đạt chuẩn huyện nông thôn mới, về đích sớm hơn 1 năm so với mục tiêu đề ra.

ĐẨY MẠNH PHONG TRÀO “TOÀN DÂN BẢO VỆ AN NINH TỔ QUỐC” TRONG TÌNH HÌNH MỚI (Đại tá Nguyễn Thanh Trường, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Công an tỉnh)

Để thúc đẩy việc tích tụ ruộng đất, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm trồng trọt theo chuỗi, Đảng bộ huyện Kiến Xương xác định nhiệm kỳ 2020 – 2025 sẽ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt ở các cấp, các ngành, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nhân dân nắm được xu hướng tất yếu của sản xuất nông nghiệp hiện nay, hiểu rõ quyền lợi của mình khi cho thuê đất hoặc tham gia liên kết sản xuất; giao chỉ tiêu tích tụ ruộng đất, tổ chức liên kết sản xuất theo hợp đồng tiêu thụ sản phẩm cho từng địa phương, phấn đấu mỗi xã, thị trấn có từ 1 – 2 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP. Tổ chức các lớp tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới gắn với từng vùng chuyên canh. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, tổ hợp tác có liên kết được tiếp cận chính sách ưu đãi của Nhà nước. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hạ tầng các cụm công nghiệp, ưu tiên tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chế biến nông sản, sản xuất hàng hóa ít độc hại, thân thiện với môi trường vào đầu tư sản xuất để tạo việc làm cho người dân, giúp người nông dân “ly nông nhưng không ly hương”. Thực hiện tốt vai trò quản lý nhà nước trong việc bảo đảm liên kết theo hợp đồng. Rà soát lại quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, quy vùng sản xuất lúa, màu bảo đảm hình thành các vùng sản xuất tập trung có đầy đủ các điều kiện thuận lợi về đường giao thông, hệ thống kênh mương, trạm bơm, đường điện.

CỦNG CỐ, XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VỮNG MẠNH (Đại tá Phạm Đức Kiên, Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Quân sự tỉnh, Chính ủy Bộ CHQS tỉnh)

Nhiệm kỳ 2015 – 2020, Đảng bộ Công an tỉnh đã nỗ lực phấn đấu, lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ công tác công an, chủ động tham mưu, đề xuất nhiều chủ trương, giải pháp phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc. Nổi bật là tham mưu Tỉnh ủy ban hành nhiều văn bản nhằm tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Quan tâm chỉ đạo xây dựng, duy trì và nhân rộng hàng nghìn mô hình, điển hình tiên tiến trong thực hiện phong trào… Trong thời gian tới, để đẩy mạnh phong trào phát triển đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương, Đảng bộ Công an tỉnh đề xuất 6 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Theo đó, tiếp tục huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân đối với phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”; thường xuyên đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân cũng như trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ công an về phong trào. Lực lượng công an các cấp tiếp tục nêu cao tinh thần trách nhiệm, nắm chắc tình hình, chủ động tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền cùng cấp và công an cấp trên đề ra các chủ trương, kế hoạch, biện pháp xây dựng phong trào gắn kết chặt chẽ với các cuộc vận động và phong trào thi đua yêu nước ở địa phương. Đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, giữ bình yên cho nhân dân. Thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện phong trào, củng cố thế trận an ninh nhân dân và thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc. Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa lực lượng công an với các lực lượng khác nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc. Tiếp tục xây dựng lực lượng công an các cấp trong sạch, vững mạnh, thực sự là chỗ dựa tin cậy của cấp ủy, chính quyền và nhân dân.

XÂY DỰNG THẾ TRẬN LÒNG DÂN, QUYẾT TÂM BẢO VỆ VỮNG CHẮC CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO THIÊNG LIÊNG CỦA TỔ QUỐC (Thượng tá Tống Thanh Sơn, Phó Bí thư Đảng ủy, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh)

Nhiệm kỳ 2015 – 2020, Đảng ủy, Bộ CHQS tỉnh chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành các nghị quyết lãnh đạo, UBND tỉnh xây dựng kế hoạch chỉ đạo thực hiện về xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức quán triệt, học tập và triển khai đến cán bộ, đảng viên và tuyên truyền sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân. Đảng ủy, Bộ CHQS tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh (QPAN) cho đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị và toàn dân; tập trung xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, chính sách xã hội và vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh. Cùng với đó, Đảng ủy, Bộ CHQS tỉnh đã tham mưu triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương phát triển kinh tế – xã hội gắn với củng cố QPAN và củng cố QPAN gắn với phát triển kinh tế – xã hội, trong đó chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, phát triển dịch vụ, quy hoạch sử dụng đất gắn với quy hoạch đất quốc phòng, công trình quốc phòng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và củng cố QPAN; bảo đảm tính chiến lược về phát triển kinh tế gắn với củng cố QPAN theo đúng chủ trương: “Mỗi bước phát triển kinh tế là một bước tăng cường củng cố QPAN”; đồng thời, quy hoạch, sắp xếp, phát huy hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, bảo đảm phát huy được nguồn nguyên liệu và lao động tại chỗ có tính lưỡng dụng sẵn sàng phục vụ nhiệm vụ QPAN khi có tình huống. Lực lượng quân sự chủ động phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành kịp thời đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, củng cố QPAN ở địa phương.

Thái Bình có bờ biển dài 54km với vùng biển rộng trên 3.000km2, có 1 cảng biển và 5 cửa sông lớn. Vùng biển của tỉnh có nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú, có giá trị kinh tế cao, bảo đảm cho sự phát triển bền vững, đồng thời có vị trí chiến lược quan trọng cả về địa lý, chính trị, kinh tế và quốc phòng – an ninh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (BĐBP), của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, thời gian qua, BĐBP tỉnh đã triển khai đồng bộ các biện pháp công tác, trong đó luôn coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, xác định việc xây dựng phong trào quần chúng tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo vừa mang tính cấp bách vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh đã làm tốt công tác tham mưu Tỉnh ủy, UBND tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết, đề án, kế hoạch về xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới… Cùng với công tác tuyên truyền, BĐBP tỉnh còn thực hiện có hiệu quả công tác vận động quần chúng, tích cực tham gia công tác tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm; đồng thời, củng cố và xây dựng thế trận biên phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc. Từ đó phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, ngành, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới biển, vun đắp lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, xây dựng thế trận lòng dân, quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SINH HOẠT CHI BỘ, PHÁT HUY VAI TRÒ HẠT NHÂN CHÍNH TRỊ CỦA CHI BỘ ĐẢNG Ở CƠ SỞ (Đồng chí Nguyễn Văn Chiến, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh)

Thời gian tới, BĐBP tỉnh tiếp tục nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, mưu trí, dũng cảm, nỗ lực cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia; thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025 và Nghị quyết số 02-NQ/TU, ngày 21/12/2018 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và phát triển Khu kinh tế Thái Bình, góp phần xây dựng tỉnh Thái Bình phát triển, giàu đẹp, văn minh.

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG VÀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN TRONG DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC (Đồng chí Nguyễn Hoài Đức, Bí thư Đảng ủy Khối doanh nghiệp tỉnh)

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh và các cấp ủy đảng trong Đảng bộ Khối đã có nhiều chủ trương, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Do đó, các chi bộ đều thực hiện tốt chế độ sinh hoạt thường kỳ với nội dung bám sát chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm, tình hình của từng cơ quan, đơn vị, bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Việc phân công nhiệm vụ cấp ủy viên, xây dựng và thực hiện các quy chế làm việc, chương trình kiểm tra, giám sát của cấp ủy được thực hiện nghiêm túc. Công tác nắm bắt tình hình, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân được duy trì thường xuyên. Công tác quản lý đảng viên, đấu tranh phê bình cũng như giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống trong sinh hoạt chi bộ được quan tâm chỉ đạo và có nhiều chuyển biến rõ nét. Để tiếp tục nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, phát huy vai trò hạt nhân chính trị của chi bộ đảng ở các cơ quan, đơn vị, góp phần quan trọng lãnh đạo thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025, giải pháp đặt ra là các cấp ủy đảng, các chi bộ cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; xác định đây vừa là mục tiêu vừa là nhiệm vụ quan trọng để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm túc, nền nếp chế độ sinh hoạt chi bộ định kỳ và chuyên đề theo quy định; giữ vững nguyên tắc trong tổ chức và sinh hoạt đảng, mở rộng và phát huy dân chủ để đảng viên nói thẳng, nói thật, đề cao tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng. Các chi bộ cũng cần xác định tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt là yêu cầu thường xuyên của công tác xây dựng Đảng, đồng thời cũng là một trong những giải pháp tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị.

Bám sát chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Đảng ủy Khối doanh nghiệp tỉnh luôn chú trọng công tác phát triển đảng viên, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài nhà nước, coi đây là hạt nhân nòng cốt lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị tại doanh nghiệp. Trong nhiệm kỳ 2015 – 2020, Đảng uỷ Khối đã thành lập mới 19 tổ chức cơ sở đảng, tổ chức 14 lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng cho 926 quần chúng ưu tú, kết nạp 785 quần chúng ưu tú trong doanh nghiệp ngoài nhà nước vào Đảng, trong đó có 13 lãnh đạo, chủ doanh nghiệp, nâng số tổ chức cơ sở đảng trực thuộc lên 127 với trên 4.100 đảng viên. Các tổ chức cơ sở đảng luôn phát huy tốt vai trò là hạt nhân chính trị ở cơ sở, lãnh đạo thực hiện hiệu quả nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh. Tổng giá trị sản xuất 5 năm qua của các doanh nghiệp ngoài nhà nước có tổ chức đảng trực thuộc Đảng bộ Khối ước đạt 58.000 tỷ đồng, chiếm 62,7% tổng giá trị sản xuất của toàn Khối, nộp ngân sách ước đạt 4.300 tỷ đồng.

Để nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng và công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp ngoài nhà nước, nhiệm kỳ 2020 – 2025, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối doanh nghiệp tỉnh xác định tập trung làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vai trò và sự cần thiết phải thành lập tổ chức đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các cấp ủy, tổ chức đảng trong doanh nghiệp theo hướng nâng cao năng lực tổ chức, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị bám sát thực tiễn, phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng đội ngũ cấp ủy, chăm lo xây dựng, phát huy vai trò của các đoàn thể chính trị – xã hội trong doanh nghiệp ngoài nhà nước. Tăng cường công tác phối hợp với cấp ủy, chính quyền các cấp và Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh trong việc tuyên truyền, vận động thành lập, tạo điều kiện cho hoạt động của tổ chức đảng, tạo nguồn phát triển đảng viên, đồng thời chủ động nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển lớn mạnh cả về số lượng và quy mô, tạo việc làm ổn định và nâng cao thu nhập cho người lao động.

Thái Nguyên: Nhiều Giải Pháp Thực Hiện Thắng Lợi Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ Xvii / 2023

Sáng 26- 9, Hội nghị sơ kết giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVII (Nhiệm kỳ 2005- 2010) đã bế mạc. Đồng chí Nguyễn Văn Vượng, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội đơn vị tỉnh Thái Nguyên đã có bài phát biểu tổng kết và chỉ đạo một số nhiệm vụ trọng tâm để thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh.

Các ý kiến đều tập trung phân tích những tồn tại và đưa ra những giải pháp để thực hiện thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết, đó là: Cơ cấu kinh tế các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng trưởng còn thấp, cơ cấu kinh tế nội ngành nông nghiệp chuyển dịch chậm, nên giá trị sản xuất hàng hoá đạt chưa cao.

Về vấn đề đầu tư, các đại biểu đều nhất trí cần bổ sung giải pháp đẩy mạnh đầu tư kết cấu hạ tầng, bổ sung các chính sách thu hút đầu tư kịp thời, tăng cường công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch bảo đảm kịp với tốc độ phát triển kinh tế. Chú trọng phát triển đầu tư, phát triển công nghiệp phần mềm (công nghiệp thông tin); tăng chi ngân sách bổ sung đầu tư cho ngành nông nghiệp nhằm chuyển dịch cơ cấu nội ngành; đổi mới đầu tư phát triển nâng cao chất lượng điện phục vụ đời sống và sản xuất .

Về công tác xây dựng Đảng, các đại biểu đã phân tích và đề nghị bổ sung thêm một số giải pháp, đó là: Tăng cường công tác xây dựng Đảng, trong đó quan tâm đến công tác phát triển đảng viên mới, phát triển Đảng trong các nhà trường, doanh nghiệp; sắp xếp lại mô hình quản lý các tổ chức cơ sở đảng, bảo đảm thống nhất và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu…

Hội nghị thống nhất giữ nguyên các chỉ tiêu Nghị quyết đã đề ra đầu nhiệm kỳ và tập trung thực hiện các giải pháp chính, đó là: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quan tâm đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội; làm tốt công tác xây dựng quy hoạch, quản lý quy hoạch, nâng cao chất lượng quy hoạch; đẩy mạnh cải cách hành chính; tập trung giải phóng mặt bằng, thực hiện các dự án trọng điểm theo đúng tiến độ; kiên quyết đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội, tăng cường quản lý thị trường, ngăn chặn đầu cơ, buôn lậu, trốn thuế, kiềm chế lạm phát; tăng cường công tác quốc phũng- an ninh, bảo đảm an toàn xã hội, đẩy mạnh cải cách tư pháp; tập trung xây dựng Đảng bộ vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.

Thực Hiện Thắng Lợi Nghị Quyết Đại Hội Xiii Của Đảng, Vì Đất Nước V… / 2023

Đại hội quyết nghị: Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII và đánh giá chung về 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011), 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020, 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới; định hướng phát triển và phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước trong thời gian tới nêu trong các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII trình Đại hội.

Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ra mắt đại hội. Ảnh: TRỌNG HẢI

Về kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, Nghị quyết nêu rõ:

Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm, chưa tạo được chuyển biến căn bản; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ chưa trở thành động lực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Lĩnh vực văn hóa, xã hội chưa có nhiều đột phá, hiệu quả chưa cao; đời sống của một bộ phận nhân dân còn khó khăn. Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu còn bất cập. Các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại còn một số mặt hạn chế. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi chưa được quan tâm phát huy đầy đủ. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có mặt chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và quản lý đất nước trong tình hình mới. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn một số hạn chế.

Mười năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2011-2020 đã tạo những tiến bộ quan trọng cả về nhận thức lý luận và tổ chức thực hiện, khẳng định những giá trị to lớn của Cương lĩnh, tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo. Kinh tế, văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển, quốc phòng, an ninh, đối ngoại được tăng cường, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, kinh tế-xã hội phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước và còn nhiều khó khăn, thách thức. Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2011-2020 và việc tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đạt được mục tiêu đề ra. Công cuộc đổi mới và tình hình quốc tế tiếp tục đặt ra nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn cần phải tập trung giải quyết để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là việc nhận thức, giải quyết đúng, hiệu quả các mối quan hệ lớn.

Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991), lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, đặc biệt, trong 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động nhanh, phức tạp, Cương lĩnh của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu, ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đồng chí Lê Minh Hưng, Trưởng Đoàn Thư ký Đại hội đọc Dự thảo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Ảnh: TTXVN 

Về tầm nhìn và định hướng phát triển, Nghị quyết nêu rõ:

Trong những năm tới, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải đoàn kết một lòng; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy; có quyết tâm chính trị cao; dự báo chính xác, kịp thời diễn biến của tình hình; chủ động ứng phó kịp thời với mọi tình huống; nỗ lực hơn nữa để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; không ngừng gia tăng tiềm lực mọi mặt của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt được; đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững; quyết tâm thực hiện thắng lợi các quan điểm, mục tiêu, định hướng và nhiệm vụ trọng tâm sau:

Quan điểm chỉ đạo là kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.

Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững.

Các đại biểu dự phiên bế mạc đại hội. Ảnh: ĐINH TRỌNG

Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất.

Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân là những nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Mục tiêu tổng quát là nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Mục tiêu cụ thể đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp.

Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triến, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Định hướng các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025:

Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân 5 năm đạt khoảng 6,5-7%/năm. Đến năm 2025, GDP bình quân đầu người khoảng 4.700-5.000 USD; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng họp (TFP) vào tăng trưởng đạt khoảng 45%; tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân trên 6,5%/năm; tỉ lệ đô thị hóa khoảng 45%; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt trên 25%; kinh tế số đạt khoảng 20% GDP.

Về xã hội, đến năm 2025, tỉ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 25%; tỉ lệ lao động qua đào tạo là 70%; tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị năm 2025 dưới 4%; tỉ lệ nghèo đa chiều duy trì mức giảm 1-1,5% hằng năm; có 10 bác sĩ và 30 giường bệnh/1 vạn dân; tỉ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 95% dân số; tuổi thọ trung bình đạt khoảng 74,5 tuổi; tỉ lệ xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới tối thiểu 80%, trong đó ít nhất 10% đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.

Về môi trường, đến năm 2025, tỉ lệ sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh của dân cư thành thị là 95-100%, nông thôn là 93-95%; tỉ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 90%; tỉ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường là 92%; tỉ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý đạt 100%; giữ tỉ lệ che phủ rừng ổn định 42%.

Về định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, Nghị quyết xác định:

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường…, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc; khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh. Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị; phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; ưu tiên nguồn lực phát triển hạ tầng nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số; đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, gắn kết hài hòa, hiệu quả thị trường trong nước và quốc tế.

Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài. Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới.

Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hóa. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước.

Quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức xã hội lành mạnh, văn minh; chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, chất lượng dân số, gắn dân số với phát triển; quan tâm đến mọi người dân, bảo đảm chính sách lao động, việc làm, thu nhập, thực hiện tốt phúc lợi xã hội, an sinh xã hội. Không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh, quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên; lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường.

Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam.

Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò tự quản của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội; tiếp tục đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội.

Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội.

Tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; làm tốt công tác tư tưởng, lý luận; chú trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng và công tác dân vận của Đảng.

Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các quan hệ lớn: Quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Trong nhận thức và giải quyết các quan hệ lớn, cần chú trọng hơn đến bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữ vững độc lập, tự chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Về nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, Nghị quyết nêu rõ:

Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Củng cố lòng tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Tập trung kiểm soát đại dịch Covid-19, tiêm chủng đại trà vaccine Covid-19 cho cộng đồng; phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập; phát triển đồng bộ và tạo ra sự liên kết giữa các khu vực, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh; có chính sách hỗ trợ hiệu quả doanh nghiệp trong nông nghiệp; đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững; hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật về bảo hộ sở hữu trí tuệ và giải quyết các tranh chấp dân sự, khắc phục những điểm nghẽn cản trở sự phát triển của đất nước.

Giữ vững độc lập, tự chủ, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế; có chính sách cụ thể phát triển văn hóa đồng bào dân tộc thiếu số; thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam.

Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh; cải cách tư pháp, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trước hết là sự gương mẫu tuân theo pháp luật, thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị-xã hội các cấp, của cán bộ, đảng viên; tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc.

Quản lý chặt chẽ, sử dụng hợp lý, hiệu quả đất đai, tài nguyên; bảo vệ, cải thiện môi trường; chủ động, tích cực triển khai các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, thiên tai khắc nghiệt.

Về các đột phá chiến lược, Nghị quyết nêu rõ:

Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả. Tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, nhất là đất đai, tài chính, hợp tác công-tư; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật.

Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giả trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội; ưu tiên phát triển một số công trình trọng điểm quốc gia về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu; chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số.

Đại hội thông qua Báo cáo chính trị, Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025. Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII căn cứ Báo cáo giải trình của Đoàn Chủ tịch Đại hội, kết quả biểu quyết để hoàn chỉnh và chính thức ban hành.

Đại hội thông qua Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng của Ban Chấp Trung ương khóa XII; đồng ý không sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng hiện hành. Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII chỉ đạo nghiên cứu, tiếp thu để điều chỉnh thông qua các quy định, hướng dẫn của Trung ương; tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất Điều lệ trong toàn Đảng.

Đại hội thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII trình Đại hội XIII. Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tiếp thu ý kiến của Đại hội, phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ tới.

Đại hội đồng ý đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, tái cử Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị khóa XIII để bầu giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Đại hội thông qua kết quả bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII gồm 200 đồng chí, trong đó có 180 đồng chí Ủy viên Trung ương chính thức, 20 đồng chí Ủy viên Trung ương dự khuyết.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và các cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối và những chủ trương nêu trong các văn kiện Đại hội XIII.

Đại hội kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giá trị văn hóa, khát vọng phát triển đất nước, sức mạnh con người Việt Nam, vai trò của khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội để đất nước ta phát triển nhanh, bền vững hơn, lập nên kỳ tích phát triển mới vì một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc ta.

 Theo QĐND điện tử

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giải Pháp Đổi Mới, Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Tuyên Truyền Nghị Quyết Của Đảng, Góp Phần Thực Hiện Thắng Lợi Nghị Quyết Đại Hội Xi Đảng Bộ Tỉnh / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!