Đề Xuất 2/2023 # Đo Chức Năng Thông Khí Phổi Bằng Phế Dung Kế # Top 9 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Đo Chức Năng Thông Khí Phổi Bằng Phế Dung Kế # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đo Chức Năng Thông Khí Phổi Bằng Phế Dung Kế mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đo chức năng thông khí phổi bằng phế dung kế là phương thăm dò chức năng phổi không xâm lấn. Kỹ thuật này nhằm đánh giá chức năng hô hấp của phổi, qua đó phát hiện một số rối loạn hoặc bệnh lý tại phổi, đánh giá mức độ nặng của bệnh và sự đáp ứng điều trị của thuốc.

Đo chức năng hô hấp bằng máy đo phế dung kế là một phương pháp khá an toàn, không gây nguy hiểm và ít độc hại cho người thực hiện. Bệnh nhân được bác sĩ chỉ định đo chức năng hô hấp khi cần thiết. Phương pháp này không gây đau cho người bệnh, hầu như không gây khó chịu hay tai biến kèm theo sau. Tuy nhiên độ chính xác của kết quả đo phụ thuộc rất nhiều vào sự hợp tác của bệnh nhân.

Đo chức năng thông khí phổi cung cấp thông tin chính xác về lưu lượng không khí lưu thông trong phế quản và phổi. Kết quả đo được thể hiện bằng con số cụ thể và phần trăm so với giá trị của người bình thường.

2.1. Chuẩn bị trước khi đo

Bệnh nhân cần báo với bác sĩ nếu có cơn đau ngực hoặc đang sử dụng những thuốc điều trị bệnh phổi (như thuốc giãn phế quản…) hoặc có tiền sử dị ứng thuốc

Không tập thể dục thể thao quá mức, không vận động nặng 30 phút trước khi đo.

Không hút thuốc lá quá nhiều, đặc biệt trong vòng 6 giờ trước thời điểm tiến hành đo.

Bệnh nhân không được ăn quá no trước khi đo: cụ thể không ăn no trong vòng 2 giờ trước khi đo

Bệnh nhân nên mặc quần áo rộng rãi, thoải mái khi tiến hành đo.

Không uống rượu 4 giờ trước khi đo

Trường hợp dùng kỹ thuật đo hô hấp ký để chẩn đoán bệnh lần đầu tiên: Không sử dụng thuốc giãn phế quản trước khi đo ít nhất 6 giờ nếu sử dụng là loại tác dụng ngắn, 12 giờ nếu là sử dụng là loại tác dụng kéo dài, 24 giờ nếu sử dụng thuốc uống như theophylin.

2.2. Quá trình đo chức năng thông khí phổi kéo dài từ 15 – 30 phút

Bệnh nhân được đo cân nặng, chiều cao, kẹp mũi bằng kẹp chuyên dụng, miệng ngậm ống thở, hít vào và thở ra bằng miệng. Để có kết quả chính xác, bệnh nhân cần thở đúng theo hướng dẫn của kỹ thuật viên

Toàn bộ quá trình hít thở của người bệnh sẽ được đo và ghi lại bằng máy đo chuyên dụng. Trả kết quả đo sau 15 phút.

2.3. Các bước thở khi đo chức năng hô hấp

Bệnh nhân được hướng dẫn thực hiện 2 động tác quan trọng:

Động tác 1: hít vào và thở ra bình thường, tiếp theo hít vào sâu hết sức, rồi thở ra hết sức.

Động tác 2: hít vào và thở ra bình thường, tiếp theo hít vào hết sức và thổi ra thật nhanh, thật mạnh, hết sức nhất có thể, tiếp tục thở ra đến khi ít nhất 6 giây.

Khi thực hiện bất cứ động tác nào cũng phải làm liên tục, không được dừng. Vì khi dừng đột ngột hoặc thực hiện không chính xác sẽ gây sai lệch kết quả đo, dẫn đến nhận định sai kết quả chức năng phổi hiện có, dẫn đến chẩn đoán và điều trị không phù hợp.

Với bệnh nhân hút thuốc lá, ngay cả khi kết quả đo bình thường vẫn không có nghĩa là bệnh nhân không có nguy cơ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính COPD.

Nếu bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính của người bệnh tiến triển thì chỉ số FEV1 (thể tích thở ra tối đa trong giây đầu tiên) sẽ giảm dần. Khi FEV1 dưới 40% trị số bình thường, điều này cho thấy phổi của người bệnh không còn khả năng duy trì chức năng bình thường, lượng oxy trong máu sẽ giảm sút. Tình trạng thiếu oxy sẽ được phát hiện và đánh giá thông qua xét nghiệm khí máu.

3.1. Chỉ định của kỹ thuật đo chức năng thông khí phổi

Chẩn đoán bệnh lý hô hấp khi có các triệu chứng và kết quả xét nghiệm khác bất thường:

Xét nghiệm cận lâm sàng: giảm Oxy máu, tăng CO2 máu, X-quang lồng ngực bất thường, đa hồng cầu.

Triệu chứng bất thường: khó thở, khò khè, ngồi thở, thở ra khó khăn, ho đờm kéo dài, ho khan kéo dài, dị dạng lồng ngực

Theo dõi đáp ứng điều trị, diễn tiến bệnh như các bệnh hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh phổi hạn chế.

Tầm soát bệnh về phổi trên những đối tượng có nguy cơ cao:

Người hút thuốc lá

Người làm việc ở nơi có khói và hóa chất độc hại.

Lượng giá sức khỏe trước khi luyện tập

3.2. Chống chỉ định

Đo chức năng thông khí phổi bằng phế dung kế là một phương pháp khá an toàn, không gây nguy hiểm và ít độc hại cho người thực hiện. Để đạt kết quả chẩn đoán chính xác, bệnh nhân cần tuân thủ theo đúng chỉ đạo của bác sĩ.

Tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đang sử dụng phương pháp đo chức năng hô hấp trong chẩn đoán các bệnh lý đường hô hấp. Kỹ thuật này được thực hiện bởi đội ngũ y bác sĩ có chuyên môn cao và được đào tạo bài bản, với sự hỗ trợ của trang thiết bị hiện đại, tiên tiến; chất lượng dịch vụ y tế chuyên nghiệp.

Để được tư vấn chi tiết về kỹ thuật đo chức năng hô hấp (hô hấp ký) tại Vinmec, Quý Khách có thể liên hệ Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc, hoặc đăng ký khám trực tuyến TẠI ĐÂY.

Đo Thông Khí Phổi Và Làm Test Hồi Phục Phế Quản

ĐO THÔNG KHÍ PHỔI VÀ LÀM TEST HỒI PHỤC PHẾ QUẢN

ĐO THÔNG KHÍ PHỔI VÀ LÀM TEST HỒI PHỤC PHẾ QUẢN

I. CHỈ ĐỊNH

1. Chẩn đoán

– Đánh giá các dấu hiệu, triệu chứng hoặc bất thường nghi ngờ do bệnh hô hấp.

– Đánh giá ảnh hưởng của bệnh trên chức năng phổi.

– Sàng lọc các trường hợp có yếu tố nguy cơ với bệnh phổi.

– Đánh giá tiên lượng trước phẫu thuật.

– Đánh giá tình trạng sức khỏe trước khi làm nghiệm pháp gắng sức.

2. Theo dõi

– Đánh giá can thiệp điều trị.

– Theo dõi ảnh hưởng của bệnh trên chức năng phổi.

– Theo dõi tác động của tiếp xúc yếu tố nguy cơ trên chức năng phổi.

– Theo dõi phản ứng phụ của thuốc.

– Đánh giá mức độ của bệnh.

– Đánh giá người bệnh khi tham gia chương trình phục hồi chức năng.

– Đánh giá mức độ tàn tật: trong y khoa, công nghiệp, bảo hiểm ytế.

3. Y tế công cộng

Khảo sát dịch tễ học về bệnh.

II. CHỐNG CHỈ ĐỊNH

– Người bệnh có ống nội khí quản, mở khí quản.

– Bất thường giải phẫu, bỏng vùng hàm, mặt.

– Tràn khí màng phổi, tràn dịch màng phổi

– Rối loạn ý thức, điếc, không hợp tác.

– Suy hô hấp, tình trạng huyết động không ổn định.

III. CHUẨN BỊ

1. Người thực hiện

– Kỹ thuật viên đo chức năng hô hấp.

– Bác sỹ chuyên khoa hô hấp đọc kết quả.

2. Phương tiện

– Máy đo chức năng hô hấp.

– Phin lọc: mỗi người bệnh 01 chiếc.

3. Người bệnh

– Điền vào phiếu tự đánh giá trước đo CNHH (phụ lục 1).

– Nới lỏng quần áo trước khi đo CNHH.

IV. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH

1. Kỹ thuật viên đo chức năng hô hấp

– Nhận phiếu yêu cầu làm CNHH.

– Giải thích cho người bệnh ngồi đợi theo thứ tự. Gọi tên theo thứ tự.

– Ghi các chỉ số cân nặng, chiều cao ở trên cùng của phiếu yêu cầu.

– Hướng dẫn người bệnh ngồi vào ghế và điền phiếu tự đánh giá trước đo CNHH.

– Đánh giá các thông số trong phiếu tự điền. Hướng dẫn người bệnh xử trí khi có bất cứ yếu tố nào (Phụ lục 2).

– Nhập tên, tuổi, giới tính, cân nặng, chiều cao vào máy đo.

– Hướng dẫn người bệnh cách thực hiện các động tác đo SVC, FVC.

– Yêu cầu người bệnh làm thử hít vào và thở ra trước khi thực hiện đo CNHH.

– Đo 3 – 8 lần cho mỗi chỉ số VC, FVC.

– Đánh giá sơ bộ các tiêu chuẩn của chức năng hô hấp (Phụ lục 3).

– In kết quả với đủ cả 3 đường cong lưu lượng – thể tích.

– Test hồi phục phế quản được chỉ định khi chức năng hô hấp đo trước test có rối loạn thông khí tắc nghẽn:

+ Người bệnh được xịt 400mcg Salbutamol qua buồng đệm hoặc khí dung 2,5mg Salbutamol.

+ Tiến hành lại động tác đo VC, FVC sau khi xịt thuốc 15 phút.

2. Bác sỹ chuyên khoa Hô hấp đọc kết quả

– Đánh giá CNHH về các tiêu chuẩn lặp lại và chấp nhận được của kết quả đo CNHH (Phụ lục 3)

+ Hình ảnh đường cong lưu lượng thể tích

+ Các chỉ số đo CNHH

– Đọc kết quả CNHH theo phụ lục 4.

3. Kỹ thuật viên trả kết quả cho người bệnh

– Ghi kết quả đo CNHH vào sổ theo dõi

– Kiểm tra lại tên, tuổi trước khi trả kết quả cho người bệnh

– Trả kết quả cho người bệnh

(Lượt đọc: 2442)

Đo Thông Khí Phổi Đánh Giá Rối Loạn Chức Năng Hô Hấp

Đo thông khí phổi đánh giá lưu lượng không khí lưu thông trong phế quản và phổi, đồng thời cũng đánh giá mức độ tắc nghẽn phế quản và mức độ trầm trọng của giãn phế nang. Độ chính xác của kết quả phụ thuộc vào sự hợp tác của bệnh nhân. Kết quả đo được thể hiện bằng số cụ thể và bằng phần trăm so với giá trị của một người bình thường. Các trị số đo được của chức năng hô hấp sau đó được biểu diễn dưới dạng một đường cong trong đó một trục thể hiện các số đo về lưu lượng khí lưu thông, còn trục còn lại thể hiện các số đo của các thể tích khí có trong phổi, do vậy đường cong này còn được gọi là đường cong lưu lượng thể tích.

Có 2 loại hô hấp ký là hô hấp ký loại thể tích và hô hấp ký loại lưu lượng để theo dõi và nhận biết chức năng thông khí của phổi trong quá trình hô hấp hít vào và thở ra phụ thuộc vào thời gian hít thở, có gắng sức hay không và gắng sức đạt mức tối đa khi thở ra hay không?

Thông thường bệnh nhân được yêu cầu làm 2 động tác khi đo, thứ nhất là động tác là hít vào thở ra bình thường, sau đó được yêu cầu hít vào sâu thật hết sức, rồi thở ra thật hết sức, thứ hai là động tác hít vào thở ra bình thường, rồi sau đó được yêu cầu hít vào thật hết sức và thổi ra thật nhanh, thật mạnh, hết sức có thể, và tiếp tục thở ra cho đến khi ít nhất 6 giây.

Trong khi thực hiện bất cứ động tác nào cũng phải làm liên tục không được ngưng vì khi ngưng đột ngột hoặc thực hiện không chính xác những gì mà kỹ thuật viên đo chức năng hô hấp yêu cầu sẽ gây sai lệch kết quả đo chức năng hô hấp dẫn đến nhận định sai kết quả dẫn đến chẩn đoán và điều trị không phù hợp. Trường hợp nếu bệnh nhân hút thuốc lá mà kết quả đo chức năng hô hấp bình thường thì không có nghĩa là người đó không có nguy cơ bị bệnh COPD.

Đối tượng được các bác sĩ chỉ định thực hiện đo chức năng thông khí khi có các triệu chứng lâm sàng và kết quả xét nghiệm khác bất thường như khó thở, khò khè, ngồi thở, thở ra khó khăn, ho đờm kéo dài, ho khan kéo dài, dị dạng lồng ngực, giảm Oxy máu, tăng CO2 máu, đa hồng cầu, X-quang lồng ngực bất thường. Hoặc đo thông khí đối với người hút thuốc lá, người làm việc nơi có khói, tiếp xúc với hóa chất độc hại. Đặc biệt là những bệnh nhân mãn tính hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh phổi hạn chế cần phải được đo thông khí để kiểm soát bệnh, đánh giá diễn tiến bệnh

Không nên thực hiện đo chức năng thông khí phổi đối với những trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp cấp, ho ra máu không rõ nguyên nhân, phình động mạch chủ ngực, chủ bụng, vừa mới qua đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), hen dưới 6 tuần, nhồi máu cơ tim, phẫu thuật mắt,bụng, ngực dưới 3-6 tháng, đau ngực không rõ chẩn đoán, đau thắt ngực không ổn định trong 24 giờ và lao phổi tiến triển.

Bác sĩ Nguyễn Huy Nhật đã có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực điều trị bệnh lý Hô hấp tại Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Đa khoa Hoàn Mỹ,..trước khi là bác sĩ Khoa Nội tổng hợp Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng.

Nếu nhận thấy các vấn đề bất thường về sức khỏe bạn nên thăm khám và tư vấn với các bác sĩ chuyên khoa.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Khí Quản Và Phế Quản: Các Chức Năng Và Các Bệnh

Để cung cấp cho cơ thể các chất dinh dưỡng, chúng ta cần thực phẩm. chúng tôi cũng không thể làm mà không có nước, vì hơn một nửa tạo thành từ chất lỏng quan trọng này. Nhưng mọi thứ khác là cơ thể con người cần oxy, mà hệ thống hô hấp của chúng tôi mất từ không khí. Trong đó tích cực giúp đỡ khí quản và phế quản.

Nếu truy cập không khí là khó khăn, sau đó để có được số tiền yêu cầu oxy cho hô hấp, hệ hô hấp , cùng với trung tâm bắt đầu làm việc. Nhưng điều thú vị hơn, hệ hô hấp của con người có thể thích nghi với điều kiện môi trường.

Tầm quan trọng của hệ thống hô hấp

Vai trò của hệ thống hô hấp khó có thể đánh giá quá cao. Làm thế nào chúng ta có thể biết từ bài học sinh học, khi bạn thở ra chúng ta thoát khỏi carbon dioxide CO 2. Khi bạn hít vào phổi đến oxy, mà trong số đó được thực hiện bởi hệ thống tuần hoàn cho tất cả các mô của cơ quan nội tạng. Như vậy, sự trao đổi khí được thực hiện. Là lúc nghỉ ngơi, chúng ta tiêu thụ 0,3 lít cho mỗi phút của oxy, từ đó hình thành một số tiền nhất định của CO 2 và nó là nhỏ hơn trong cơ thể.

Trong y học, có một thuật ngữ gọi là thương đường hô hấp, trong đó phản ánh tỷ số giữa lượng carbon dioxide mà là bên trong của cơ thể với lượng xâm nhập vào khí quản và phế quản oxy. Trong điều kiện bình thường, tỷ lệ này là 0,9. Nó được duy trì sự cân bằng này là nhiệm vụ chính mà thực hiện các hệ thống hô hấp của con người.

Cấu trúc của hệ thống hô hấp

Hệ hô hấp là một tổ hợp bao gồm các thành phần sau:

Để hiểu rõ hơn làm thế nào để phát triển một căn bệnh đặc biệt vốn có trong hệ thống hô hấp, nó là cần thiết để hiểu làm thế nào một số thành phần của nó được sắp xếp.

Đồng thời tìm hiểu vai trò gì họ chơi trong cơ thể chúng ta. Chỉ có một cái nhìn sâu hơn về việc phân tích các phế quản và khí quản, vì chúng thường dễ bị biến đổi bệnh lý.

khí quản

Khí quản là trung gian giữa thanh quản và phế quản. Và khí quản, phế quản và có một cấu trúc chung và trông giống như một ống. Chỉ có chiều dài đầu tiên là khoảng 12-15 cm và đường kính khoảng 1,5-1,8 cm, nhưng với tuổi nó có thể được thay đổi một chút. Ngược lại với phổi không được ghép nối cơ thể. Đây là một cơ thể khá linh hoạt, như đại diện bởi các hợp chất của 8-20 nhẫn của sụn.

Nó nằm giữa các đốt sống cổ tử cung thứ sáu và các đốt sống ngực thứ năm. Phần dưới của chi nhánh khí quản vào hai kênh chính, nhưng thon nhẹ trước khi chia. phân nhánh trong ngôn ngữ y tế Đây là tên gọi của nó – một phân nhánh. Khu vực này có rất nhiều thụ thể cảm giác. Điều đáng chú ý là khí quản có hơi dẹt hình dạng, nếu trọng tâm từ trước ra sau. Vì lý do này, mặt cắt ngang của nó khoảng vài milimét cao hơn so với thông số dọc.

Tiếp tục xem xét của khí quản (phế quản và như sẽ được mô tả), nó là đáng chú ý là phía trên cùng của ống khí quản lân cận của tuyến giáp, và nó kéo dài đằng sau thực quản. Dòng cơ thể niêm mạc, được đặc trưng bởi khả năng hút. Vì lý do này, một điều trị tốt bằng cách hít. Ngoài ra, nó được lót bằng mô cơ-sụn, trong đó có một cấu trúc dạng sợi.

bộ máy phế quản

Từ quan điểm hình ảnh của xem, các phế quản tương tự như các cây, cũng giống như khi lộn ngược. Giống như ánh sáng, nó cũng sẽ được ghép tạng, được hình thành bởi các bộ phận của khí quản thành hai ống, đó là những phế quản chính.

Mỗi ống được, đến lượt nó, được chia thành các chi nhánh nhỏ hơn mà đi đến các bộ phận khác nhau của phổi và cổ phiếu. Trong trường hợp này, cơ thể đúng là một chút khác nhau từ trái: nó là một chút dày hơn, nhưng ngắn hơn và có một thỏa thuận dọc rõ rệt hơn. Nhiều người trong số các bệnh khí quản và phế quản kết hợp với viêm đường hô hấp.

Toàn bộ cấu trúc có tên generic – cây phế quản, cơ cấu trong đó, ngoài các phế quản chính, bao gồm một số chi nhánh:

vốn chủ sở hữu;

BỘ PHẬN;

subsegmentary;

tiểu phế quản (thùy, thiết bị đầu cuối và hô hấp).

Thân cây này được đảo ngược bản thân khí quản, từ đó hai phế quản chính (phải và trái) khởi hành. Trong số đó là ống cổ phần hơi nhỏ, và trong phổi đúng ba trong số họ, và ở bên trái – chỉ hai. Những ống cũng được chia thành phế quản segmental nhỏ hơn và, cuối cùng, tất cả mọi thứ kết thúc tiểu phế quản. đường kính của họ là nhỏ hơn 1 mm. Tại đầu của sau này là nhỏ nên gọi là mụn nước, được gọi là phế nang, ở đâu, trên thực tế, có một cuộc trao đổi của khí carbon dioxide cho oxy.

thú vị, khí quản, phế quản, phổi loại khác nhau của cấu trúc (mặc dù hai cơ quan đầu tiên là tương tự) là gì. bức tường phế quản được bao quanh cấu trúc của sụn, do đó ngăn ngừa sự co tự phát của họ.

phế quản bên trong được lót bằng niêm mạc biểu mô với lông. Toàn bộ cấu trúc cây được cung cấp thông qua các động mạch phế quản có nguồn gốc từ động mạch chủ ngực, và chạy nó thông qua các hạch bạch huyết, ngành thần kinh.

Chức năng hô hấp khí quản và phế quản

Hơn nữa, thanh quản nhầy, khí quản, phế quản bao phủ bởi biểu mô lông có chứa lông mao. phong trào của họ được định hướng về phía cổ họng và miệng. Có mặt tại các tuyến niêm mạc tiết ra một bí mật đặc biệt nào khi tiếp xúc với một vật thể lạ ngay lập tức bao quanh nó và thông qua phong trào mi thúc đẩy sự kết luận của khoang miệng. Bắt một cơ quan lớn của nước ngoài theo phản xạ gây ho.

Nhưng thú vị nhất, không khí đi qua khí quản và phế quản, được gia nhiệt đến nhiệt độ cần thiết và trở nên ẩm ướt. Các hạch bạch huyết trong phế quản được tham gia vào quá trình miễn dịch quan trọng trong cơ thể.

những thay đổi bệnh lý ở hệ hô hấp

Vi phạm các chức năng khí quản , phế quản và ống có nghĩa là thất bại của các phế quản hoặc khí quản. Trong trường hợp này, nếu chúng ta xem xét đầu tiên, sự thay đổi trong các phế quản lớn được gọi là makrobronhit và tiểu phế quản – mikrobronhit hoặc viêm tiểu phế quản. Một số bệnh lý phổ biến nhất bao gồm hen suyễn và khí quản – viêm khí quản.

bệnh của khí quản

Số hẹp khí quản vào bệnh, rò và bỏng nhiệt. Trong hầu hết các trường hợp, khí quản, được phân phối rộng rãi, nó có thể chuyển sang bệnh lý khác – viêm phế quản, trong trường hợp này nó được gọi là viêm khí phế quản. Bệnh dường như vô hại, nhưng sau đó có thể biến chứng nghiêm trọng. Do đó, điều trị các căn bệnh này là tốt hơn không để trì hoãn.

Khí quản, trong những trường hợp hiếm hoi, xuất hiện như một bệnh độc lập (biểu hiện tiểu học), thường xuyên hơn đó là kết quả của bất kỳ bệnh không chữa khỏi của hệ thống hô hấp (biểu hiện thứ phát). Có thể xảy ra ở bất kỳ người nào, bất kể tuổi tác và giới tính. Thông thường bị đe dọa là phổi, phế quản, khí quản, thanh quản trẻ em vì hệ miễn dịch của họ là quá yếu để đối phó với mối đe dọa đúng cách nhất định.

Có một số loại:

Trong trường hợp này, bản chất truyền nhiễm của bệnh có thể do virus, nấm hoặc vi khuẩn.

Bệnh của phế quản

trường hợp thường xuyên là sự thất bại của viêm phế quản phế quản, đó cũng là điều đáng nói. Bệnh phát âm là viêm của các bức tường ống hô hấp. Nguyên nhân của căn bệnh này có thể yếu tố khác nhau, trong đó có thể bao gồm:

Sự hiện diện của vi khuẩn hoặc virus.

Một thời gian dài sử dụng các sản phẩm thuốc lá.

Nhạy cảm với những ảnh hưởng của chất gây dị ứng.

Ảnh hưởng của các chất hóa học hoặc độc hại.

Như vậy, căn bệnh này có thể của các loại sau đây:

Vì vậy nó là vô cùng quan trọng mà các bác sĩ trên cơ sở kết quả của các nghiên cứu xác định chính xác loại bệnh của phế quản, khí quản. Như với bất kỳ bệnh, viêm phế quản thể hiện dưới các hình thức cấp tính và mãn tính.

Các hình thức cấp tính của dòng chảy với nhiệt độ cao, tiếp theo là ho ướt hoặc khô. Về cơ bản, điều trị thích hợp diễn ra trong một vài ngày. Trong một số trường hợp, phải mất vài tháng. Thường phân loại là viêm phế quản cấp tính hoặc nhiễm trùng viêm. Như một quy luật, nó không kết thúc với bất kỳ hậu quả.

Dạng mãn tính của viêm phế quản có thể kéo dài trong nhiều năm. Trong trường hợp này, bệnh nhân ho có mặt, và mỗi năm có cấp tính, kéo dài hơn một tháng.

Điều quan trọng – để cung cấp quan tâm đúng mức đến giai đoạn cấp tính của bệnh, do đó nó không được đưa vào theo dạng mãn tính. tiếp xúc kéo dài với các bệnh trên cơ thể không đi không được chú ý và có thể dẫn đến phức tạp, hậu quả không thể đảo ngược cho tất cả hô hấp.

điều trị

Tùy thuộc vào việc chẩn đoán (viêm phế quản, khí quản), bản chất của sự xuất hiện bệnh, được gán nguy cơ của việc có một đợt điều trị cần thiết. Xem xét khả năng liệu viêm khí quản có thể gây ra trầm trọng nghiêm trọng của ống phế quản, hay không, các bác sĩ quyết định chuyển bệnh nhân đến bệnh viện, hoặc nó có thể được điều trị tại nhà.

Liệu pháp này bao gồm một bộ đầy đủ các biện pháp, trong đó ngoài thuốc và bao gồm một số vật lý trị liệu: từ ấm áp và hít để massage và các bài tập.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đo Chức Năng Thông Khí Phổi Bằng Phế Dung Kế trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!