Đề Xuất 2/2023 # Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Dịch Vụ Logistics Tại Công Ty Cổ Phần Vinafco # Top 11 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Dịch Vụ Logistics Tại Công Ty Cổ Phần Vinafco # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Dịch Vụ Logistics Tại Công Ty Cổ Phần Vinafco mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Với doanh thu lên đến con số tỉ USD, dịch vụ logistics đang hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài và thực tế họ đang kinh doanh rất sôi động tại Việt Nam. Hầu hết các tập đoàn logistics lớn trên thế giới đã có mặt tại nước ta và theo cam kết gia nhập WTO, các công ty logistics 100% vốn nước ngoài sẽ được phép hoạt động tại Việt Nam trong thời gian tới. Tất cả các dịch vụ Logistics( như nhận đơn đặt hàng vận tải, gom hàng, xử lý nguyên vật liệu, gia công mã mác, lưu kho, kiểm soát hàng tồn kho, tái chế hàng trả lại, quản lý việc phân phối, xúc tiến thị trường và các dịch vụ thông tin ) nhằm mục đích thoả mãn cao nhất cho nhu cầu của khách hàng (người sản xuất và người tiêu dùng). Đối với toàn bộ quá trình lưu thông, phân phối, ứng dụng hệ thống Logistics là một bước phát triển cao hơn của công nghệ vận tải. Hệ thống Logistics liên kết và tối ưu toàn bộ quá trình sản xuất và lưu thông trên phạ m vi rất rộng: trong một quốc gia, một khu vực, đến toàn cầu.

doanh quốc tế có hạn. Ở nhiều nƣớc trên thế giới logistics là cả một chuyên ngành đào tạo nhƣng ở nƣớc ta chƣa có một trƣờng đại học nào đào tạo chuyên ngành này Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 63 một cách chính quy. Chỉ có một số trƣờng đại học lớn đã có những khóa học ngắn hạn về logistics nhƣng chỉ mang tính giới thiệu theo kiểu “cƣỡi ngựa xem hoa”. Tóm lại, nếu thiếu tài lực, vật lực cho hoạt động logistics thì vẫn có thể giải quyết xây dựng từng phần, nhƣng nếu thiếu nhân lực thì hệ thống logistics sẽ không thể hoạt động đƣợc. Chính vì thế nhu cầu cho xây dựng một nguồn nhân lực logistics là yêu cầu cấp thiết hiện nay đối với VINAFCO nói riêng và ngành logistics nói chung. Đội ngũ nhân viên hoạt động trực tiếp tại Công ty TNHH Tiếp vận VINAFCO gồm hơn 200 ngƣời thì 52 % nhân viên có trình độ đại học, trong đó chỉ có khoảng 14,5 % nhân viên tốt nghiệp Đại học Ngoại Thƣơng và Đại học Hàng Hải 1. Nhƣ vậy, đội ngũ chuyên môn để cung cấp dịch vụ logistics còn ít trong khi yêu cầu về trình độ và chuyên môn của những con ngƣời hoạt động trong lĩnh vực này lại ngày càng tăng. 4. Hoạt động kho bãi còn yếu Kho bãi chiếm một vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ Logistics. Trong logistics, kho bãi không chỉ là nơi chứa hàng hóa mà còn thực hiện chức năng của một trung tâm phân phối (Distribution center), thậm chí nhƣ là bãi trung chuyển cho giao hàng chéo (Cross-docking), là nơi cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng cho khách hàng. Tuy vậy hoạt động kho bãi của các công ty giao nhận Việt Nam còn khá yếu, và VINAFCO không phải là ngoại lệ. Chỉ một số công ty có hoạt động gom hàng lẻ là có các hoạt động giá trị gia tăng tại kho nhƣ M&P International; Vinatrans; ANC; Everich;… bao gồm các dịch vụ đóng gói, đóng kiện (Packing), đóng pallet… VINAFCO còn thiếu các dịch vụ logistics mang lại giá trị gia tăng cho hàng hóa nhƣ kẻ 1 Nguồn : Ban Kế hoạch- Thị trƣờng- Đầu Tƣ , công ty cổ phần Vinafco Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 64 ký mã hiệu, tái đóng gói, kiểm soát chất lƣợng, quản lý đơn đặt hàng, thực hiện việc quản lý trả lại hàng cho nhà phân phối… Trình độ cơ giới hóa trong bốc dỡ hàng hóa vẫn còn yếu kém, lao động thủ công vẫn phổ biến. Công tác lƣu kho còn lac hậu so với thế giới, chƣa áp dụng tin học trong một số lĩnh vực quản trị kho nhƣ mã vạch,chƣơng trình quản trị kho. 5. Hạn chế về áp dụng công nghệ thông tin trong dịch vụ logistics Có thể nói hệ thống thông tin là trái tim của hoạt động logistics, quản lý chuỗi logistics là quản lý cả dòng vật chất lẫn dòng thông tin. Nếu thiếu một trong hai thì hoạt động đó chƣa phải là hoạt động logistics thật sự. Công ty chủ yếu vẫn sử dụng hệ thống thông tin truyền thống (điện thoại, fax, email) để trao đổi thông tin, gửi và nhận chứng từ với khách hàng, hải quan. Trong khi những nƣớc quanh ta nhƣ Singapore, Thailand, Malaysia…đã áp dụng hệ bằng kỹ thuật mạng tin học tiên tiến,thông quan bằng các thiết bị điện tử. Hầu nhƣ chƣa có công ty Việt Nam nói chung và VINAFCO nói riêng, chƣa công ty nào có phần mềm hay hệ thống thông tin kết nối với các đối tác của riêng mình. Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và thƣơng mại điện tử chƣa cao, chƣa đồng bộ và chƣa thực sự đạt hiệu quả. VINAFCO chƣa tham gia sử dụng chứng từ điện tử và hợp đồng điện tử. Nếu xét trên khía cạnh xây dựng website thì website Công ty cổ phần VINAFCO nói chung và Công ty TNHH Tiếp vận VINAFCO nói riêng, chỉ mang tính giới thiệu đơn thuần về doanh nghiệp, về dịch vụ của doanh nghiệp mà chƣa cung cấp đƣợc các tiện ích mà khách hàng cần nhƣ công cụ theo dõi đơn hàng( track and trace), lịch tàu, đăng kí điện tử (e-booking), theo dõi chứng từ….. Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 65 VINAFCO mới chỉ xử lý đơn hàng trên hệ thống phần mềm quản lý nhƣ BPCS, hay Web Map Service – WMS . Trong khi đó, các doanh nghiệp lớn trong ngành tại Việt Nam đã áp dụng công nghệ thông tin rất nhiều trong việc cung cấp dịch vụ logisitcs. Ví dụ Hệ thống thông tin của Maersk bao gồm: Hệ thống trao đổi thông tin giữa các văn phòng Maersk logistics trên khắp thế giới – Maersk communication system (MCS); hệ thống quản lý đơn hàng – Operation & documentation Excution system (MODS); hệ thống cho phép công ty gửi những yêu cầu xếp hàng qua mạng nhanh chóng và tiện lợi – online booking & documentation system for shipper (M*power shipper); kiểm tra tình trạng hàng hóa của khách hàng – client visibility tool( M*Power); hệ thống tự động tính toán – global airfreight system và phát hành chứng từ cho các lô hàng hàng không, quản lý mã hàng – e-label system, in nhãn hiệu hàng hóa, mã số, mã vạch. Một trong những nguyên nhân chính khiến cho việc áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động cung cấp dịch vụ logistics của VINAFCO là vốn đầu tƣ. Để áp dụng bất kì chƣơng trình quản trị hay hỗ trợ hoạt động nào cũng đòi hỏi việc đầu tƣ 1 khoản tiền rất lớn cũng nhƣ việc xây dựng 1 đội ngũ nhân viên tiếp quản và triển khai các ứng dụng đó. Đây không phải là một việc dễ thực hiện đối với công ty. Tuy nhiên, việc ứng dụng nhiều hơn nữa những thành tựu trong lĩnh vực công nghệ thông tin vào việc cung cấp dịch vụ của công ty là một vấn đề cấp thiết, và để ứng dụng thành công thì phải có kế hoạch lâu dài. 6. Hoạt động marketing cũng nhƣ chiến lƣợc khách hàng cho dịch vụ logistics còn yếu Trên thực tế các công ty giao nhận VN chƣa có khách hàng để phát triển logistics. Khách hàng của dịch vụ logistics thƣờng là những công ty đa Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 66 quốc gia, họ có xu hƣớng giao trọn gói cho các công ty logistics thiết kế và cung cấp toàn bộ dây chuyền cung ứng nguyên vật liệu và phân phối hàng hoá cho công ty của họ. Các công ty này đôi khi không quan trọng về giá cả từng dịch vụ riêng lẻ, nếu cả dây chuyền logistics có thể làm giảm chi phí thì họ sẵn sàng chấp thuận. Các công ty này thƣờng có thể bỏ ra nhiều tiền cho vận tải, chấp nhận giá cƣớc cao nhƣng dịch vụ phải tốt. Điều này đòi hỏi các công ty giao nhận phải có uy tín và năng lực thực sự trong lĩnh vực logistics. Chính vì vậy các công ty giao nhận VN chƣa có khả năng với tới những khách hàng này. 6.1. Khách hàng mục tiêu Để có thể phát triển dịch vụ của mình, công ty cần hƣớng tới những ngành hàng cũng nhƣ khách hàng mục tiêu và có sự điều chỉnh việc cung cấp dịch vụ cho các kiểu khách hàng: vụ logistics (Kho bãi; vận chuyển; hải quan; bốc xếp); 40%; khách hàng thuê (1 đến 3 năm) khoảng 30%; khách hàng thuê ngắn hạn (< 1 năm) khoảng 30%. Cơ cấu này hiện nay chƣa hợp lý so với mục tiêu hƣớng đến các khách hàng thuê dài hạn.  Ngành hàng mục tiêu: hàng tiêu dùng, giải khát; thiết bị viễn thông; Do khách hàng mục tiêu của công ty là những khách hàng lớn, có nhu cầu thuê dài hạn và sử dụng nhiều dịch vụ , nên vấn đề trƣớc mắt của công ty là có chiến lƣợc cụ thể để dành đƣợc khách hàng lớn và mở rộng đối tƣợng khách hàng sang những công ty vừa và nhỏ. Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 67 Công ty chƣa có các hoạt động marketing và chiến lƣợc khách hàng cho mảng hoạt động logistics của mình. Trong hoạt động logistics việc phân khúc thị trƣờng rất quan trọng. Mỗi chủng loại mặt hàng khác nhau cần phải thiết kế chuỗi logistics khác nhau. Ngoài ra việc đa dạng hoá dịch vụ cung cấp cũng là một trong những hoạt động marketing cần tiến hành, chẳng hạn việc thiết kế hệ thống ngƣợc. Nhất là những mặt hàng triển lãm, hội chợ, tạm nhập tái xuất v.v…đây là những mặt hàng nếu có hệ thống logistics thì sẽ thuận lợi hơn rất nhiều. 6.2. Hoạt động xúc tiến bán hàng và chăm sóc khách hàng Các hoạt động xúc tiến bán hàng (promotion) đã đƣợc Công ty chủ động thực hiện nhằm nâng cao hình ảnh của Vinafco logistics ra công chúng nhƣ: tham gia hội chợ hành lang kinh tế Đông Tây tại Đà Nẵng; Tham gia quảng bá hình hình, cộng tác viên với tạp chí Shipper…; Các hoạt động tiếp thị trực tiếp và chăm sóc khách hàng (care) đã đƣợc tổ chức, tuy nhiên còn nhỏ lẻ chƣa chuyên nghiệp (chỉ mới dừng ở mức độ thăm hỏi, tặng quà sinh nhật…); Nhƣ vậy, các hoạt động marketing cho mảng logistics tại công ty chƣa thực sự chuyên nghiệp. Công ty chƣa có chiến lƣợc rõ ràng và đầu tƣ một khoản kinh phí lớn cho một trong những hoạt động quan trọng nhất tại một công ty nói chung. 6.3. Hoạt động phát triển dịch vụ mới (Research & Developing – R&D) Công ty đã chủ động trong việc nghiên cứu và tiếp cận các dịch vụ logistics mới cho các khách hàng quan trọng nhƣ: Hawea; Ngân hàng quân đội, G7mart… Tuy nhiên, VINAFCO chƣa có sự đánh giá tổng kết để đƣa ra Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 68 đƣợc một số (05 dịch vụ logistics điển hình) tốt nhất đã đƣợc cung cấp để giành đƣợc những khách hàng lớn. Hoạt động phát triển dịch vụ mới (R&D) đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của các công ty hiện nay. Nhờ có hoạt động này mà chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ ngày càng đƣợc nâng cao, đáp ứng đƣợc những yêu cầu khắt khe từ phía khách hàng một cách kịp thời. Do vậy, hƣớng phát triển trong thời gian tới để nâng cao dịch vụ logistics của công ty là tập trung phát triển sản phẩm dịch vụ hiện có và cung cấp thêm những dịch vụ mới, theo kịp đƣợc sự phát triển của ngành logistics trên thế giới cũng nhƣ yêu cầu của khách hàng. 7. Hoạt động logistics của VINAFCO mới chỉ bó hẹp trong nƣớc và 1 số quốc gia lân cận mà chƣa vƣơn ra đƣợc thế giới Việc ứng dụng logistics vào trong các lĩnh vực đời sống kinh tế- sản xuất của nƣớc ta là chậm hơn so với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới nhiều năm. Mặt khác xuất phát điểm của nƣớc ta cho phát triển logistics là thấp. Đây là những nguyên nhân khiến cho qui mô hoạt động logistics của các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và VINAFCO nói chung trong lĩnh vực này là nhỏ, mà còn kém khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng nội địa chứ chƣa tính tới thị trƣờng quốc tế. Hay hoạt động logistics của các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ trong phạm vi nội địa mà chƣa vƣơn ra đƣợc thế giới. Một hạn chế nữa đó là VINAFCO mới chỉ cung cấp một số dịch vụ riêng lẻ trong toàn bộ chuỗi logistics, trong khi nhu cầu quốc tế đòi hỏi phải tiến hành tổng thể toàn bộ hoạt động của chuỗi này. Trên thế giới hiện nay có một số nƣớc đã có những thƣơng hiệu logistics không chỉ trong nƣớc mà còn trên toàn thế giới. Ví dụ Maersk Logistics của đan Mạch đƣợc biết đến trên hơn 60 quốc gia. APL Logistics của Singapore đã đƣợc biết đến trên gần 100 nƣớc. Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 69 Tóm lại, cùng với sự toàn cầu hóa nền kinh tế thể hiện bằng việc gia nhập vào tổ chức WTO của Việt Nam, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ đã đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế quốc gia nói chung và hoạt động logistics của VINAFCO nói riêng. Do vậy, việc ứng dụng và phát triển logistics để nâng cao khả năng cạnh tranh trên trƣờng quốc tế là điều vô cùng quan trọng. Hy vọng trong tƣơng lai không xa ngành logistics tại Việt Nam phát triển kịp với xu thế của thế giới và các doanh nghiệp ngành logistics Việt Nam nói chung cũng nhƣ VINAFCO nói riêng có thể góp tay xây dựng đƣợc một thƣơng hiệu logistics thuần việt trong và ngoài nƣớc. Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 70 CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VINAFCO I. Giải pháp chủ yếu phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần VINAFCO 1. Nâng cao chất lƣợng các dịch vụ hiện có và cung cấp thêm các dịch vụ mới Nhƣ đã phân tích ở chƣơng 2, các dịch vụ logistics hiện có của VINAFCO mới tập trung vào dịch vụ vận tải nội địa,quá cảnh sang các nƣớc lân cận, cho thuê kho bãi và một số dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu. Những dịch vụ chỉ mới là một phần nhỏ trong hoạt động của chuỗi logistics. Để phát triển mạnh hơn trong tƣơng lai, trở thành một trong những công ty hàng đầu về logistics, VINAFCO cần phải nâng cao chất lƣợng và mở rộng thêm các dịch vụ của mình, nhằm mục tiêu cung cấp toàn bộ các dịch vụ trong chuỗi logistics. 1.2. Dịch vụ vận tải ,giao nhận và phân phối hàng hóa Quản lý việc vận tải và phân phối hàng là khâu trọng yếu nhất của hoạt động logistics, bởi vì kết quả của quá trình vận chuyển và phân phối hàng ảnh hƣởng lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Quản lý vận tải và phân phối hàng hóa nhằm quản lý công tác vận chuyển và phân phát hàng hóa đúng thời đến quản lý vận tải trong hoạt động kinh doanh logistics: Chọn ngƣời vận chuyển (tự vận chuyển hay thuê); chọn tuyến đƣờng, phƣơng thức vận tải, phƣơng tiện vận tải; kiểm soát quá trình vận chuyển; công việc giao nhận và bốc xếp; xử lý trƣờng hợp hƣ hỏng, mất mát hàng. Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 71 Ngƣời kinh doanh dịch vụ logistics phải giải quyết các vấn đề này bằng những phƣơng pháp và kinh nghiệm cần thiết. Khi lựa chọn phƣơng thức vận tải thƣờng sử dụng kết hợp một số tiêu chí quan trọng:  Chi phí vận tải  Tốc độ vận chuyển  Tính linh hoạt  Khối lƣợng/trọng lƣợng giới hạn  Khả năng tiếp cận  Tính linh hoạt Tất cả dịch vụ logistics đều nhằm mục đích thỏa mãn cao nhất cho nhu cầu của khách hàng (ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng). Trong dây chuyền cung ứng gồm rất nhiều khâu, giữa mắt xích của các khâu có các dịch vụ: giao nhận, xếp dỡ, lƣu kho… Nếu để hàng hóa phải tồn kho nhiều hoặc lƣu kho quá lâu sẽ gây thiệt hại cho hãng sản xuất, do đó cần phải giải quyết khâu này bằng những biện pháp khác nhau:  Xác lập kênh phân phối, chọn thị trƣờng tiêu thụ  Chọn vị trí kho hàng  Thiết lập các trung tâm phân phối, trung tâm logistics  Quản lý quá trình vận chuyển… Có một số hãng đã đạt đƣợc quy trình sản xuất “không lƣu kho” đối với một số mặt hàng nhất định, và đã đạt đƣợc lợi nhuận cao. Trong logistics các hoạt động mua hàng, sản xuất, phân phối và tiêu dùng, cùng với những phế thải phát sinh trong quá trình diễn ra các hoạt động trên sẽ gây tác động xấu ở mức độ khác nhau đến môi trƣờng. Điều này yêu cầu phải có sự kiểm tra trong việc lựa chọn nguyên liệu, sự phù hợp trong Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 72 khâu mua hàng, tính hiệu quả trong việc giao hàng và xử lý rác thải theo tinh thần: “Tái sử dụng, cắt giảm và tái chế”. Giai đoạn 1: Phân phối vật chất bảo cung cấp sản phẩm, hàng hoá cho khách hàng một cách có hiệu quả. Bao gồm các hoạt động nghiệp vụ sau:  Vận tải  Phân phối  Bảo quản hàng hoá  Quản lý kho bãi  Bao bì, nhãn mác, đóng gói Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics Kết hợp quản lý 2 mặt trên một hệ thống: Cung ứng vật tƣ và Phân phối sản phẩm. Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyển cung ứng (Supply Chain Management) Đây là khái niệm mang tính chiến lƣợc về quản trị chuỗi quan hệ từ ngƣời cung cấp nguyên liệu – đến ngƣời sản xuất – đến ngƣời tiêu dùng. Khái niệm này coi trọng việc phát triển các quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa ngƣời sản xuất với ngƣời cung cấp, ngƣời tiêu dùng và các bên liên quan: các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và các công ty công nghệ thông tin. Đối với VINAFCO, sự phát triển của dịch vụ logistics có vai trò rất to lớn trong việc giành và giữ đƣợc các khách hàng. Còn trong các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh có nhu cầu ứng dụng logistics, thì các dịch vụ logistics Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 73 giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ có thể thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ƣu hoá quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ,… các dịch vụ logistics của VINAFCO sẽ giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Có nhiều doanh nghiệp thành công lớn nhờ có đƣợc chiến lƣợc và hoạt động logistics đúng đắn, ngƣợc lại có không ít doanh nghiệp gặp khó khăn, thất bại do có các quyết định sai lầm nhƣ: chọn nguồn cung cấp tài nguyên sai, chọn sai vị trí, dự trữ không phù hợp, tổ chức vận chuyển không hiệu quả. Bên cạnh đó, một số dịch vụ vận tải và giao nhận mà công ty có thể cung cấp cho khách hàng, nhƣ :  Quản lý quá trình vận tải.  Phát hành chứng từ.  Quản lý đơn hàng.  Logistics ngƣợc. Hơn nữa, để hội nhập với ngành logistics toàn thế giới, VINAFCO cần hƣớng tới việc cung cấp dịch vụ logistics cho hàng hóa vận chuyển bằng đƣờng hàng không, bao gồm các dịch vụ sau:  Giao nhận hàng từ kho tới kho bằng đƣờng hàng không( door to door).  Giao nhận hàng đến các sân bay.  Khai báo hải quan.  Vận tải liên hợp hàng không-đƣờng biển qua các điểm chuyển tải chính ở Đông Nam á, Châu á và Châu Âu. Logistics là một hoạt động còn khá mới mẻ đối với các công ty giao nhận Việt Nam nói chung và với VINAFCO nói riêng. Việc cung cấp dịch vụ logistics một cách hoàn thiện đòi hỏi phải đầu tƣ mọi mặt, và đặc biệt phải có Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 74 quyết tâm lớn. Các công ty khách hàng luôn kiếm cách giảm tối thiểu lƣợng hàng lƣu kho. Suy ra những xí nghiệp đòi đƣợc giao hàng mỗi lần một số lƣợng nhỏ nhƣng làm nhiều lần và đƣợc giao hàng đúng kỳ hạn. Do vậy, VINAFCO cần phải hƣớng tới các tiêu chuẩn trong quá trình vận tải, đó là :  Bảo đảm tính liên tục và nhạy bén của những phƣơng tiện vận tải và chuyển tải,  Vận dụng công nghệ vận tải đa phƣơng tiện, chủ yếu bằng container  Giảm tối thiểu những khâu chuyển tải,  Giảm tối thiểu những khâu lƣu kho và lƣợng lƣu kho ở mỗi khâu sản xuất,  Tăng cƣờng những dịch vụ viễn thông và xử lý giao dịch không giấy tờ. Tóm lại, dịch vụ vận tải, giao nhận và phân phối hàng là một trong những mắt xích quan trọng của chuỗi logistics. Để phát triển về cả mặt dịch vụ cũng nhƣ doanh số, VINAFCO cần chú trọng đầu tƣ hơn nữa vào những dịch vụ trên để nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của nhằm nâng cao hiệu quả trong vận tải và kinh doanh kho bãi nhƣ hệ thống xe nâng chạy bằng điện, hệ thống cần trục và cầu trục trong kho, xe đầu kéo và moóc 40 feet . 1.2. Dịch vụ kho bãi Để phát triển dịch vụ kho bãi thì công ty cần nâng cao việc quản lý và nâng cấp kho hàng, phát triển dịch vụ gia tăng cho hàng hóa tại kho. Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 75 Trƣớc hết, VINAFCO cần quản lý kho hàng một cách hiệu quả, không chỉ cho hoạt động của chính doanh nghiệp mà còn sử dụng hiệu quả cho việc cho thuê kho bãi. Quản lý kho hàng (quản lý dự trữ hàng) là một bộ phận của hoạt động logistics nhằm quản lý việc dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và hàng hóa trong sản xuất và lƣu thông. Mục đích của hoạt động quản lý vật tƣ, nguyên vật liệu là đảm bảo cho sản xuất, lƣu thông đƣợc diễn ra liên tục và hiệu quả, cân đối cung cầu và đề phòng rủi ro, bất trắc. Các công việc liên quan đến quản lý kho hàng trong hoạt động logistics bao gồm: Thiết lập mạng lƣới kho và chọn vị trí kho hàng (số lƣợng, quy mô); thiết kế và lắp đặt các thiết bị kho hàng; tổ chức việc xuất nhập, lƣu kho, bảo quản hàng hóa; thực Bên cạnh đó, VINAFCO cần mở rộng thêm các dịch vụ làm tăng giá trị gia tăng tại kho, bao gồm :  Kiểm tra mã số mã vạch;  Đóng pallét;  Phân loại hàng;  Kiểm đếm và đóng hàng vào container;  Dịch vụ kho bãi gia tăng giá trị;  Điều phối hàng lƣu kho;  In nhãn và scan hàng hóa: công nghệ in nhãn hàng và scan mã vạch trên thùng hàng carton giúp khách hàng có thể tránh đƣợc các nhãn in ấn không chính xác hoặc in các dữ liệu mà hệ thống không nhận dạng đƣợc. Nhờ đó khách hàng có thể yên tâm rằng hàng hóa của mình sẽ không bị trễ tàu. Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 76 Ngoài ra , việc nâng cao công tác quản lý, cung ứng vật tƣ, nguyên vật liệu cũng hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lƣợng dịch vụ kho bãi. Quản lý vật tƣ là một bộ phận của hoạt động logistics nhằm quản lý nguyên vật liệu, thiết bị, máy móc, các phụ kiện và bán thành phẩm (tất cả những thứ mà doanh nghiệp sử dụng để tạo ra sản phẩm hàng hóa). Mục đích của hoạt động quản lý vật tƣ, nguyên vật liệu là đảm bảo chất lƣợng sản phẩm, đảm bảo tiết kiệm chi phí (hạ giá thành sản phẩm). Các công việc liên quan đến quản lý vật tƣ, nguyên vật liệu: quản lý cung ứng vật tƣ (đặt quan hệ trƣớc để mua hàng, đặt quan hệ trƣớc với các nhà cung cấp khi mà sản phẩm còn đang trong quá trình thiết kế; thực hiện việc mua hàng và các hoạt động của quá trình thu mua; nghiên cứu các cơ hội và thách thức của môi trƣờng cung ứng vật tƣ; phát triển các chiến lƣợc và kế hoạch thu mua nguyên vật liệu; cải tiến dây chuyền cung ứng. Tóm lại, đối với dịch vụ kho bãi , công ty cần tăng cƣờng quản trị chuỗi cung ứng, bao gồm:  Quản lý các yêu cầu xếp hàng của khách hàng (booking note).  Xin chỉ dẫn xếp hàng của khách hàng trƣớc khi xếp hàng(shipping instrution).  Đóng hàng vào container và xếp hàng theo đúng chỉ dẫn.  Cung cấp dịch vụ kho bãi và bảo quản hàng hóa.  Cung cấp các dịch vụ gia tăng cho hàng hóa  Phát hành vận đơn(HBL-house bill of lading) hoặc chứng từ nhận hàng(FCR-forwarder cargo receipt).  Thông báo và quản lý tình hình hàng hóa của từng đơn hàng Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 77  (PO-purchase order). 1.3. Hướng phát triển các dịch vụ khác Bên cạnh đó, công ty cần có chiến lƣợc đầu tƣ phát triển các dịch vụ logistics nội địa; liên doanh, liên kết với các công ty logistics nƣớc ngoài. Thực hiện chiến lƣợc này với mục tiêu là dựa vào khách hàng Logistics của công ty nƣớc ngoài, cung cấp toàn bộ dịch vụ Logistics nội địa (khắc phục đƣợc tình trạng bẻ gãy chuỗi logistics); tiếp thu công nghệ kỹ thuật, trình độ quản lý Logistics, kinh nghiệm,… khi đủ lớn mạnh về thế và lực có thể vƣơn ra cung cấp Logistics toàn cầu. Chiến lƣợc thực hiện qua hai giai đoạn: – Giai đoạn 1: Liên doanh, liên kết với các công ty Logistics nƣớc ngoài để chuyển giao công nghệ, tích lũy kinh nghiệm, tích lũy vốn. – Giai đoạn 2: Phát triển các dịch vụ logistics của mình một cách độc lập. Bên cạnh đó, xây dựng các trung tâm phân phối hàng hóa hiện đại cũng là một hƣớng phát triển tốt. Trung tâm phân phối này bao gồm các nhiệm vụ sau : – Đa dạng các dịch vụ giá trị gia tăng trong hoạt động kho CFS và kho ngoại quan. – Xây dựng các trung tâm phân phối (DC – Distribution Center) của riêng các công ty giao nhận, hoặc những trung tâm phân phối, kho đa năng (Cross – docking) hiện đại để kinh doanh cho thuê. Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 78 – Hƣớng tới việc xây dựng các trung tâm phân phối và kho đa năng của VN tại thị trƣờng nƣớc ngoài. 2. Đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp Đối với bất cứ doanh nghiệp dịch vụ nào, nguồn nhân lực cũng chính là yếu tố quyết định sự thành công. Trong những năm gần đây, ngành dịch vụ logistic tại Việt Nam đã và đang phát triển rất nhanh chóng, từ một vài doanh nghiệp giao nhận quốc doanh của đầu thập niên 90, đến nay hàng trăm công ty đƣợc thành lập và hoạt động trên cả nƣớc. Để phát triển và nâng cao tính cạnh tranh của mình, công ty cần tập trung cho việc đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp, đáp ứng đƣợc sự phát triển của dịch vụ logistics cũng nhƣ yêu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng. Việc đầu tiên công ty có thể làm ngay là cử nhân viên tham gia các trƣơng trình đào tạo của Hiệp hội giao nhận vận tải Việt Nam- VIFFAS đã và đang kết hợp với các Hiệp hội giao nhận các nƣớc Asean, các chƣơng trình của Bộ Giao thông Vận tải, tổ chức các khóa đào tạo nghiệp vụ giao nhận, gom hàng đƣờng biển, cùng với Trƣờng cao đẳng Hải quan mở lớp đào tạo về đại lý khai quan, cấp bằng chứng chỉ cho các hội viên trong thời gian qua. Về giao nhận hàng không, Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế- IATA thông qua Việt Nam Airlines đã tổ chức đƣợc một số lớp học nghiệp vụ và tổ chức thi cấp bằng IATA có giá trị quốc tế. Nếu tham gia các chƣơng trình học và có đƣợc chứng chỉ của IATA thì việc cung cấp dịch vụ của VINAFCO sẽ chuyên nghiệp hơn với những nhân viên có trình độ cao. quốc tế cho các chƣơng trình đào tạo ngắn hạn trong và ngoài nƣớc. Phối hợp và tranh thủ hợp tác với các tổ chức FIATA, IATA và các tổ chức phi chính phủ khác để có nguồn kinh phí đào tạo thƣờng xuyên hơn. Mặt khác, các Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 79 doanh nghiệp cũng cần phải kết hợp chặt chẽ với Hiệp hội, thông báo với hiệp hội nhu cầu đào tạo nhân lực của mình để hiệp hội có hƣớng giải quyết. Tóm lại, nhất thiết công ty cần đầu tƣ để đào tạo, đào tạo lại, nâng cao năng lực của nhân viên và thu hút nhân tài từ xã hội. Phát triển nguồn nhân lực có trình độ và chuyên môn cao là nhân tố quan trọng quyết định sự sống còn và thành công trong hoạt động Logistics – một hoạt động mang tính chất toàn cầu. 3. Tăng cƣờng hoạt động marketing Nâng cao công tác dịch vụ khách hàng Trƣớc hết, để có một dịch vụ tốt thì công ty cần nâng cao công tác dịch vụ khách hàng. Công tác dịch vụ khách hàng là những hoạt động cụ thể của doanh nghiệp nhằm giải quyết các đơn đặt hàng của khách hàng. Mục đích của hoạt động dịch vụ khách hàng là tạo cho quá trình mua bán, trao đổi đƣợc thông suốt và đạt đƣợc kết quả của quá trình này là làm tăng giá trị sản phẩm trƣờng, xác định nhu cầu thị trƣờng; xây dựng mục tiêu và kế hoạch dịch vụ khách hàng; giới thiệu và cung cấp dịch vụ khách hàng, xử lý tình huống, duy trì uy tín với khách hàng; lắp đặt, bảo hành, sửa chữa và các dịch vụ khác; theo dõi sản phẩm. Xây dựng chiến lƣợc khách hàng nhằm gia tăng thị phần của công ty trên thị trƣờng. Nhằm tạo đƣợc nguồn hàng vận chuyển ổn định; xây dựng đƣợc mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng để có điều kiện thuận lợi trong việc thiết kế Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 80 chuỗi logistics và giảm chi phí cho khách hàng, tăng lợi nhuận cho công ty Logistics. Bƣớc 1: Lựa chọn khách hàng mục tiêu. Không chỉ tập trung vào những khách hàng lớn nhƣ Honda, ICI..mà còn chọn lọc một số khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ để có thể khai thác tối đa năng lực cung cấp dịch vụ của công ty. Bƣớc 2: Xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa công ty và khách hàng. Phát triển dịch vụ Chăm sóc khách hàng – Customer Care . Chăm sóc khách hàng luôn luôn là một yêu cầu cần thiết trong công việc kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và VINAFCO nói riêng. Khách hàng ngày nay – theo cách nói của các nhà kinh doanh – không phải là một “đám đông màu xám”, mà họ là những con ngƣời đầy đòi hỏi, muốn đuợc đối xử nhã nhặn, đƣợc tôn trọng và đƣợc nghe những lời cảm ơn chân thành. Những điều mà khách hàng cần hỏi khi mua sản phẩm dịch vụ là rất nhiều và gần nhƣ vô tận. Họ không chỉ mong đựơc đem lại những dịch vụ giá trị gia tăng từ doanh nghiệp, mà còn quan tâm đến việc họ có thể liên hệ đƣợc với công ty dễ dàng hay không, liệu các sự cố họ gặp phải có đƣợc giải quyết một cách nhanh chóng,… Không chỉ vậy, đối với khách hàng, họ còn đánh giá một dịch vụ tốt theo cách đối xử của nhân viên bởi cung cách phục vụ của nhân viên sẽ phản ánh một phần chất lƣợng dịch vụ chăm sóc khách hàng của doanh nghiệp. Tất cả những yếu tố này sẽ ảnh hƣởng đến cảm xúc của khách hàng: vui hay buồn, hài lòng hay thất vọng,… Và doanh nghiệp nên nhớ rằng cảm xúc đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua hàng. Vì vậy, hệ thống chăm sóc khách hàng dựa trên thiết bị công nghệ hiện đại, theo một quy trình tận tình, chuyên nghiệp đang ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết với các nhà kinh doanh. Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 81 Bên cạnh đó, dịch vụ chăm sóc khách hàng phải là một “sản phẩm” trọn vẹn, tổng hợp. Công ty cần phải kết hợp hoạt động giữa các bộ phận trong công ty, từ bộ phận R&D, marketing, bán hàng cho đến bộ phận chăm sóc khách hàng nhằm xây dựng các chiến phù hợp. Dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt thể hiện sự nhất quán trong hoạt động của một công ty, nhờ vậy mà khách hàng không phải mất nhiều thời gian chờ đợi hay mất công đi gặp hết bộ phận này đến bộ phận khác khi có vấn đề cần giải quyết. Bƣớc 3: Thiết kế hoạt động logistics phù hợp với yêu cầu của từng khách hàng/ nhóm khách hàng riêng biệt. 4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động logistics Muốn quản trị logistics thành công thì trƣớc hết phải quản lý đƣợc hệ thống thông tin rất phức tạp trong quá trình này. Việc nâng cấp hệ thống thông tin hiện tại trong công ty nên chia làm hai giai đoạn: – Giai đoạn 1: Hoàn thiện hệ thống thông tin nội bộ (Intranet), hệ thống thông tin trong từng bộ phận chức năng (Logistics, kỹ thuật, kế toán, marketing,…), hệ thống thông tin ở từng khâu trong dây chuyền cung ứng (kho tàng, bến bãi, vận tải,…) và sự kết nối thông tin giữa các tổ chức, bộ phận, công đoạn nêu trên. áp dụng tin học hoá trong các hoạt động của công ty, lắp đặt các phầm mềm phục vụ cho hoạt động của công ty, chuẩn hóa các cơ sở dữ liệu… tạo cơ sở nền tảng trong hệ thống thông tin Logistics. – Giai đoạn 2: Kết nối hệ thống thông tin nội bộ với bên ngoài theo hai phƣơng thức: Phƣơng thức 1: Sử dụng Internet. Đây là một xu hƣớng mà các công ty Logistics trên thế giới đang hƣớng tới nhƣ là một công cụ không thể thiếu trong hoạt động Logistics. Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 82 Phƣơng thức 2: Hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic data interchange – EDI). Hệ thống này cho phép trao đổi thông tin dữ liệu từ máy tính qua máy tính của các bộ phận trong hệ thống với nhau. EDI đầu tƣ khá tốn kém tuy nhiên rất tiện ích và đạt độ an toàn cao. EDI thực sự hữu ích cho những khách hàng lớn của công ty và trao đổi dữ liệu giữa các chi nhánh, đại lý trong hệ thống Logistics toàn cầu. Cụ thể hơn, trong thời gian tới, để hoạt động cung cấp dịch vụ logistics có hiệu quả hơn, công ty nên áp dụng một trong các hệ thống sau : 4.1. Hệ thống chia sẻ và trao đổi dữ liệu điện tử – EDI (hệ thống Electronic Data Interchange) Là một công cụ thiết yếu trong các giao dịch doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) qua Internet. Một giải pháp cho phép truyền thông điện tử một cách an toàn, bao gồm các thông tin về quỹ thanh toán giữa ngƣời mua và ngƣời bán qua các mạng dữ liệu riêng. Hệ thống này nhằm mục đích chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác bằng phƣơng tiện điện tử, có sử dụng một tiêu chuẩn đã đƣợc thoả thuận để cấu trúc thông tin. EDI chủ yếu đƣợc dùng để trao đổi thông tin có liên hệ tới hoạt động kinh doanh và để trao đổi quỹ tiền bằng điện tử. Khi ngày càng nhiều công ty kết nối với Internet, vai trò của EDI – một cơ chế giúp các công ty có thể mua, bán và trao đổi thông tin qua mạng, càng trở nên quan trọng. Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 83 4.2. Điểm bán hàng – POS ( Point of sale) Điểm bán hàng – POS ( Point of sale) là tên viết tắt của hệ thống gồm : – Phần mềm: Quản lý hàng hoá, quản lý bán hàng, cho phép cập nhật về số lƣợng hàng hoá xuất, nhập, tồn tại mọi thời điểm, cũng nhƣ theo dõi tình hình doanh thu, công nợ đối với từng khách hàng, tại mọi thời điểm. Thay vì việc nhà quản lý phải tiến hành cộng trừ các con số thì hệ thống tự động cập nhật với nghiệp vụ nhập vào hệ thống. Thậm chí nhà quản lý có thể theo dõi tình hình kinh doanh của 1 hệ thống nhiều cửa hàng tại một điểm duy nhất nhờ khả năng truyền dữ liệu qua đƣờng điện thoại hoặc internet. Nhờ đó nhà quản lý có nhiều thời gian hơn cho các hoạt động đầu tƣ khác. Các con số báo cáo cũng trung thực hơn, tính thống nhất về số liệu thống kê đƣợc đảm bảo. – Các thiết bị: Máy đọc mã vạch phục vụ việc nhập tên hàng bán; máy in hoá đơn bán lẻ in hoá đơn cho khách hàng đơn giản hoá hoạt động bán hàng và mang lại tính chuyên nghiệp cao cho cửa hàng. Tính minh bạch về giá cả hàng hoá, dịch vụ đối với khách hàng cũng đƣợc thể hiện rõ ràng. Nét khác biệt của hệ thống này là cập nhật mọi lúc các thông tin về hoạt động bán hàng tại mọi thời điểm mà hệ thống ghi chép tính toán thủ công không thể có đƣợc. Trong đó, phần mềm chƣơng trình là yếu tố chính, quan trọng nhất. Ngƣời quản lý có thể không biết rằng hoạt động quản lý của mình sẽ đơn giản hơn rất nhiều lần khi sử dụng công nghệ POS. Bất kỳ lĩnh vực nào cũng có thể áp dụng hệ thống này, không chỉ là các Siêu thị, các trung tâm thƣơng mại, mà ngay cả các cửa hàng thuộc các lĩnh vực khác nhau nhƣ nhà hàng, cửa hàng bán lẻ, các Studio ảnh, các trung tâm vui chơi giải trí, các phòng khám đa khoa, thẩm mỹ viện… Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 84 4.3. Hệ quản trị doanh nghiệp tích hợp – ERP (Enterprise Resources Planning) ERP – Hệ quản trị doanh nghiệp tích hợp (Enterprise resources Planning) là bộ giải pháp công nghệ thông tin có khả năng tích hợp toàn bộ ứng dụng quản lí sản xuất kinh doanh vào một hệ thống duy nhất, có thể tự động hoá các quy trình quản lý. Mọi hoạt động của doanh nghiệp, từ quản trị nguồn nhân lực, quản lý dây chuyền sản xuất và cung ứng vật tƣ, quản lý tài chính nội bộ đến việc bán hàng, tiếp thị sản phẩm, trao đổi với các đối tác, với khách hàng đều đƣợc thực hiện trên một hệ thống duy nhất. Với các ERP, để hỗ trợ cho việc quản lý 1 phần của Logistics – bao gồm các chức năng của các module sau:  Inventory: dùng để quản lý các thông tin về tồn kho của các Item trong kho  Purchases: quản lý các thông tin về việc mua của cty  Sale Order: quản lý việc bán hàng của cty  Warehouse: sử dung công nghệ barcode (chƣơng trình quản lý hàng hóa theo lô, hạn dùng bằng mã), nhận dạng tần số sóng vô tuyến-RFID (Radio Frequency Identification) để quản lý tất cả các hoạt động của kho. Thông thƣờng khi nhắc đến dịch vụ logistic là quan tâm đến:Purchase Order, Inventory và Sales Order. Tức là quan tâm đến các thủ tục của việc quản lý, luân chuyển của hàng hoá, vật tƣ từ khi mua vào đến lúc bán ra cho khách hàng. Còn tuỳ từng qui mô, qui trình xử lý của khách hàng sẽ đƣợc xử lý trên các chức năng của ERP tƣơng ứng. Tóm lại, sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ thông tin trong thời gian qua đã giúp cho quá trình hoàn thiện logistics, quản trị kinh doanh và Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 85 dịch vụ khách hàng phát triển mạnh mẽ.Trong logistics, hệ thống thông tin đƣợc sử dụng rộng rãi bao gồm POS- Point of sale (điểm bán hàng) , EDI – hệ thống Electronic Data Interchange (hệ thống chia sẻ và trao đổi dữ liệu điện tử), ERP – Hệ quản trị doanh nghiệp tích hợp (Enterprise resources Planning), hệ thống thông quan tự động, hệ thống phân phối và theo dõi luồng hàng. 5. Mở rộng hệ thống đại lý và chi nhánh tại thị trƣờng trong và ngoài nƣớc Để nâng cao vị thế trên thị trƣờng nội địa và vƣơn tầm ra thị trƣờng quốc tế, bên cạnh việc nâng cao chất lƣợng dịch vụ, việc mở rộng và củng cố hệ thống đại lý, xây dựng các đại lý độc quyền, tiến tới đặt văn phòng đại diện và chi nhánh ở các nƣớc cũng là một trong những bƣớc đi hết sức quan trọng. Khi đã xây dựng đƣợc hệ thống đại lý và chi nhánh một cách hiệu quả, công ty có thể triển khai các dịch vụ logistics của mình một cách dễ dàng và nhanh chóng hơn, luôn kịp thời đáp ứng nhu cầu . Đặc biệt khi xây dựng chi nhánh ở nƣớc ngoài, công ty sẽ có đƣợc nguồn thông tin về thị trƣờng một cách chính xác thông qua chi nhánh và đại diện của cục xúc tiến thƣơng mại. Từ đó, công ty không chỉ học hỏi đƣợc kinh nghiệm phát triển và triển khai dịch vụ logistics tại các nƣớc có ngành logistics tiên tiến nhƣ ấn Độ, Trung Quốc, Hà Lan .v.v… mà còn có khả năng cung cấp, vƣơn xa tầm hoạt động của mình sang các thị trƣờng đó. 6. Liên kết với doanh nghiệp cùng ngành ở trong và ngoài nƣớc Liên kết giữa VINAFCO và các doanh nghiệp trong nƣớc lỏng lẻo còn liên kết, nối mạng với mạng logistics toàn cầu cũng không có. Đây thực sự là một mối nguy hiểm cho không chỉ VINAFCO mà còn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi bƣớc vào sân chơi toàn cầu. Bởi nếu chỉ hoạt động một cách Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 86 độc lập, thiếu sự liên kết với các mạng lƣới dịch vụ logistics khác thì khả năng chắc chắn một điều các doanh nghiệp Việt Nam chỉ hoạt động nhƣ một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics cấp 2, cấp 3, cấp 4 đối với dịch vụ logistics toàn cầu mà thôi. Thậm chí còn thua ngay trên chính “sân nhà” của mình. Bên cạnh việc tham gia vào Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam – VIFFAS hay Hiệp hội đại lý và môi giới hàng hải để cùng nhau hoạt động và có đƣợc những thông tin trong ngành thì việc thành lập 1 liên minh của các công ty chuyên cung cấp dịch vụ logistics là điều cần thiết để giúp cho doanh nghiệp Việt Nam có sức cạnh tranh với các doanh nghiệp logistics của nƣớc ngoài với tiềm lực về cơ sở hạ tầng cũng nhƣ vốn rất lớn. Gần đây, hơn 30 Công ty vừa và nhỏ trong lĩnh vực logistics đã liên kết trở thành liên minh Thai Logistics Alliance (TLA). Có đến hơn 30 công ty tham gia vào việc liên kết này. Mô hình của là các công ty vẫn làm việc độc lập, nhƣng sẽ thành lập một nhóm hoạt động chung, nhóm này sẽ tiến hành bán các dịch vụ logistics trọn gói (one stop service) rồi phân bổ cho các thành viên theo năng lực của họ. Sau đó nhóm này cũng sẽ sửa tất cả dịch vụ mà từng thành viên cung cấp để xem họ có đảm bảo hay không. Và cơ bản là liên minh này sẽ giúp các doanh nghiệp vẫn có thể cạnh tranh đƣợc với các đối thủ to lớn nƣớc ngoài. Rõ ràng để làm đƣợc điều này đòi hỏi phải có một cơ chế hợp tác thích hợp, và dĩ nhiên các thành viên phải chấp nhận việc chia sẻ của chính phủ Thái Lan. Đây thực sự là một động thái rất tích cực và là một bài học tốt cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam nói chung và VINAFCO nói riêng. Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 87 II. Một số kiến nghị đối với Nhà nước nhằm đẩy mạnh hoạt động logistics Ngành logistic tại Việt nam hiện đang phát triển rất nhanh, thực tế hoạt động ngành đã đi nhanh hơn các qui định luật pháp. Trong khi đó,mục tiêu cần đạt đƣợc của logistics khai thác tốt nhất, hiệu quả nhất mọi nguồn lực quốc gia trong các hoạt động vận tải, giao nhận, lƣu trữ hàng hoá và những hoàn thiện cơ sở hạ tầng logistics và một hệ thống các văn bản luật – kinh tế logistics, tạo ra một môi trƣờng thuận lợi cho sự hoạt động và phát triển logistics cũng nhƣ dịch vụ logistics.  Hoàn thiện công tác xây dựng cơ sở hạ tầng Hoàn thiện công tác xây dựng cơ sở hạ tầng vận tải (đƣờng biển,đƣờng không, bộ,sắt…). Hiện nay, vận tải hàng hóa xuất khẩu ở nƣớc ta chủ yếu là bằng đƣờng biển nên việc đầu tƣ cơ sở hạ tầng cho vận tải biển để phát triển logistics mà là một điều tất yếu, mà nhiệm vụ trƣớc mắt là khuyến khích đầu tƣ xây dựng cảng container, cảng nƣớc sâu phục vụ cho việc vận chuyển hàng hóa. Bên cạnh đó, việc phát triển hệ thống cảng nội địa ( Inland Clearance Depot – ICD) để tạo điều kiện cho vận tải đa phƣơng thức phát triển cũng là một trong những yêu cầu đƣợc đặt ra mà rất cần sự hỗ trợ của Nhà nƣớc. Không chỉ phát triển vận tải đƣờng biển mà việc mở rộng các tuyến đƣờng vận tải nội địa (đƣờng sông, đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng hàng không…) và quốc tế cũng góp phần phát triển hoạt động logistics tại nƣớc ta. Ngoài ra, Nhà nƣớc có thể sắp xếp lại cảng trên cơ sở dài hạn. Lập trung tâm logistics( phân phối) tại các vùng trọng điểm kinh tế để tập trung hàng xuất và phân phối hàng nhập khẩu hay thành phẩm. Xây dựng một mạng Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 88 lƣới phân phối giữa chủ hàng,công ty giao nhận hệ thống chi nhánh, nơi phân phối cuối cùng. Đồng thời với các trung tâm phân phối là các hệ thống kho gom hàng. Về giao nhận vận tải hàng không, Chính phủ nên cho phép Hiệp hội thu xếp đứng ra tổ chức nghiên cứu, đầu tƣ,xây dựng khu vực dành cho các đại lý gom hàng, khai quan tại khu vực các sân bay quốc tế nhƣ TPHCM, Hà Nội và Đà Nẵng. Nhà nƣớc nên xây dựng nhà ga hàng hóa chuyên dụng với các khu vực giao hàng, tiếp nhận,chuyển tải…theo các qui trình nghiệp vụ nhƣ các nƣớc trong khu vực đã và đang làm nhƣ Thái lan, Singapore và Malaysia. Hiện đại hóa các kho chứa hàng và phân phối .  Xây dựng hành lang, khung pháp lý thông thoáng và hợp lý, logistics Luật Thƣơng Mại 2005 lần đầu tiên đề cập đến hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics, tuy nhiên, điều luật này chƣa đƣợc rõ ràng, chính xác ở chỗ luật chƣa làm rõ đƣợc logistics là một chuỗi liên tục. Ngoài ra, gần đây nhất mới có nghị định 140/2007/NĐ-CP qui định chi tiết Luật Thƣơng Mại về hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics. Dù đã có những thay đổi phù hợp mang tính pháp lý điều chỉnh cho hoạt động này, nhƣng Nhà nƣớc vẫn cần đƣa ra một khung pháp lý chuẩn trong Luật Thƣơng mại và những bộ luật có liên quan nhƣ Luật Giao thông vận tải, Bộ luật dân sự , Luật đầu tƣ v.v… cũng nhƣ trong một số loại văn bản dƣới luật, nhằm tạo điều kiện và sự hỗ trợ cho việc phát triển logistics. Bên cạnh đó, Nhà nƣớc cần thay đổi và tiêu chuẩn hóa các qui định (cấp phép, điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn…), tạo môi trƣờng tự do cho hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics. Công nhận về mặt pháp lý các chứng từ điện tử. Thống nhất hóa , tiêu chuẩn hóa tên hàng và mã hàng hóa. Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 89 Cuối cùng, Nhà nƣớc cần có các qui định hải quan về giấy phép Ngƣời chuyên chở không có tàu (NVOCC-Non-vessel operating of common carrier) và phân định rõ trách nhiệm của Đại lý khai quan, chứng từ XNK phải phù hợp với thông lệ quốc tế, cụ thể là các nƣớc ASEAN,khu vực châu á…Tin học hóa thủ tục hải quan.  Ứng dụng công nghệ thông tin Nhà nƣớc cũng cần đẩy nhanh việc áp dụng công nghệ thông tin tại các cạnh đó là việc xây dựng hệ thống thông tin cập nhật thông suốt suốt giữa các cơ quan quản lý của Nhà nƣớc với cảng và các doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc. Việc có đƣợc hệ thống thông tin nhƣ vậy sẽ giúp cho các doanh nghiệp nắm bắt kịp thời các chủ trƣơng, chính sách phát triển cũng nhƣ những qui định của Nhà nƣớc, từ đó họ sẽ xây dựng kế hoạch phát triển phù hợp nhất. cơ sở hạ tầng cũng nhƣ cơ sở pháp lý cho lĩnh vực logistics, nhằm tạo điều kiện và hỗ trợ hoạt động logistics để ngành logistics nƣớc ta nói chung và dịch vụ logistics của VINAFCO nói riêng sớm đƣợc sánh vai cùng các quốc gia có ngành logistics phát triển mạnh nhƣ Singapore, Trung Quốc, ấn Độ .v.v… Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 90 KẾT LUẬN Với doanh thu lên đến con số tỉ USD, dịch vụ logistics đang hấp dẫn các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài và thực tế họ đang kinh doanh rất sôi động tại Việt Nam. Hầu hết các tập đoàn logistics lớn trên thế giới đã có mặt tại nƣớc ta và theo cam kết gia nhập WTO, các công ty logistics 100% vốn nƣớc ngoài sẽ đƣợc phép hoạt động tại Việt Nam trong thời gian tới. Tất cả các dịch vụ Logistics( nhƣ nhận đơn đặt hàng vận tải, gom hàng, xử lý nguyên vật liệu, gia công mã mác, lƣu kho, kiểm soát hàng tồn kho, tái chế hàng trả lại, quản lý việc phân phối, xúc tiến thị trƣờng và các dịch vụ thông tin…) nhằm mục đích thoả mãn cao nhất cho nhu cầu của khách hàng (ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng). Đối với toàn bộ quá trình lƣu thông, phân phối, ứng dụng hệ thống Logistics là một bƣớc phát triển cao hơn của công nghệ vận tải. Hệ thống Logistics liên kết và tối ƣu toàn bộ quá trình sản xuất và lƣu thông trên phạm vi rất rộng: trong một quốc gia, một khu vực, đến toàn cầu. Mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và VINAFCO nói riêng đang hƣớng tới là việc sẽ trở thành các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics có thƣơng hiệu trong và ngoài nƣớc. Do vậy trong giai đoạn đầu ứng dụng logistics, chính phủ cần phải có những định hƣớng và hỗ trợ trong việc đầu tƣ xây dựng hạ tầng cơ sở -vật chất-kỹ thuật cho ngành này, cũng nhƣ xây dựng đựơc một khuôn khổ hành lang pháp lý minh bạch và thống nhất. Nhà nƣớc cùng với doanh nghiệp và hiệp hội tổ chức các khóa đào tạo chuyên ngành logistics nhằm nâng cao nghiệp vụ về logistics cho ngƣời lao động cũng nhƣ hiểu biết trong xã hội. Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 91 Bên cạnh đó,VINAFCO cũng cần xây dựng những chiến lƣợc đầu tƣ và phát triển trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho việc cung cấp dịch vụ logistics, phù hợp với qui mô của mình. Ngoài ra,công ty còn cần phải có một cơ chế quản lý hiệu quả hoạt động này nhằm tăng cƣờng khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng trong nƣớc và thế giới. Tóm lại, nếu có đƣợc hƣớng đi chiến lƣợc đúng đắn thì trong tƣơng lai không xa, dịch vụ logistics của VINAFCO sẽ ngày càng hoàn thiện và công ty sẽ trở thành doanh nghiệp mũi nhọn trong ngành logistics Việt Nam, sánh ngang với các doanh nghiệp lớn của thế giới. Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt 1. Giáo trình Vận tải và Giao nhận hàng hóa trong hoạt động ngoại thƣơng-NXB GTVT,2003 2. chúng tôi Nguyễn Nhƣ Tiến- Logistics, Khả năng ứng dụng và phát triển trong kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận Việt Nam-NXB GTVT, 2006 3. Giáo trình Giao nhận vận tải hàng hóa quốc tế- NXB GTVT,2002 4. TS. Lý Bách Chấn – Đào tạo trong dịch vụ logistics . 5. Kỹ sƣ tƣ vấn Đặng Đình Cung – Việt-Nam : Căn cứ hậu cần của Đông Nam á ? 6. Đỗ Xuân Quang – Logistics tại Việt Nam: thực trạng, cơ hội và thách thức 7. Bản báo cáo tài chính kiểm toán của Công ty cổ phần VINAFCO năm 2004, 2005, 2006 8. Bản cáo bạch năm 2006 của Công ty cổ phần Vinafco 9. Bản báo cáo nhanh kết quả hoạt động kinh doanh 8 tháng đầu năm 2007 của Công ty cổ phần Vinafco 10. Luật Hàng Hải Việt Nam (1990 và 2005), luật hàng không dân dụng Việt Nam (1992), Luật thƣơng mại Việt Nam (2005), Luật Hải Quan (2005), và nghị định 140 /2007/NĐ-CP về Quy định chi tiết Luật Thƣơng mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thƣơng nhân kinh doanh dịch vụ logistics. Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trần Ngọc Diệp – A6K42B 93 Tiếng Anh 1. Edward Frazzelle – Supply Chain Strategy – Logistics Management Library, 2003 2. What is Logistics & Supply Chain Management? 3. Carla Reed – Global Logistics and Transportation 4. Developing Singapore into a global Intergrated Logistics Hub- Economics Development Board of Singapore,2002 Website 1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8. 9. 10.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

3823_3866.pdf

Đề Tài Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Phát Triển Ngành Logistics

, DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Các bạn sinh viên vào tải mẫu chuyên đề tốt nghiệp chuyên ngành quản trị kinh doanh Chuyên đề Thực trạng và một số giải pháp phát triển ngành logistics miễn phí điểm cao

1. LỜI MỞ ĐẦU Xu thế tất yếu của thời đại ngày nay là toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Toàn cầu hóa tạo điều kiện cho giao thương giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới phát triển mạnh mẽ, và đương nhiên sẽ dẫn đến bước phát triển mới của Logistics. Trong vài thập niên gần đây Logistics đã phát triển nhanh chóng và mang lại những kết quả rất tốt đẹp ở nhiều nước trên thế giới, điển hình như Hà Lan, Thụy Điển, Đan Mạch, Hoa Kỳ,… Trong những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, thuật ngữ Logistics được nhắc đến nhiều ở các nước Đông Á, Đông – Nam Á và đặc biệt phát triển ở Singapore. Nhưng ở Việt Nam, Logistics còn là ngành mới mẻ, ít người biết đến nhưng lại đem về cho quốc gia một nguồn lợi khổng lồ. Với đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển ngành logistics tại Việt Nam”. Nhóm chúng tôi nêu ra những vấn để cơ bản của Logistics, thực trạng ngành Logistics của Việt Nam hiện nay và những giải pháp nhằm khắc phục thực trạng trên để logistics tại Việt Nam phát triển hơn nữa 1

2. I. TỔNG QUAN VỀ MÔN HỌC QUẢN TRỊ LOGISTICS KINH DOANH 1. Logistics trong nền kinh tế hiện đại 1.1. Khái niệm và sự phát triển của logistics kinh doanh Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc Hilạp – logistikos – phản ánh môn khoa học nghiên cứu tính quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật (do vậy, một số từ điển định nghĩa là hậu cần) để cho quá trình chính yếu được tiến hành đúng mục tiêu. Công việc logistics hoàn toàn không phải là lĩnh vực mới mẻ. Từ thủa xa xưa, sau mùa thu hoạch người ta đã biết cách cất giữ lương thực để dùng cho những lúc giáp hạt. Tơ lụa từ Trung Quốc đã tìm được đường đến với khắp nơi trên thế giới. Nhưng do giao thông vận tải và các hệ thống bảo quản chưa phát triển, nên các hoạt động giao thương còn hạn chế. Thậm chí, ngày nay ở một vài nơi trên thế giới vẫn còn những cộng đồng sống theo kiểu tự cung tự cấp, mà không có trao đổi hàng hoá với bên ngoài. Lý do chính là ở đó thiếu một hệ thống hậu cần phát triển hợp lý và hiệu quả (lack of well-developed and inexpensive logistics system). Theo từ điển Oxford thì logistics trước tiên là “Khoa học của sự di chuyển, cung ứng và duy trì các lực lượng quân đội ở các chiến trường”. Napoleon đã từng định nghĩa: Hậu cần là hoạt động để duy trì lực lượng quân đội, nhưng cũng chính do hoạt động hậu cần sơ sài đã dẫn đến sự thất bại của vị tướng tài ba này trên đường tới Moscow vì đã căng hết mức đường dây cung ứng của mình. Cho đến nay, khái niệm logistics đã mở rộng sang lĩnh vực kinh tế, mau chóng phát triển và mang lại thành công cho nhiều công ty và tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng trên thế giới. Logistics hiện đại (modern business logistics) là một môn khoa học tương đối trẻ so với những ngành chức năng truyền thống như marketing, tài chính, hay sản xuất. Cuốn sách đầu tiên về logistics ra đời năm 1961, bằng tiếng Anh, với tựa đề “Physical distribution management”, từ đó đến nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau được đưa ra để khái quát về lĩnh vực này, mỗi khái niệm thể hiện một góc độ tiếp cận và nội dung khác nhau. Trước những năm 1950 công việc logistics chỉ đơn thuần là một hoạt động chức năng đơn lẻ. Trong khi các lĩnh vực marketing và quản trị sản xuất đã 2

6. 1.3.1. Đối với nền kinh tế quốc dân – Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế trong một quốc gia và toàn cầu qua việc cung cấp nguyên liệu, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường. Trong các nền kinh tế hiện đại, sự tăng trưởng về số lượng của khách hàng đã thúc đẩy sự gia tăng của các thị trường hàng hóa và dịch vụ trong nước và quốc tế. Hàng nghìn sản phẩm và dịch vụ mới đã được giới thiệu, đang được bán ra và phân phối hàng ngày đến các ngõ ngách của thế giới trong thập kỷ vừa qua. Để giải quyết các thách thức do thị trường mở rộng và sự tăng nhanh của hàng hóa và dịch vụ, các hãng kinh doanh phải mở rộng quy mô và tính phức tạp, phát triển các nhà máy liên hợp thay thế cho những nhà máy đơn. Hệ thống logistics hiện đại đã giúp các hãng làm chủ được toàn bộ năng lực cung ứng của mình qua việc liên kết các hoạt động cung cấp, sản xuất, lưu thông, phân phối kịp thời chính xác. Nhờ đó mà đáp ứng được những cơ hội kinh doanh trong phạm vi toàn cầu – Tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất, kinh doanh từ khâu đầu vào đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Logistics hỗ trợ sự di chuyển và dòng chảy của nhiều hoạt động quản lý hiệu quả, nó tạo thuân lợi trong việc bán hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ. Để hiểu hơn về hình ảnh hệ thống này, có thể thấy rằng nếu hàng hóa không đến đúng thời điểm, không đến đúng các vị trí và với các điều kiện mà khách hàng cần thì khách hàng không thể mua chúng, và việc không bán được hàng hóa sẽ làm mọi hoạt động kinh tế trong chuỗi cung cấp bị vô hiệu. – Tiết kiệm và giảm chi phi phí trong lưu thông phân phối. Với tư cách là các tổ chức kinh doanh cung cấp các dịch vụ logistics chuyên nghiệp, các doanh nghiệp logistics mang lại đầy đủ các lợi ích của các third – party cho các ngành sản xuất và kinh doanh khác. Từ đó mà mang lại hiệu quả cao không chỉ ở chất lượng dịch vụ cung cấp mà còn tiết kiệm tối đa về thời gian và tiền bạc cho các quá trình lưu thông phân phối trong nền kinh tế. – Mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế, góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh đặc biệt trong buôn bán và vận tải quốc tế. Trong thời đại toàn cầu hóa, thương 6

7. mại quốc tế là sự lựa chọn tất yếu cho mọi quốc gia trong tiến trình phát triển đất nước. Các giao dịch quốc tế chỉ thực hiện được và mang lại hiệu quả cho quốc gia khi dựa trên một hệ thống logistics rẻ tiền và chất lượng cao. Hệ thống này giúp cho mọi dòng hàng hóa được lưu chuyển thuận lợi, suôn sẻ từ quốc gia này đến quốc gia khác nhờ việc cung ứng kịp thời, phân phối chính xác, chứng từ tiêu chuẩn, thông tin rõ ràng… 1.3.2. Đối với doanh nghiệp – Logistics nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí sản trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Quan điểm marketing cho rằng, kinh doanh tồn tại dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng và cho thấy 3 thành phần chủ yếu của khái niệm này là sự phối hợp các nỗ lực marketing, thỏa mãn khách hàng và lợi nhuận công ty. Logistics đóng vai trò quan trọng với các thành phần này theo cách thức khác nhau. Nó giúp phối hợp các biến số marketing -mix, gia tăng sự hài lòng của khách hàng, trực tiếp làm giảm chi phí, gián tiếp làm tăng lợi nhuận trong dài hạn. – Logistics tạo ra giá trị gia tăng về thời gian và địa điểm: Mỗi sản phẩm được sản xuất ra luôn mang một hình thái hữu dụng và giá trị (form utility and value) nhất định với con người. Tuy nhiên để được khách hàng tiêu thụ, hầu hết các sản phẩm này cần có nhiều hơn thế. Nó cần được đưa đến đúng vị trí, đúng thời gian và có khả năng trao đổi với khách hàng. Các giá trị này cộng thêm vào sản phẩm và vượt xa phần giá trị tạo ra trong sản xuất được gọi là lợi ích địa điểm, lợi ích thời gian và lợi ích sở hữu (place, time and possession utility). Lợi ích địa điểm là giá trị cộng thêm vào sản phẩm qua việc tạo cho nó khả năng trao đổi hoặc tiêu thụ đúng vị trí. Lợi ích thời gian là gía trị được sáng tạo ra bằng việc tạo ra khả năng để sản phẩm tới đúng thời điểm mà khách hàng có nhu cầu, những lợi ích này là kết quả của hoạt động logistics. Như vậy Logistics góp phần tạo ra tính hữu ích về thời gian và địa điểm cho sản phẩm, nhờ đó mà sản phẩm có thể đến đúng vị trí cần thiết vào thời điểm thích hợp. Trong xu hướng toàn cầu hóa, khi mà thị trường tiêu thụ và nguồn cung ứng ngày càng trở nên xa cách về mặt địa lý thì các lợi ích về thời gian và địa điểm do logistics mang trở nên đặc biệt cần thiết cho việc tiêu dùng sản phẩm – Logistics cho phép doanh nghiệp di chuyển hàng hóa và dịch vụ hiệu quả đến khách hàng: Logistics không chỉ góp phần tối ưu hóa về vị trí mà còn tối ưu hóa các dòng hàng hóa và dịch vụ tại doanh nghiệp nhờ vào 7

8. việc phân bố mạng lưới các cơ sở kinh doanh và điều kiện phục vụ phù hợp với yêu cầu vận động hàng hóa. Hơn thế nữa, các mô hình quản trị và phương án tối ưu trong dự trữ, vận chuyển, mua hàng…và hệ thống thông tin hiện đại sẽ tạo điều kiện để đưa hàng hóa đến nơi khách hàng yêu cầu nhanh nhất với chi phí thấp, cho phép doanh nghiệp thực hiện hiệu quả các hoạt động của mình – Logistics có vai trò hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh, là một nguồn lợi tiềm tàng cho doanh nghiệp: Một hệ thống logistics hiệu quả và kinh tế cũng tương tự như một tài sản vô hình cho công ty. Nếu một công ty có thể cung cấp sản phẩm cho khách hàng của mình một cách nhanh chóng với chi phí thấp thì có thể thu được lợi thế về thị phần so với đối thủ cạnh tranh. Điều này có thể giúp cho việc bán hàng ở mức chi phí thấp hơn nhờ vào hệ thống logistics hiệu quả hoặc cung cấp dịch vụ khách hàng với trình độ cao hơn do dó tạo ra uy tín. Mặc dù không tổ chức nào chỉ ra phần vốn quý này trong bảng cân đối tài sản nhưng cần phải thừa nhận rằng đây là phần tài sán vô hình giống như bản quyển, phát minh, sáng chế, thương hiệu. 8

10. Một cách khái quát, mục tiêu của quản trị logistics là cung ứng dịch vụ cho khách hàng đạt hiệu quả cao. Cụ thể hơn, theo E.Grosvenor Plowman, mục tiêu của hệ thống logistics là cung cấp cho cho khách hàng 7 lợi ích – (7 rights): đúng khách hàng, đúng sản phẩm, đúng số lượng, đúng điều kiện, đúng địa điểm, đúng thời gian, đúng chi phí 2.3. Các nội dung cơ bản của quản tri logistics 2.3.1. Dịch vụ khách hàng Trong hoạt động logistics, dịch vụ khách hàng được hiểu là toàn bộ kết quả đầu ra, là thước đo chất lượng của toàn bộ hệ thống. Do đó muốn phát triển logistics phải có sự quan tâm thích đáng đến dịch vụ khách hàng.Theo quan điểm này, dịch vụ khách hàng là quá trình diễn ra giữa ng- ười mua và người bán và bên thứ ba là nhà thầu phụ. Kết quả của quá trình này tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm hay dịch vụ được trao đổi, được đo bằng hiệu số giá trị đầu ra và giá trị đầu vào của một loạt các hoạt động kinh tế có quan hệ tương hỗ với nhau và thể hiện qua sự hài lòng của khách hàng. Là thước đo chất lượng toàn bộ hệ thống logistics của doanh nghiệp, dịch vụ khách hàng có ảnh hưởng rất lớn đến thị phần, đến tổng chi phí bỏ ra và cuối cùng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Tuỳ theo từng lĩnh vực và sản phẩm kinh doanh mà giá trị cộng thêm vào sản phẩm và dịch vụ do hậu cần mang lại không giống nhau (Hình 1.6). Dữ liệu cho thấy sự chênh lệch đáng kể về giá trị gia tăng do logistics tạo ra ở một số mặt hàng và lĩnh vực kinh doanh khác nhau. 2.3.2. Hệ thống thông tin Để quản trị logistics thành công, đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý được hệ thống thông tin phức tạp. Bao gồm thông tin trong nội bộ từng tổ chức (doanh nghiệp, nhà cung cấp, khách hàng), thông tin trong từng bộ phận chức năng của doanh nghiệp, thông tin giữa các khâu trong dây chuyền cung ứng (kho tàng, bến bãi, vận tải…) và sự phối hợp thông tin giữa các tổ chức, bộ phận và công đoạn ở trên. Trong đó trọng tâm là thông tin xử lý đơn đặt hàng của khách, hoạt động này được coi là trung tâm thần kinh của hệ thống logistics. Trong điều kiện hiện nay, những thành tựu của công nghệ thông tin với sự trợ giúp của máy vi tính sẽ giúp cho việc quản trị thông tin nhanh chóng, chính xác, kịp thời. Nhờ đó doanh nghiệp có thể đưa ra những 10

11. quyết định đúng đắn vào thời điểm nhạy cảm nhất. Điều này giúp cho logistics thực sự trở thành một công cụ cạnh tranh lợi hại của doanh nghiệp. 2.3.3. Quản trị Dự trữ Dự trữ là sự tích luỹ sản phẩm, hàng hoá tại các doanh nghiệp trong quá trình vận động từ điểm đầu đến điểm cuối của mỗi dây chuyền cung ứng, tạo điều kiện cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục, nhịp nhàng, thông suốt. Dự trữ trong nền kinh tế còn cần thiết do yêu cầu cân bằng cung cầu đối với các mặt hàng theo thời vụ, để đề phòng các rủi ro, thoả mãn những nhu cầu bất thường của thị trường, dự trữ tốt sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp. Mặc dù rất cần thiết nhưng dự trữ rất tốn kém về chi phí, tại công ty Cambell Soup dự trữ chiếm đến 30% tài sản, và chiếm đến hơn 50% tài sản của tập đoàn Kmart. Vì vậy việc quản lý dự trữ tốt sẽ giúp doanh nghiệp cân đối giữa vốn đầu tư với những cơ hội đầu tư khác. 2.3.4. Quản trị vận tải Là việc sử dụng các phương tiện chuyên chở để khắc phục khoảng cách về không gian của sản phẩm và dịch vụ trong hệ thống logistics theo yêu cầu của khách hàng. Nếu sản phẩm được đưa đến đúng vị trí mà khách hàng yêu cầu tức là giá trị của nó đã được tăng thêm. Mặt khác việc sử dụng phương thức và cách thức tổ chức vận chuyển còn giúp cho sản phẩm có đến đúng vào thời điểm khách hàng cần hay không? Điều này cũng tạo thêm giá trị gia tăng cho sản phẩm. Như vậy bằng cách quản trị vận chuyển tốt sẽ góp phần đưa sản phẩm đến đúng nơi và đúng lúc phù hợp với nhu cầu của khách hàng. 2.3.5. Quản trị kho hàng Bao gồm việc thiết kế mạng lưới kho tàng ( Số lượng, vị trí và quy mô). Tính toán và trang bị các thiết bị nhà kho; Tổ chức các nghiệp vụ kho. Quản lý hệ thống thông tin giấy tờ chứng từ; Tổ chức quản lý lao động trong kho…Giúp cho sản phẩm được duy trì một cách tối ưu ở những vị trí cần thiết xác định trong hệ thống logistics nhờ đó mà các hoạt động được diễn ra một cách bình thường. 11

12. 2.3.6. Quản trị vật tư và mua hàng hoá Nếu dịch vụ khách hàng là đầu ra của hệ thống logistics thì vật tư, hàng hoá là đầu vào của quá trình này. Mặc dù không trực tiếp tác động vào khách hàng nhưng quản trị hàng hoá và vật tư có vai trò tạo tiền đề quyết định đối vơí chất lượng toàn bộ hệ thống. Hoạt động này bao gồm: Xác định nhu cầu vật tư, hàng hoá; tìm kiếm và lựa chọn nhà cung cấp; Tiến hành mua sắm; Tổ chức vận chuyển, tiếp nhận và lưu kho, bảo quản và cung cấp cho người sử dụng… Những nội dung cơ bản trên cho thấy, logistics giải quyết vấn đề tối ưu hoá cả đầu ra lẫn đầu vào tại các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Logistics có thể giúp thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hoá quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ nhờ đó tạo ra khả năng giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp II. THỰC TRẠNG NGÀNH LOGISTICS TẠI VIỆT NAM 1. Những thành công của ngành logistics tai Việt Nam Tuy chỉ mới xuất hiện tại Việt Nam nhưng ngành logistics đã và đang từng bước góp phần rất lớn của mình vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước. Theo Bộ Công Thương, chiếm khoảng 50 – 60%. Tổng lượng vận chuyển hàng hoá của Việt Nam khoảng 200 triệu tấn năm 2010, tốc độ tăng trưởng của ngành những năm gần đây đạt trung bình 20-25%/năm và hiện tại Việt Nam Số doanh nghiệp thành lập và hoạt động trong ngành khá lớn gồm nhiều thành phần, cả nước có khỏang 1.200 (vượt qua Thái lan, Singapore) Trong số doanh nghiệp này có 113 doanh nghiệp là hội viên của Hiệp hội Giao nhận Kho vận Việt Nam (VIFFAS). Trong đó có 100 hội viên chính thức và 13 hội viên liên kết (Số liệu tính đến tháng 01/2010). Theo thống kê đăng ký doanh nghiệp phát hành Vận đơn hàng không thứ cấp (HWAB) năm 2000 thì tại thành phố Hồ Chí Minh có 600 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh vận tải hàng hoá bằng đường hàng không. Lộ trình cam kết WTO của Việt Nam về dịch vụ logistics đến năm 2014, nhưng Các công ty logistics đa quốc gia hàng đầu trên thế giới (Top 25 hoặc 30) đã có mặt tại Việt Nam. dưới nhiều hình thức, các công ty nước ngoài đã hoạt động đa dạng, đặc biệt trong việc cung ứng dịch vụ 3PL (dịch 12

13. cụ cung ứng bên thứ 3) với trình độ công nghệ hiện đại, chuyên nghiệp như tại các nước phát triển. Theo Ngân hàng Thế giới, năm 2009 Việt Nam có chỉ số LPI (Logistics Performance Index) theo báo cáo Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2009 là trung bình – khá, đứng đầu các nước có thu nhập thấp, xếp hạng thứ 53 trên thế giới và thứ 5 trong Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á về hiệu quả hoạt động dịch vụ logisticsvà được đánh giá có biểu hiện đặc biệt về hoạt động logistics. Đây cũng là lần thứ 2 liên tiếp Việt Nam giữ vững vị trí 53, thậm chí LPI của nước ta còn cao hơn cả một số quốc gia có mức thu nhập trung bình (như Indonesia, Tunisia, Honduras…) Với tư cách chủ tịch ASEAN 2010, Việt Nam là quốc gia đi đầu trong ASEAN xây dựng hệ thống “mềm” trong phát triển lĩnh vực logistics. Theo VIFFAS, hiện chưa có thống kê chính xác về nguồn nhân lực phục vụ. Nếu chỉ tính riêng các công ty thành viên Hiệp hội (có đăng ký chính thức), tổng số nhân viên vào khoảng 5000 người. Đây là lực lượng được coi là chuyên nghiệp. Ngoài ra ước tính có khoảng 4000-5000 người thực hiện dịch vụ giao nhận vận tải bán chuyên nghiệp hoặc chuyên nghiệp khác nhưng chưa tham gia hiệp hội. 2. Những hạn chế và tồn tại của ngành logistics tại Việt Nam 2.1. Về nguồn nhân lực 2.1.1. Nguồn nhân lực – Đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành Trong các doanh nghiệp quốc doanh và cổ phần hóa thì cán bộ chủ chốt được Bộ, ngành chủ quản điều động về điều hành các công ty, đơn vị trực thuộc ở miền Nam là thời gian sau ngày giải phóng. Đội ngũ này hiện nay đang điều hành chủ yếu các doanh nghiệp tương đối lớn về quy mô và có thâm niên trong ngành, chẳng hạn trong lĩnh vực dịch vụ hàng hải, kho vận, đa số đạt trình độ đại học. Hiện thành phần này đang được đào tạo và tái đào tạo để đáp ứng nhu cầu quản lý. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại phong cách quản lý cũ, chưa chuyển biến kịp để thích ứng với môi trường mới, thích sử dụng kinh nghiệm hơn là áp dụng khoa học quản trị hiện đại. Trong các công ty giao nhận mới thành lập vừa qua, chúng ta thấy đã hình thành 13

14. một đội ngũ cán bộ quản lý trẻ, có trình độ đại học, nhiều tham vọng nhưng kinh nghiệm kinh doanh quốc tế và tay nghề còn thấp. Lực lượng này trong tương lai gần sẽ là nguồn bổ sung và tiếp nối các thế hệ đàn anh đi trước, năng động hơn, xông xáo và ham học hỏi. – Đội ngũ nhân viên phục vụ Đội ngũ nhân viên phục vụ:là đội ngũ nhân viên chăm lo các tác nghiệp hàng ngày, phần lớn tốt nghiệp đại học nhưng không chuyên, phải tự nâng cao trình độ nghiệp vụ, tay nghề trong quá trình làm việc. Lực lượng trẻ chưa tham gia nhiều vào hoạch định đường lối, chính sách, ít tham gia đóng góp ý kiến để xây dựng và phát triển ngành nghề. – Về đội ngũ nhân công lao động trực tiếp Đa số trình độ học vấn thấp, công việc chủ yếu là bốc xếp, kiểm đếm ở các kho bãi, lái xe vận tải, chưa được đào tại tác phong công nghiệp, sử dụng sức lực nhiều hơn là bằng phương tiện máy móc. Sự yếu kém này là do phương tiện lao động còn lạc hậu, chưa đòi hỏi lao động chuyên môn. 2.1.2. Chương trình đào tạo – Chương trình đào tạo, nâng cao tay nghề trong ngành logistics hiện nay được thực hiện ở 3 cấp độ: tại các cơ sở đào tạo chính thức, đào tạo theo chương trình hiệp hội, đào tạo nội bộ trong doanh nghiệp. Tại các cơ sở đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng. Theo đánh giá của VIFFAS chương trình đào tạo về logistics còn yếu và nhỏ lẻ (khoảng 15- 20 tiết học trong môn vận tải và bảo hiểm ngoại thương), chủ yếu đào tạo nghiên về vận tải biển và giao nhận đường biển. Tại các trường đại học Kinh tế, trong chương trình quản trị sản xuất có trình bày sơ lược về quản trị dây chuyền cung ứng và quản trị vật tư, như một phần của môn vận trù học. Nghiệp vụ logistics trong giao nhận hàng không chưa được xây dựng thành môn học, chưa có trường đại học nào đào tạo hay mở những lớp bồi dưỡng ngắn hạn. Với thời lượng môn học như vậy, bài giảng chỉ tập trung giới thiệu những công việc trong giao nhận, quy trình và các thao tác thực hiện qua các công đoạn. Chương trình tương đối lạc hậu, giảng dạy theo nghiệp vụ giao nhận truyền thống là chủ yếu. Các kỹ thuật giao nhận hiện đại ít được cập nhật hóa như vận tải đa phương thức, kỹ năng quản trị dây chuyền chuỗi cung ứng, các khái niệm mới. Tính thực tiễn của chương trình giảng 14

16. Logistics phù hợp với nền kinh tế hội nhập; Chưa có một đội ngũ cán bộ giảng dạy về Logistics có kiến thức chuyên môn sâu và giàu kinh nghiệm thực tế; Chưa có hệ thống Chuẩn Kỹ năng làm cơ sở cho việc thiết kế các chương trình đào tạo và giáo trình cho các vị trí công việc trong ngành Logistics 2.2. Về cơ sở hạ tầng Trong những năm vừa qua cơ sở hạ tầng đã có nhiều thay đổi đáng kể, nhiều công trình và hệ thống giao thông đường bộ, cảng nội địa và cảng biển được nâng cấp. Tuy nhiên nhìn từ góc độ Logistics, cơ sở hạ tầng chúng ta còn quá yếu kém, lạc hậu, thiếu đồng bộ, hệ thống kho bãi quy mô nhỏ và rời rạc, trang thiết bị, phương tiện như xe vận chuyển hàng, dây chuyền, băng tải, đường ống, thiết bị chiếu sang, xe nâng hạ hàng hóa, máy đóng gói và các thiết bị mã vạch… với công nghệ thấp và cũ kỹ. Hệ thống vận tải đường biển, đường sông, hàng không, đường bộ, đường sắt còn nhiều bất cập, dẫn đến tốc độ lưu chuyển trong logistic còn khá chậm nên đã hưởng không nhỏ tới hoạt động hiệu quả của ngành logistics. Hiện nay chỉ có khoảng 20 cảng biển có thể tham gia vào vận tải hàng hóa quốc tế thiết bị xếp dỡ container hiện đại, thiếu kinh nghiệm trong điều hành xếp dỡ container. Đường hàng không hiện nay chưa đủ phương tiện cho vận chuyển hàng hóa vào mùa cao điểm. Chỉ có sân bay Tân Sơn Nhất là đón được máy bay chở hàng quốc tế. Các sân bay quốc tế là Tân Sơn Nhất, Nội Bài, Đà Nẵng chưa có khu vực hoạt động cho đại lý logistics thu gom hàng và khai quan như các nước trong khu vực đang làm. Khả năng bảo trì và phát triển đường bộ còn thấp đương như không thiết kế để vận chuyển container. Các đội xe vận tải chuyên dùng hiện nay cũ kỹ. Năng lực vận tải đường sắt không được vận dụng hiệu quả do chưa được hiện đại hóa. Theo số liệu của tổng cục thống kê hàn hóa vận chuyển bằng đường sắt chiếm 15% lượng hàng hóa lưu thông. Đường sắt Việt Nam vẫn đồng thời sử dụng cả 2 loại đường ray khác nhau (1.000 và 1.435 mm) với trọng tải thấp. chuyến tàu nhanh nhất chạy tuyến Hà Nội – Tp Hồ Chí Minh với quãng đường 1630 km cần 32h. Nhiều tuyến đường sắt liên tỉnh, liên huyện đang ở tình trạng xuống cấp trầm trọng. Các trục đường bộ không được thiết kế đúng tiêu chuẩn để có thể kết hợp tốt giữa các phương thức vận tải bằng đường biển, đường sông, đường bộ và hàng không. Chẳng hạn các quốc lộ chỉ được thiết kế cho xe tải trọng không quá 30 tấn lưu thông, trong khi theo tiêu chuẩn quốc tế, trọng lượng một container 40 feet đầy hàng đã lên đến 34.5 tấn. 16

18. các doanh nghiệp này rất đơn giản, tính chuyên sâu của các doanh nghiệp trong logistics không có. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa có văn phòng đại diện của chính công ty mình đặt tại nước ngoài. Các thông tin từ nước ngoài, công việc phải giải quyết ở nước ngoài của một số công ty lớn hơn đều do hệ thống đại lý thực hiện, cung cấp. Theo đánh giá của VIFFAS (Hiệp hội Giao nhận Kho vận Việt Nam), trình độ công nghệ logistics của Việt Nam so với thế giới còn yếu kém. Trong vấn đề vận tải đa phương thức như biển, sông, hàng không… vẫn chưa thể kết hợp một cách hiệu quả, chưa tổ chức tốt các điểm chuyển tải. Trình độ cơ giới hóa trong bốc dỡ hàng hóa vẫn còn yếu kém, lao động phổ thông còn phổ biến. Công tác lưu kho còn lạc hậu so với thế giới, chưa áp dụng tin học trong quản trị kho như mã vạch, chương trình quản trị kho… 2.4. Về luật lệ của các quốc gia Đối với thị trường nước ngoài, hiện các doanh nghiệp của Việt Nam vẫn chưa có văn phòng đặt tại nước ngoài, và cũng chưa có doanh nghiệp nào tham gia thầu cung ứng dịch vụ tại nước ngoài nên xét trên nhiều mặt thì cơ hội xuất khẩu dịch vụ rất hạn chế. Một vấn đề nữa là lâu nay các doanh nghiệp XNK, các nhà sản xuất của Việt Nam do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chính là nắm không vững các luật lệ của các quốc gia có quan hệ thương mại lớn với chúng ta, cho nên thường mua thì phải mua CIF, còn bán thì chỉ bán FOB. Vì vậy quyền được thuê tàu, thuê vận tải, rồi mua bảo hiểm đều thuộc về đối tác nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ khai thác vận tải và bảo hiểm được từ 10 đến 18% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu. Các doanh nghiệp trong nước cho biết, phương thức “bán FOB, mua CIF” của doanh nghiệp xuất, nhập khẩu trong nước khiến cho phần lớn hợp đồng vận chuyển giao nhận rơi vào tay các tập đoàn nước ngoài. Bên cạnh đó, hàng hoá xuất nhập khẩu phục vụ khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng khá, và các công ty này thường sử dụng công ty giao nhận của nước họ. Các công ty Nhật sử dụng Yusen Logistic, Nippon Express… Các công ty Đức trung thành với Kuehne Nagel, Schenker… 18

19. Thiếu nguồn nhân lực được đào tạo chuyên nghiệp, có kinh nghiệm và hiểu biết luật pháp quốc tế. Ngoài luật pháp Việt Nam, các công ty logistics nhất thiết phải am hiểu sâu sắc và vận dụng hiệu quả luật pháp, tập quán thương mại quốc tế Hệ thống pháp luật của Việt Nam đang được điều chỉnh để ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường và phù hợp với cam kết trong gia nhập WTO. Tuy nhiên vẫn có sự chưa thống nhất giữa các văn bản pháp luật. Các văn bản quản lý về hoạt động logistics vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ. Dịch vụ logistics được quản lý bởi nhiều bộ ngành khác nhau; không có luật riêng về kinh doanh dịch vụ logistics mà chỉ điều chỉnh chung bởi Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định 140/2007/NĐ-CP. Hiện vẫn chưa có cơ quan nhà nước làm đầu mối quản lý phát triển và quy hoạch lĩnh vực logistics. Chính vì thế các DN Việt Nam bị hạn chế phát triển các dịch vụ logistics trên cả thị trường trong nước và quốc tế. 2.5. Doanh nghiệp Logistics Việt Nam làm thuê trên sân nhà Thực tế, trên thị trường trong nước, hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics hầu hết do các DN nước ngoài nắm giữ, DNVN chỉ chiếm phần nhỏ và khả năng cạnh tranh cũng còn yếu. Tầm quan trọng và cơ hội phát triển dịch vụ logistics ở Việt Nam đã được khẳng định. Tuy nhiên, điều đáng nói là nguồn lợi lớn từ dịch vụ này hiện không nằm trong tay các DN Việt Nam mà đang chảy về túi các đại gia nước ngoài. Một nguồn lợi lớn trên sân nhà chưa được các DN Việt Nam tận dụng mà họ đang là những người làm thuê cho các tập đoàn nước ngoài. Các DN Việt Nam mới chỉ có một phần rất nhỏ trong miếng bánh khổng lồ và đang ngày càng phình to của thị trường dịch vụ logistics. Theo tính toán mới nhất của Cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vực quan trọng nhất trong logistics là vận tải biển thì DN trong nước mới chỉ đáp ứng chuyên chở được 18% tổng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, phần còn lại đang bị chi phối bởi các DN nước ngoài. Điều này thực sự là một thua thiệt lớn cho DN Việt Nam khi có đến 90% hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển. Năm 2006 lượng hàng qua các cảng biển Việt Nam là 153 triệu tấn và tốc độ tăng trưởng lên đến 19,4%. Đây thực sự một thị trường mơ ước mà các tập đoàn nước ngoài đang thèm muốn và tập trung khai phá. 19

20. Các doanh nghiệp trong nước mới chủ làm thuê một vài công đoạn trong cả chuỗi dịch vụ mà các doanh nghiệp nước ngoài giành được ngay trên thị trường Việt Nam. Tuy nhiên điều đáng nói, trong khi các doanh nghiệp trong nước còn non yếu, chưa có sự liên minh, liên kết thì lại xuất hiện liểu kinh doanh manh mún, cạnh tranh theo kiểu hạ giá thành để làm đại lý cho nước ngoài một cách không lành mạnh. Trong khi đó, các hang cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài đã đổ xô vào thị trường trong nước, hầu hết các tên tuổi lớn đã có mặt và phát triển mạnh trên thị trường Việt Nam, gây sức ép lớn cho các doanh nghiệp trong nước. Hầu hết các DN cung cấp dịch vụ logistics trong vận tải biển ở Việt Nam mới chỉ đóng vai trò là một nhà cung cấp dịch vụ vệ tinh cho các đối tác nước ngoài. Chưa có một DN nào của Việt Nam đủ sức để tổ chức và điều hành toàn bộ quy trình hoạt động logistics. Hiện nay, các DN Việt Nam có một điểm yếu là không kết nối được với mạng lưới toàn cầu và DN chúng ta chỉ hoạt động như những nhà cung cấp dịch vụ cấp 2; thậm chí là cấp 3, cấp 4 cho các đối tác nước ngoài có mạng điều hành dịch vụ toàn cầu. Gia nhập WTO, áp lực với cạnh tranh trong nghành logistics của Việt Nam ngày càng cao hơn. Theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam sẽ cho phép công ty du lịch hàng hải, logistics 100% vốn nước ngoài hoạt động bình đẳng tại Việt Nam. Điều này đã đặt doanh nghiệp Việt Nam trước thách thức cạnh tranh gay gắt trên sân nhà. Với tầm quan trọng và nguồn lợi từ logistics, việc phát triển đòi hỏi một chiến lược quốc gia với những cơ chế chính sách pháp lý phù hợp để tạo điều kiện và thu hút sự đầu tư phát triển cho logictics tại Việt Nam. 2.6. Giá cả các dịch vụ logistics Việt Nam rẻ Giá cả dịch vụ Logistics tại Việt Nam so với một số nước trong khu vực là tương đối rẻ song chất lượng dịch vụ chưa cao, chưa bền vững, không chắc chắn và thiếu độ tin cậy, thêm vào đó sự kém phát triển của các doanh nghiệp địa phương làm cho ngành khó chiếm lĩnh được thị trường. Theo đánh giá của VIFFAS trình độ công nghệ của Logistics tại Việt Nam còn yếu kếm so vơi thế giới và các nước trong khu vực. Cụ thể là trong công nghệ vận tải đa phương thức vẫn chưa kết hợp được một cách hiệu quả các phương tiện vận chuyển, chưa tổ chức tốt các điểm chuyển tải, trình độ cơ giới hoá trong bốc xếp còn kém, trình độ lao động thấp, cư sở hạ tầng thiếu và yếu, công nghệ thông tin lạc hậu xa so với yêu cầu của 20

21. logistics. Các doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ yếu song tính liên kết để tạo ra sức mạnh cạnh tranh lại còn rất kém. Nhận thức của các doanh nhân hoạt động trong lĩnh vực này thường dừng ở mức kinh nghiệm bản thân , hiểu biết về luật pháp quốc tế, tài chính , chuyên nghành còn thấp dẫn đến tỷ lệ bị phạt hợp đồng còn cao , lãng phí trong tài chính và hoạt động khai thác. Điều đáng nói, trong khi doanh nghiệp trong nước còn non yếu, chưa có sự liên minh, liên kết thì lại xuất hiện kiểu kinh doanh chụp giựt, manh mún, cạnh tranh theo kiểu hạ giá thành để làm đại lý cho nước ngoài một cách không lành mạnh. Trong khi đó, các hãng cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài đã đổ xô vào thị trường chúng ta, hầu hết các tên tuổi lớn đã có mặt và ăn nên làm ra rên thị trường Việt Nam, gây sức ép lớn cho chính các doanh nghiệp trong nước. 2.7. Kinh doanh manh mún, chộp giật Xét về mức độ phát triển có thể chia các công ty giao nhận VN thành 4 cấp độ sau: – Cấp độ 1: Các đại lư giao nhận truyền thống – các đại lư giao nhận chỉ thuần tuư cung cấp các dịch vụ do khách hàng yêu cầu. Thông thường các dịch vụ đó là: vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ, thay mặt chủ hàng làm thủ tục hải quan, làm các chứng từ, lưu kho băi, giao nhận. Ở cấp độ này gần 80% các công ty giao nhận VN phải thuê lại kho và dịch vụ vận tải. – Cấp độ 2: Các đại lư giao nhận đóng vai t người gom hàng và cấpṛ vận đơn nhà (House bill of lading). Nguyên tắc hoạt động của những người này là phải có đại lư độc quyền tại các cảng lớn để thực hiện việc đóng hàng/rút hàng xuất nhập khẩu. Hiện nay, khoảng 10% các tổ chức giao nhận VN có khả năng cung cấp dịch vụ gom hàng tại CFS của chính họ hoặc do họ thuê của nhà thầu. Những người này sử dụng vận đơn nhà như những vận đơn của hăng tàu nhưng chỉ có một số mua bảo hiểm trách nhiệm giao nhận vận tải. – Cấp độ 3: Đại lư giao nhận đóng vai t là nhà vận tải đa phương thứcṛ (Multimodal Transport Organizations – MTO). Trong vai t này, một số côngṛ ty đă phối hợp với công ty nước ngoài tại các cảng dỡ hàng bằng một hợp đồng phụ để tự động thu xếp vận tải hàng hoá tới điểm cuối cùng theo vận đơn. Tính đến nay, đă có hơn 50% các đại lư giao nhận ở VN hoạt động như đại lư MTO nối với mạng lưới đại lư ở khắp các nước trên thế giới. 21

22. – Cấp độ 4: Đại lư giao nhận trở thành nhà cung cấp dịch vụ Logistics. Đây là kết quả tất yếu của quá tŕnh hội nhập. Một số tập đoàn Logistics lớn trên thế giới đă có văn p ng đại diện tại VN và thời gian qua đă hoạt độngḥ rất hiệu quả trong lĩnh vực Logistics như: Kuehne & Nagel, Schenker, Bikart, Ikea, APL, TNT, NYK, Maersk Logistics … Đă có những liên doanh hoạt động trong lĩnh vực này, như: First Logistics Development Company (FLDC – công ty liên doanh phát triển tiếp vận số 1). Chỉ trong ng hai năm trở lại đây, số lượng doanh nghiệp đăng kưṿ hoạt động Logistics ngày càng tăng, hàng loạt các công ty giao nhận đă đổi tên thành công ty dịch vụ Logistics. Hiện Việt Nam có khoảng hơn 1.000 doanh nghiệp logistics, nhưng đáng tiếc là số lượng không song hành với chất lượng. Doanh nghiệp Nhà nước chiếm khoảng 20%, Công ty Trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp cổ phần chiếm 70%, còn 10% là các gia đình, tư nhân làm nhỏ lẻ, tham gia làm từng phần, từng công đoạn… Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics của VN phần lớn là các công ty TNHH nhỏ và vừa, có những công ty rất nhỏ, vốn đăng kư chỉ vài trăm triệu đồng, hoạt động chia cắt, tản mạn, manh mún, trang thiết bị lạc hậu và nhân lực thì đa số chỉ có 10 – 20 người/công ty. Chỉ có một vài công ty nhà nước là tương đối lớn như: Vietrans, Viconship, Vinatrans …nhưng cũng chưa có năng lực đủ mạnh để tham gia vào hoạt động Logistics toàn cầu. Một số ít doanh nghiệp lớn cũng mới chỉ đạt đến mức độ đơn vị cung cấp dịch vụ logistics thứ 3, tức cung cấp dịch vụ làm cầu nối giữa nhà cung cấp và người sử dụng. Nói cách khác, chúng ta còn thiếu những nhà cung cấp dịch vụ logistics trọn gói “Door to Door” (dịch vụ logistics thứ 4 – thứ bậc cao nhất) cho hàng hóa xuất nhập khẩu. Phần lớn trong số đó chỉ đảm trách một hoặc vài mảng dịch vụ riêng lẻ, chưa thể vươn tới chuỗi liên kết các dịch vụ logistic, nhằm đảm bảo thông tin hàng hóa từ điểm đầu đến điểm cuối, hay còn gọi là dịch vụ 3PL (dịch vụ logistics bên thứ 3 – third party logistics). Hoạt động logistics chuyên nghiệp đòi hỏi phải tích hợp được hàng loạt các dịch vụ vận tải giao nhận thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu thành một chuỗi liên tục để đảm bảo hàng hóa được vận chuyển trọn gói từ nhà sản xuất – vận tải – người tiêu dùng. Nhưng nghiệp vụ chủ yếu của các công ty trong nước chỉ là mua bán cước đường biển, hàng không, khai thuê hải quan, dịch vụ xe tải. Không nhiều công ty đủ năng lực đảm nhận toàn bộ chuỗi cung ứng bao gồm vận chuyển đường bộ, kho bãi, đóng gói, thuê tàu… sức cạnh tranh, năng lực tham gia dịch vụ logistics còn rất hạn chế vì các doanh nghiệp chủ yếu quy mô nhỏ, kinh doanh logistics phân tán, nên chưa kết nối được một cách đầy đủ giữa thị trường trong nước với các thương cảng lớn 22

23. trên thế giới và các quốc gia mà Việt Nam có quan hệ xuất khẩu lớn về thương mại, vì vậy hoạt động logistics của chúng ta mới giới hạn ở thị trường nội địa. Một vấn đề nữa trong hoạt động logistics, đó là chưa có sự liên minh, liên kết giữa các DN trong ngành. Nguồn nhân lực cung cấp cho các DN trong ngành đang trở nên thiếu hụt trầm trọng, yếu về áp dụng công nghệ thông tin, trình độ quản lý. Các DN trong nước chưa đủ tầm để vươn ra thị trường khu vực và thế giới, chưa có hệ thống đại lý ở nước ngoài nên thường gặp khó khăn khi khách hang cần dịch vụ tích hợp từ đường biển, hàng không cho tới đường bộ ở nước ngoài. Trước thực trạng trên, nhiều chuyên gia cho rằng, hoạt động cung cấp dịch vụ logistics của Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển “nóng”, trong khi quy mô hoạt động còn rất nhỏ bé, manh mún, chụp giựt, sẵn sàng phá giá để lôi kéo khách hàng. Đây chính là tiền lệ xấu, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài “nhảy” vào khai thác, đe dọa sự phát triển ngành công nghiệp logistics non trẻ của Việt Nam. 3. Cơ hội và tiền năng phát triển cho ngành logistics tại Việt Nam – Việt Nam được đánh giá là quốc gia có điều kiện tư nhiên và vị trí địa lý vô cùng thuận lợi để phát triển ngành logistics với trên 17.000 km đường nhựa, hơn 3.200 km đường sắt quốc gia, 42.000 km đường thuỷ, 49 bến cảng với 217 cầu cảng, 266 cảng biển, 26 sân bay, với 8 sân bay có đường băng dài 3.000m có khả năng đón nhận các máy bay lớn và hàng trăm cửa khẩu quốc tế, quốc gia lớn nhỏ nằm dọc theo chiều dài đất nước. – Việt Nam cũng là nước có gần 90 triệu dân và có tốc độ phát triể nhanh. Đây sẽ là thị trường lớn để cho các công ty kho vận có thể khai thác và phục vụ khách hàng. Ngoài ra, Việt Nam có bờ biên giới dài có thể phát triển vận chuyển xuyên biên giới, đường bờ biển dài có thể phát triển vận chuyển đường biển và một ngành hàng không cũng đang phát triển không ngừng. Đây là những yếu tố để Việt Nam có thể phát huy thế mạnh của mình trong ngành logistics. – Việt Nam khi gia nhập WTO là cơ hội để phát triển logistics của biểu hiện qua 5 nội dung sau: + Thứ nhất, chính sách hội nhập, VN đang đẩy nhanh tiến trình hội 23

24. nhập kinh tế thông qua những cải cách về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính, xây dựng hệ thống pháp luật kinh tế và tài chính phù hợp với thông lệ quốc tế. Việc trở thành thành viên chính thức của WTO sẽ đưa VN thành một quốc gia mở cửa về thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư. + Thứ hai, lợi thế về khu vực, VN có vị trí địa lý rất thuận lợi cho vận tải quốc tế, nằm ở khu vực chiến lược trong vùng Đông Nam Á. Bờ biển trải dài trên 2.000 km, có nhiều cảng nước sâu, các sân bay quốc tế, hệ thống đường sắt xuyên quốc gia và mạng lưới giao thông là tiền đề khả quan để phát triển logistics. + Thư ba, vốn đầu tư nước ngoài, cụ thể là nguốn vốn ODA nhằm phát triển cơ sở hạ tầng và các nguồn vốn từ các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ cho VN ngày càng tăng. + Thứ tư, lĩnh vực dịch vụ đang được quan tâm phát triển, hoạt động logistics đã bắt đầu thu hút sự chú ý của các cấp quản lý Nhà nước cũng như của các DN trong và ngoài nước. + Cuối cùng, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, biểu hiện rõ nhất là từ tháng 7- 2005 chúng ta đã bắt đầu thực hiện thông quan điện tử thí điểm ở một số địa phương, sẽ áp dụng trên toàn quốc. Đây chính là một trong những điều kiện tiên quyết để ngành công nghiệp logistics VN phát triển, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.” – Hiện nay, Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển rất mạnh ngành logistics. Độ phục hồi kinh tế cộng hưởng với việc hệ thống cơ sở hạ tầng ngày càng phát triển và hoàn thiện, nền kinh tế Việt Nam đã phục hồi nhanh chóng sau khủng hoảng. Đây sẽ là nền tảng tốt để nền công nghiệp logistisc Việt Nam phát triển trong tương lai. + Đầu tháng 1/2010, Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch chi tiết đường bộ cao tốc Bắc Nam phía đông, nối từ Hà Nội đến Cần Thơ (khoảng 1.811 km) để nâng cao năng lực vận tải Bắc-Nam, bổ sung cho tuyến quốc lộ 1A và 1B hiện tại. Theo lộ trình cam kết WTO về mở cửa thị trườnglogistics, Việt Nam sẽ dần mở rộng cửa để các doanh nghiệp quốc tế tham gia, gồm: dịch vụ xếp dỡ container, dịch vụ thông quan, dịch vụ kho bãi, dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa, các dịch vụ thực hiện thay cho chủ hàng… + Đến 11/1/2014, kể từ năm 2014, các doanh nghiệp nước ngoài trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam sẽ được phép mở công ty 100% vốn nước ngoài theo cam kết gia nhập WTO. Lúc đó thị trường sẽ đông đúc và phát triển hơn. Hiện nay, ngày càng nhiều doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực đã có mặt tại thị trường trong nước và đang đầu tư, mở rộng hoạt động (như 24

25. Schenker liên doanh với Gemadept, Lotte Sea, liên doanh YCH-Protrade DistriPark có mặt tại thị trường Việt Nam từ 2009, gia nhập sân chơi của các nhà cung cấp tên tuổi như Mearsk, APL, Diethelm, Mappletree…). + Đến năm 2015, Việt Nam sẽ nâng gấp đôi năng lực xếp dỡ hàng hóa so với hiện tại (khoảng 250 triệu tấn/năm) (theo quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển cảng biển Việt Nam ngày 24/12/2009). – Thời gian gần đây Việt Nam đang nỗ lực phát triển dich vụ logistics theo hướng 3PL và bước đầu đã gặt hái được những thành công rất đáng khích lệ. Những người làm dịch vụ 3PL trong nước am hiểu từng con đường, từng cây cầu, từng điều khoản luật lệ tại Việt Nam, và đã thành công như Vietranstimex, Vinatrans, Sotrans, Vietfracht, Gemadept, Tranaco… Đặc biệt mới đây (1/2010) Công ty SplendID Technology đã đưa công nghệ quản lý tiên tiến RFID (Radio Frequency identification) vào Việt Nam, chính thức đưa Việt Nam vào danh sách các nước đang triển khai công nghệ RFID. Tương tự, Công ty Tân cảng Sài Gòn cũng đã áp dụng hệ thống phần mềm quản lý container tại cảng Cát Lái làm giảm được nhiều thời gian chờ đợi, lấy hàng khỏi cảng, góp phần vào việc giải tỏa tắc nghẽn tại cảng này. – Theo dự báo, trong tương lai không xa, dịch vụ giao nhận kho vận (logistics) sẽ trở thành một ngành kinh tế quan trọng tại Việt Nam, đóng góp tới 15% GDP cả nước. Đặc biệt, trong 10 năm tới, khi kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam có thể đạt mức 200 tỉ USD/năm thì nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics lại càng lớn. Dự báo, đến năm 2020, hàng container qua cảng biển Việt Nam chắc chắn sẽ lên đến 7,7 triệu TEU. – Song hành cùng sự phát triển kinh tế là tăng trưởng trong hoạt động xuất nhập khẩu, do đó, ngành logistics lại thêm nhiều cơ hội phát triển. Theo dự báo của Bộ Thương Mại, trong 10 năm tới kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước sẽ đạt tới 200 tỷ USD. Điều đó cho thấy tiềm năng phát triển dịch vụ logistics Việt Nam còn khá lớn. – Tổng khối lượng hàng qua các cảng biển VN hiện nay vào khoảng 140 triệu tấn/năm (năm 2006: 153 triệu tấn), tốc độ tăng trưởng hàng năm trong vòng 10 năm tới theo dự đoán là 20 – 25%. Hiện chính phủ VN và các nhà đầu tư quốc tế đang triển khai một loạt dự án xây dựng các cụm cảng nước sâu như ở khu vực Cái Mép – Thị Vải ở phía Nam cũng như Hải Phòng 25

28. Trung ương Đảng về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã đề ra – Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam (VIFFAS) cần năng động hơn VIFFAS cần năng động hơn trong việc quản lý bảo vệ quyền lợi hội viên, đặc biệt là trong việc đào tạo, gắn kết, thông tin, điều phối, hướng dẫn các thành viên tiếp cận và xâm nhập các thị trường nước ngoài. Cải tiến quy trình thủ tục hải quan – xuất nhập khẩu. – Tăng cường tổ chức tuyên truyền VIFFAS nên tổ chức xuất bản một tờ tạp chí riêng (như tờ Việt Nam Logistics chẳng hạn) cho mình để làm diễn đàn cho các hội viên tham gia đóng góp ý kiến về các vấn đề thuộc về ngành nghề của mình, có tiếng nói với chính phủ, các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách cũng như xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành logisticsViệt Nam. Các chương trình đào tạo sẽ được thông báo rộng rãi đến các hội viên để tích cực tham gia và tổ chức đào tạo. VIFFAS sẽ cung cấp các sách báo, tài liệu nghiệp vụ cho các hội viên để tham khảo. 2. Vể phía doanh nghiệp – Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Các Doanh nghiệp cần đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo, đào tạo lại, nâng cao năng lực của nhân viên và thu hút nhân tài từ xã hội để phát triển nguồn nhân lực, tăng chất lượng làm việc nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ logistics. Các Doanh nghiệp logistics phải chủ động tổ chức đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho chính doanhnghiệp mình. LogisticsViệt Nam vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chất lượng. Việc tổ chức đàotạo và phát triển nguồn nhân lực logistics cần theo hướng xây dựng mô hình liên kết đào tạo đi đôi với thực tế. Trước hết, chúng ta cần tập trung nâng cao kiến thức về luật pháp trong nước và quốc tế trong lĩnh vực vận tải đa phương thức, các hoạt động chính của logistics và kỹ năng vận hành dịch vụ này. Song song là đào tạo nâng cao trình độ tiếng Anh, đáp ứng được việc giao dịch, lập thủ tục và chứng từ nghiệp vụ. Việc đào tạo được tiến hành ở ba cấp độ: cán bộ hoạch 28

30. Có công nghệ thông tin hiện đại, người kinhdoanh logistics mới nắm chắc hành trình của hàng hóa, nguyên phụ liệu ra – vào để kịp thời thông báo cho người sản xuất, phân phối, người xuất nhập khẩu. Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào kinh doanh dịch vụ logistics trong ngành Hàng hải đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ. Hiện nay, có nhiều giải pháp đầu tư công nghệ thông tin hiệu quả với chi phí thấp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần nắm bắt cơ hội này để trang bị cho mình. Phải thừa nhận là ý thức về vai trò của công nghệ thông tin trong dịch vụ logistics của chúng ta đã có, nhưng chưa đủ để biến thành hành động thực tế. Một phần xuất phát từ năng lực, trìnhđộ và tầm nhìn của nhà quản lý nhưng phía bên kia chính là tâm lý ngại rủi ro lớn. Bởi đầu tư cho công nghệ thông tin không phải là chuyện ngày một ngày hai mà nó là quá trình đôi khi rủi ro cao bởi vốn đầu tư dành cho nó,nhưng có lẽ rủi ro lớn chính là chúng ta không tận dụng hết nó. – Nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng cho khách hàng Đầu tư nâng cấp các phương tiện vận chuyển (tàu, ô tô, ..)bao gồm cả các phương tiện (công cụ) mang hàng như container, pallet,…, thiết bịxếp dỡ, năng lực của các thiết bị tạo ra năng lực thông qua của các đầu mối (cảng, nhà ga, sân bay,..) Chọn được những lộ trình hợp lý nhất để tiết kiệm được thời gian, chi phí.Giảm chi phí logistics ở Việt nam (can thiệp vào các điểm hạn chế (bottleneck) của chuỗi cung ứng như năng suất của các cảng, kho bãi và điểm trung chuyển; quy hoạch vận tải đa phương thức thúc đẩy pháttriển nhanh hơn các phương thức vận tải hàng hóa có chi phí thấp; xác định các cơ hội cải tạo các sản phẩm xuất khẩu cụ thể) – Mở rộng, đa dạng hoá dịch vụ logistics Như : Dịch vụ 3PL – 4PL, Dịch vụ giá trị gia tăng(Phân loại, đóng thùng, dán nhãn, đóng bộ sản phẩm, gom hàng chuyên tuyến, quét và in mã 30

32. – Liên doanh, liên kết với các công ty logistics nước ngoài Với tiềm lực nhỏ, doanh nghiệp trong nước cần tham gia vào những liên kết để phát huy lợi thế riêng trong cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài. Theo đó, một công ty giao nhận có thể gắn kết cùng tổ chức kho bãi, vận tải, môi giới hoặc dịch vụ khác để hình thành chuỗi liên kết của một ngành hàng. Các đơn vị trong cùng ngành hàng cũng cần tính đến khả năng sáp nhập để trở thành đơn vị cung ứng lớn gồm nhiều tổ chức để đủ năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp ngoài nước.Mặt khác, có thể liên doanh, liên kết với các tổ chức logistics nước ngoài hướng vào tiếp nhận công nghệ chuyển giao, tích lũy năng lực, vốn và kinh nghiệm để có thể hoạt động độc lập sau này. – Sử dụng tốt vốn đầu tư nước ngoài Chọn lọc vốn đầu tư nước ngoài tập trung vào các vùng trọng điểm khơi luồng vận chuyển trong và ngoài nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc đẩy mạnh công nghiệp logistics. 32

33. KẾT LUẬN Tại Việt Nam, logistics là một ngành còn mới mẻ và nhiều tiềm năng. nó đem lại nguồn lợi khổng lồ cho nền kinh tế quốc gia. Việt Nam là một nước có điều kiện thuân lợi để logistics phát triển hơn nữa nhưng thực trạng logistics ở Việt Nam còn rất nhiều hạn chế và khó khăn Chính vì vậy, nhà nước cũng như các doanh nghiệp logistics Việt Nam cần có những giải pháp kịp thời, nhanh chóng để hạn chế những tồn tại, và khó khăn đấy giúp cho dịch vụ logistics phát triển, đem lại nhiều hơn nữa những nguồn lợi cho đất nước./. 33

Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Logistics Cực Hot

, DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Các bạn sinh viên vào tải mẫu chuyên đề tốt nghiệp chuyên ngành Tài chính ngân hàng Chuyên đề Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ Logistics cực hot

1. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco MỤC LỤC MỤC LỤC……………………………………………………………………………………………1 LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………………….4 NỘI DUNG………………………………………………………………………………………….6 I. Khái ni m, c i m và phân lo i ho t ng logisticsệ đặ đ ể ạ ạ độ …………….6 Khái ni m logisticsệ ………………………………………………………………6 Đ c đi m c a logisticsặ ể ủ …………………………………………………………8 2.1.Logistics có thể coi là tổng hợp của các hoạt động của doanh nghiệp trên các khía cạnh chính , đó là logistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống……………………………………………..8 2.2.Logistics là một dịch vụ ………………………………………………………11 2.3.Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải và giao nhận………………………………………………………………………….11 2.4.Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức …………………………………………………………………………………12 2.5. Logistics có chức năng hỗ trợ các hoạt động của doanh nghiệp .13 Phân lo i h th ng logisticsạ ệ ố ………………………………………………..14 3.1.Phân loại theo các hình thức logistics…………………………………….14 3.2.Phân loại theo lĩnh vực hoạt động của logistics……………………….15 Bảng 1.1: Chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống logistics………………………………………………………..16 3.3.Phân loại theo quá trình ……………………………………………………….16 II. Vai trò c a logisticsủ …………………………………………………………17 Logistics là công c liên k t các ho t đ ng kinh t qu c t nhụ ế ạ ộ ế ố ế ư cung c p, s n xu t, l u thông, phân ph i và m r ng th tr ngấ ả ấ ư ố ở ộ ị ườ cho các ho t đ ng kinh tạ ộ ế……………………………………………………17 Logistics đóng vai trò h tr nhà qu n lý ra quy t đ nh chính xácỗ ợ ả ế ị trong ho t đ ng s n xu t kinh doanh.ạ ộ ả ấ ……………………………………18 2.1.Logistics đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi và hoàn thiện dịch vụ vận tải giao nhận, đảm bảo yếu tố đúng thời gian- địa điểm (Just in time-JIT)……………………………………………………….19 2.2.Logistics cho phép các nhà kinh doanh vận tải giao nhận cung cấp các dịch vụ đa dạng, phong phú hơn ngoài dịch vụ giao nhận vận tải đơn thuần. ……………………………………………………………………20 2.3 Dịch vụ Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý…………….20 III. N i dung c a ho t ng logisticsộ ủ ạ độ ………………………………………21 Mua s m nguyên v t li uắ ậ ệ …………………………………………………….21 D ch v khách hàngị ụ ……………………………………………………………21 Qu n lý ho t đ ng d trả ạ ộ ự ữ…………………………………………………….23 Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 1

2. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco D ch v v n t iị ụ ậ ả …………………………………………………………………..24 Ho t đ ng kho bãiạ ộ ………………………………………………………………27 IV. Ch t l ng d ch v logictics và các tiêu chí ánh giá ch t l ngấ ượ ị ụ đ ấ ượ d ch v logicticsị ụ …………………………………………………………………..29 Ch t l ng d ch v logisticsấ ượ ị ụ …………………………………………………29 2.1 Thời gian giao nhận hàng…………………………………………….31 2.2 Độ an toàn của hàng hoá…………………………………………………32 2.3 Chi phí vận chuyển…………………………………………………………..32 2.4 Cách thức phục vụ…………………………………………………………33 2.5 Chất lượng kho bãi………………………………………………………….33 I. Gi i thi u chung v Công ty c ph n Vinafcoớ ệ ề ổ ầ ……………………….35 L ch s hình thành Công ty c ph n VINAFCOị ử ổ ầ ………………………35 Gi i thi u v công tyớ ệ ề ………………………………………………………….36 Công ty TNHH Ti p v n VINAFCOế ậ ……………………………………….40 II. Các d ch v logistics hi n cóị ụ ệ ……………………………………………..42 Cho thuê kho, b c x p, vân t i và phân ph i hàng hóa t kho đ nố ế ả ố ừ ế đ i lý, khách hàngạ ……………………………………………………………..42 1.1. Cho thuê kho, bốc xếp, vận tải và phân phối hàng hoá từ kho đến các đại lý , khách hàng……………………………………………………….42 1.2.Thực hiện sắp xếp hàng hoá theo sơ đồ bố trí (W/h layout) và tư vấn thiết kế giá kệ và lắp đặt hệ thống chiếu sáng kho hàng……43 1.3.Quản lý kho hàng bằng phần mềm…………………………………………43 D ch v phân ph i hàng hoáị ụ ố ………………………………………………..44 Cung ng v t t ,nguyên nhiên li u.ứ ậ ư ệ …………………………………….48 III. Tình hình kinh doanh d ch v logistics c a VINAFCO trongị ụ ủ nh ng n m g n âyữ ă ầ đ …………………………………………………………….49 C c u doanh thu (thu n) và l i nhu n c a các đ n v thành viênơ ấ ầ ợ ậ ủ ơ ị c a VINAFCOủ ……………………………………………………………………49 Tình hình th c hi n k ho ch s n xu t-kinh doanh c a công tyự ệ ế ạ ả ấ ủ Ti p v n VINAFCO trong 8 tháng đ u năm 2007ế ậ ầ …………………..51 IV ánh giá ch t l ng d ch v logistics t i công ty c ph nĐ ấ ượ ị ụ ạ ổ ầ VINAFCO……………………………………………………………………………52 1. Đánh giá theo tiêu ch n v ch t l ng d ch v logisticsẩ ề ấ ượ ị ụ ………53 1.1 Theo tiêu chuẩn về thời gian…………………………………………………53 1.2 Theo tiêu chuẩn về độ an toàn của hàng hoá……………………………56 1.3 Giá thành sản phẩm…………………………………………………………….58 1.4 Cách thức phục vụ………………………………………………………………59 1.5 Chất lượng kho bãi………………………………………………………………61 2.Đánh giá theo u di m nh c đi m c a công tyư ể ượ ể ủ ………………….61 2.1 Ưu điểm……………………………………………………………………………..61 Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 2

3. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco 2.2 Nhược điểm dịch vụ logistics của VINAFCO ……………………….66 Hoạt động xúc tiến bán hàng và chăm sóc khách hàng ………………….78 Hoạt động phát triển dịch vụ mới (Research & Developing – R&D).78 CHƯƠNG 3:GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VINAFCO…………………………………..80 chúng tôi i pháp ch y u phát tri n d ch v logistics t i Công ty c ph nả ủ ế ể ị ụ ạ ổ ầ VINAFCO …………………………………………………………………………..80 1. Nâng cao ch t l ng các d ch v hi n có và cung c p thêm cácấ ượ ị ụ ệ ấ d ch v m iị ụ ớ ………………………………………………………………………..80 1.1Dịch vụ vận tải ,giao nhận và phân phối hàng hóa……………………80 1.2.Dịch vụ kho bãi ………………………………………………………………….85 1.3.Hướng phát triển các dịch vụ khác ………………………………………..87 2. Đào t o ngu n nhân l c chuyên nghi p .ạ ồ ự ệ …………………………..88 3. Tăng c ng ho t đ ng marketingườ ạ ộ …………………………………….89 4. ng d ng công ngh thông tin trong ho t đ ng logisticsỨ ụ ệ ạ ộ ……..91 2.1 Hệ thống chia sẻ và trao đổi dữ liệu điện tử – EDI (hệ thống Electronic Data Interchange)……………………………………………….92 2.2Điểm bán hàng – POS ( Point of sale) ……………………………………93 Hệ quản trị doanh nghiệp tích hợp – ERP (Enterprise Resources Planning)………………………………………………………………………….94 5. M r ng h th ng đ i lý và chi nhánh t i th tr ng trong vàở ộ ệ ố ạ ạ ị ườ ngoài n c .ướ ………………………………………………………………………95 6. Liên k t v i doanh nghi p cùng ngành trong và ngoài n cế ớ ệ ở ướ ………………………………………………………………………………………..96 II.M t s ki n ngh i v i Nhà n c nh m y m nh ho t ngộ ố ế ị đố ớ ướ ằ đẩ ạ ạ độ logistics ……………………………………………………………………………..97 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………103 Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 3

4. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco LỜI MỞ ĐẦU Vận tải giao nhận là yếu tố không thể tách rời với buôn bán quốc tế. Kinh doanh ngày càng phong phú với nhiều thành phần, nhiều dịch vụ được cung cấp, đáp ứng nhu cầu đặt ra trong vận chuyển của xã hội , đặc biệt là hàng hóa xuất nhập khẩu. Song thực tế cho thấy hoạt động giao nhận vận tải ở Việt Nam còn nhiều bất cập mà nổi trội hơn cả chính là chất lượng của hoạt động. Phát triển đa dạng, phong phú dịch vụ cung cấp nhưng hiệu quả không cao do nguyên nhân chủ yếu chính là phương thức kinh doanh chưa thích hợp dẫn đến chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Vì vậy, thực tiễn đòi hỏi cần có phương thức kinh doanh mới tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, tiết kiệm chi phí.Dịch vụ vận tải giao nhận rất đa dạng và Logistics chính là phương thức kinh doanh tiên tiến cần được nghiên cứu để áp dụng và phát triển trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận ở Việt Nam. Công ty cổ phần Vinafco là một trong những công ty đi đầu trong ngành vận dịch vụ vận tải giao nhận ở Việt Nam những năm qua. Có thể nói đây là một trong những công ty có chất lượng dịch vụ tốt nhất tuy nhiên vẫn còn những hạn chế cần khắc phục. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của thị trường , từ chất lượng dịch vụ logistics những năm qua,cũng như hoạt động của công ty Vinafco em xin chọn đề tài ” Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ Logistics tại Công ty cổ phần Vinafco” làm đề tài chuyên đề thực tập của mình. Em hi vọng rằng những nghiên cứu của mình về dịch vụ logistics hiện có và những giải pháp phát triển dịch vụ này tại Vinafco sẽ giúp cho Công ty có được cái Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 4

5. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco nhìn khái quát và trở thành công ty đứng đầu về chất lượng trong ngành dịch vụ vận tải giao nhận. Quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài của em chắc chắn còn nhiều thiếu sót và khiếm khuyết. Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô để tôi hoàn thiện đề tài nghiên cứu của mình. Em xin chân thành cảm ơn chúng tôi Đoàn Thị Thu Hà đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp em hoàn thành bài chuyên đề thực tập này. Em cũng xin cảm ơn anh Vũ Trung Kiên – phó Tổng Giám đốc công ty VINAFCO cùng toàn thể cán bộ công nhân viên Ban Kế hoạch – Thị trường – Đầu tư và Ban Hành chính – Nhân sự đã tạo điều kiện cho việc thực tập của em tại công ty và cung cấp các số liệu cần thiết cho đề án của em. Sinh viên thực hiện Bùi Thị Doan Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 5

10. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Theo cách tiếp cận chuỗi logistics theo trục ngang thì logistics sinh tồn là nhân tố thứ nhất. Tại đó, toàn bộ thời gian được sử dụng cho một cuộc đấu tranh sinh tồn không có điểm kết. Trong điều kiện này, các cá nhân không sở hữu cả công cụ lẫn nhu cầu sản xuất ra thành phẩm để trao đổi với nhau. Cho nên tất cả mọi nỗ lực được sử dụng để nhằm đảm bảo sự tồn tại của các cá nhân. Trong điều kiện đó, logistics chỉ là sự tập trung các nguyên liệu cuộc sống như lương thực, thực phẩm, quần áo, nơi cư trú để cung cấp cho sự tiếp diễn của cuộc sống. Logistics sinh tồn hoạt động như là hoạt động độc lập, tuy nhiên điều này chỉ là tạm thời. Bởi vì khi các điều kiện phát triển thì dễ nhận thấy nhu cầu tăng cao hơn và phức tạp hơn.Nhu cầu này không còn đơn giản và dễ nhận biết như trước nữa mà đã có sự biến động .Như vậy, logistics hoạt động đã được hình thành. Logistics hoạt động không thể tồn tại độc lập mà phải trên nền tảng logistics sinh tồn. Mọi việc đều phát triển và tiến tới một trình độ cao hơn. Và quá trình chuyên môn hóa ngày càng sâu rộng hơn. Vậy là chuỗi logistics hệ thống là hệ quả của logistics sinh tồn và logistics hoạt động. Và nó không thể tồn tại độc lập với logistics sinh tồn và logistics hệ thống. + Chuỗi logistics theo trục dọc Ba khía cạnh logistics giờ đây được sắp xếp theo hình tháp, mỗi khía cạnh của logistics được các khía cạnh khác ở cấp độ cao hơn hỗ trợ. Logistics hệ thống Logistics hoạt động Logistics sinh tồn Hình 1.3 : Mô hình logistics tiếp cận theo trục dọc Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 10

12. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco đóng vai trò người được ủy thác trở thành một bên chính trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi của mình. Nếu như trước kia chỉ cần dăm ba xe tải, một vài kho chứa hàng…là có thể triển khai cung cấp dịch vụ vận tải giao nhận cho khách hàng thì ngày nay, do yêu cầu về dịch vụ cung cấp cho khách hàng ngày càng đa dạng, phong phú, người cung cấp dịch vụ phải tổ chức quản lý một hệ thống đồng bộ từ giao nhận đến vận tải, cung ứng nguyên liệu phục vụ sản xuất kinh doanh, bảo quản hàng hóa trong kho, phân phối hàng hóa đúng nơi, đúng lúc, sử dụng thông tin điện tử để theo dõi , kiểm tra… 2.4. Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức Trước đây, hàng hóa đi từ nước người bán sang nước người mua dưới nhiều hình thức hàng lẻ, phải qua tay nhiều người vận tải và nhiều phương thức vận tải khác nhau, vi vậy xác suất rủi ro mất mát đối với hàng hóa rất lớn và người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng với nhiều người vận tải khác nhau, trách nhiệm của mỗi người vận tải theo đó chỉ giới hạn trong chặng đường hay dịch vụ mà anh ta đảm nhiệm. Những năm 60-70 của thế kỷ XX, cách mạng container trong ngành vận tải đã đảm bảo an toàn và độ tin cậy trong vận chuyển hàng hóa, là tiền đề và cơ sở cho sự ra đời và phát triển vận tải đa phương thức. Vận tải đa phương thức ra đời, bây giờ người gửi hàng chỉ cần ký hợp đồng với một người, đó là người kinh doanh vận tải đa phương thức- Multimodal transport operator- MTO. MTO sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộ việc vận chuyển hàng hóa từ khi nhận hàng cho tới khi giao hàng bằng một chứng từ duy nhất (Chứng từ vận tải đa phương thức- Multimodal transport document) cho dù anh ta có thể không phải là người chuyên chở thực tế. Hợp đồng chuyên chở như vậy có thể do người kinh doanh vận tải đa Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 12

13. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco phương thức đảm nhận, nhưng chủ hàng vẫn cần một người lên kế hoạch cung ứng, mua hàng hóa, giám sát mọi sự di chuyển của hàng hóa để đảm bảo đúng loại hàng, đến đúng địa điểm và đúng thời gian, từ đó nâng cao hiệu quả trong kinh doanh. Dịch vụ logistics chính là sự phát triển sâu rộng của dịch vụ vận tải đa phương thức. Toàn bộ hoạt động vận tải có thể được thực hiện theo một hợp đồng vận tải đa phương thức do người tổ chức mọi dịch vụ logistics đảm nhiệm. Điểm giống nhau ở chỗ, trên cơ sở nhiều hợp đồng mua bán, người tổ chức dịch vụ logistics sẽ nhận hàng tại cơ sở của từng người bán, gom hàng thành nhiều đơn vị, gửi hàng tại kho hay nơi xếp dỡ hàng trước khi chúng được gửi đến nước người mua trên các phương tiện vận tải khác nhau. Tại nước người mua, người tổ chức dịch vụ logistics sẽ thu xếp tách các đơn vị gửi hàng và hình thành các chuyến hàng thích hợp để phân phối đi đến những địa điểm cuối cùng theo yêu cầu khách hàng. Tóm lại , logistics là sự phối hợp đồng bộ các hoạt động, là sự phát triển cao, hoàn thiện của dịch vụ giao nhận vận tải và là sự phát triển khéo léo của dịch vụ vận tải đa phương thức. Đây chính là những đặc điểm cơ bản của logistics. 2.5. Logistics có chức năng hỗ trợ các hoạt động của doanh nghiệp Logistics có chức năng hỗ trợ thể hiện ở chỗ nó tồn tại chỉ để cung cấp cho các bộ phận khác của doanh nghiệp. Logistics hỗ trợ quá trình sản xuất, hỗ trợ sản phẩm sau khi được di chuyển quyền sở hữu từ người sản xuất sang người tiêu dùng, Điều này không có nghĩa là quá trình sản xuất không bao gồm các yếu tố của logistics hệ thống hay hoạt động hỗ trợ sau khi chuyển quyền sở hữu sản phẩm không bao gồm các yếu tố của logistics hoạt động. Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 13

14. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Logistics còn hỗ trợ các hoạt động của doanh nghiệp, thể hiện : sản xuất được logistics hỗ trợ thông qua quản lý sự di chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu đi vào doanh nghiệp và bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp. Marketing được logistics hỗ trợ thông qua quản lý việc di chuyển và lưu trữ hàng thành phẩm. Logistics hỗ trợ sản xuất và marketing có thể sẽ dẫn đến yêu cầu phải đào tạo nhân lực , dự trữ phụ tùng thay thế hay bất kì một yếu tố nào khác của logistics. Phân loại hệ thống logistics 3.1. Phân loại theo các hình thức logistics Hiện nay, logistics đang tồn tại dưới các hình thức sau : Logistics bên thứ nhất ( First Party Logistisc): người chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân. Theo hình thức này, chủ hàng phải đầu tư các phương tiện vận tải, kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công để quản lý và vận hành hoạt động logistics. Logistics bên thứ nhất làm phình to qui mô của doanh nghiệp và thường làm giảm hiệu quả kinh doanh, vì doanh nghiệp không có đủ quy mô cần thiết, kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn để quản lý và vận hành hoạt động logistics. Logistics bên thứ hai ( Second Party Logistics): người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan, thanh toán…) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, chưa tích hợp hoạt động logistics. Loại hình này bao gồm : các hãng vận tải đường biển, đường bộ, đường sông, đường hàng không, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kho bãi, kê khai hải quan, trung gian thanh toán… Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 14

16. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Ngày nay, hệ thống Logistics càng có vị trí và vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất và đời sống, được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau và phát triển thành 3 nhóm riêng biệt: – Hệ thống Logistics trong quân sự; – Hệ thống Logistics trong sản xuất, kinh doanh, thương mại; – Hệ thống Logistics trong quản lý xã hội. Bảng 1.1: Chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống logistics Loại hình hệ thống logistics Mục tiêu Chủ thể Lĩnh vực hoạt động Chức năng đánh giá Hệ thống logistics quân sự Bảo vệ đất nước Quân đội Nhiệm vụ quốc phòng Lợi ích quốc gia Hệ thống logistics trong Sản xuất- Kinh doanh, Thương mại Hiệu quả Sản xuất-Kinh doanh, Thương mại Nhà kinh doanh, chủ hãng Sản xuất, kinh doanh Lợi nhuận Kinh doanh = Tối thiểu chi phí vận chuyển hàng + tối đa giá trị phụ thêm Hệ thống logistics trong quản lý xã hội Tối ưu XH Chính phủ, công dân Hoạt động XH Lợi ích XH (Nguồn : Phát triển dịch vụ logistics khi Việt Nam gia nhập WTO, Diễn đàn phát triển.) 3.3. Phân loại theo quá trình Logistics đầu vào (inbound logistics) là các hoạt động đảm bảo cung ứng nguyên vật liệu đầu vào ( nguyên liệu, thông tin, vốn…) một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí cho quá trình sản xuất. Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 16

17. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Logistics đầu ra (outbound logistics) là các hoạt động đảm bảo cung cấp thành phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. Logistics ngược (reserse logistics) là quá trình thu hồi các phụ phẩm, phế liệu, phế phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xử lý. II. Vai trò của logistics Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế quốc tế như cung cấp, sản xuất, lưu thông, phân phối và mở rộng thị trường cho các hoạt động kinh tế Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ công nghệ, đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, logistics được các nhà quản lý coi như là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược doanh nghiệp. Logistisc tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt động của doanh nghiệp. Thế giới ngày nay được nhìn nhận như các nền kinh tế liên kết, trong đó các doanh nghiệp mở rộng biên giới quốc gia, hoà nhập vào thị trường chung quốc tế. Logistics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ kiện… tới sản phẩm cuối cùng đến tay khách hàng sử dụng. Lưu thông phân phối hàng hoá, trao đổi giao lưu thương mại giữa các vùng trong nước với nhau và với nước ngoài là hoạt động thiết yếu của nền kinh tế quốc dân. Nếu những hoạt động này thông suốt, có hiệu quả, thì sẽ đẩy nhanh quá trình phát triển của sản phẩm nói riêng và ngành sản xuất nói Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 17

18. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco chung ; còn nếu những hoạt động này bị ngưng trệ thì hàng hoá đứng trên thị trường ít mà đứng trong kho bãi nhiều sẽ tác động xấu đến toàn bộ sản xuất và đời sống. Hệ thống Logistics góp phần vào việc giải quyết những vấn đề nảy sinh từ sự phân công lao động quốc tế, do quá trình toàn cầu hoá tạo ra. Các công ty xuyên quốc gia có các chi nhánh, các cơ sở sản xuất, cung ứng và dịch vụ đặt ở nhiều nơi, ở nhiều quốc gia khác nhau, do đó các công ty này đã áp dụng “hệ thống Logistics toàn cầu” để đảm bảo hoạt động SXKD đạt hiệu quả cao, khắc phục ảnh hưởng của các yếu tố cự ly, thời gian và chi phí sản xuất. Hệ thống Logistics góp phần vào việc phân bố các ngành sản xuất một cách hợp lý để đảm bảo sự cân đối và tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Mỗi một vùng địa lý có những đặc điểm về địa hình khác nhau, nguồn tài nguyên khoáng sản khác nhau và có phương thức lao động, tập quán khác nhau, do đó cần phải có sự phân bố, sắp xếp các ngành sản xuất, các khu công nghiệp, các trung tâm kinh tế sao cho phù hợp với những điều kiện riêng và tổng thể nhằm phát huy được các nguồn lực một cách hiệu quả nhất. Logistics đóng vai trò hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Mục đích sản xuất kinh doanh là lợi nhuận. Muốn đạt được lợi nhuận như mong muốn phải đưa ra được phương án sản xuất kinh doanh tối ưu. Nhưng quá trình thực hiện, người sản xuất kinh doanh còn phải đối mặt với nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan để giải quyết được phải có cơ sở cho việc đưa ra những quyết định chính xác. Nguồn nguyên liệu cung ứng ở Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 18

19. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco đâu, thời gian nào, phương tiện vận tải nào sẽ được lựa chọn để vận chuyển, địa điểm kho chứa nguyên liệu, hàng hóa… tất cả những vấn đề này muốn giải quyết có hiệu quả không thể thiếu vai trò của logistics. Logistics cho phép nhà quản lý kiểm soát và ra quyết định chính xác những vấn đề như vật liệu cung ứng, phương thức vận chuyển…để giảm tối đa chi phí phát sinh đảm bảo hiệu quả trong sản xuất kinh doanh. 2.1. Logistics đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi và hoàn thiện dịch vụ vận tải giao nhận, đảm bảo yếu tố đúng thời gian- địa điểm (Just in time-JIT). Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã làm cho hàng hóa và sự vận động của chúng phong phú và phức tạp hơn, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ, đặt ra yêu cầu mới đối với dịch vụ vận tải giao nhận. Đồng thời để tránh đọng vốn, các doanh nghiệp tìm cách duy trì một lượng hàng trong kho nhỏ nhất. Kết quả là hoạt động vận tải giao nhận nói riêng và lưu thông phân phối nói chung, một mặt phải đảm bảo yêu cầu giao hàng kịp thời đúng lúc (JIT), mặt khác phải tăng cường vận chuyển thực hiện mục tiêu không để hàng tồn kho. Để đáp ứng yêu cầu này, giao nhận vận tải phải nhanh, thông tin kịp thời chính xác và sự ăn khớp giữa các quá trình trong vận chuyển giao nhận. Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của tin học cho phép kết hợp chặt chẽ các quá trình cung ứng, sản xuất, lưu kho hàng hóa, tiêu thụ với hoạt động vận tải giao nhận có hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn và đồng thời phức tạp hơn. Nó cho phép người giao nhận vận tải nâng cao chất lượng dịch vụ đối với khách hàng. Phát triển các dịch vụ truyền thống càng cao bao nhiêu, người vận tải giao nhận càng có khả năng đáp ứng yêu cầu thị trường và mở rộng thị trường bấy nhiêu. Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 19

24. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Hình1. 4 : Các loại dự trữ chủ yếu phân theo vị trí trong hệ thống logistics Dự trữ là tất yếu khách quan, nó là kết quả của quá trình tái sản xuất xã hội. Nhờ có dự trữ mà cuộc sống nói chung, hoạt động logistics nói riêng, mới có thể diễn ra liên tục, nhịp nhàng. Tuy nhiên phải biết lên kế hoạch dự trữ thế nào cho vừa, phù hợp với từng thời điểm nhằm tránh tình trạng tồn đọng vốn. Quản trị dự trữ trong logistics đòi hỏi phải có kiến thức sâu rộng về chi phí dự trữ logistics, nhất là kiến thức về tổng chi phí logistics để có thể đưa ra những quyết định về thiết kế hệ thống logistics, các dịch vụ khách hàng, số lượng và vị trí các kênh phân phối, mức dự trữ, hình thức dự trữ, cách thức vận tải… Tóm lại, hoạt động dự trữ có tác động trực tiếp tới nhiều hoạt động của chuỗi logistics. Nên cần có sự cân đối giữa chi phí dự trữ và các khoản chi phí logistics khác. Hoạt động dự trữ là khâu quan trọng trong toàn bộ hệ thống logistics. Cần sử dụng tốt và phối hợp chặt chẽ các kỹ thuật: phân tích dự báo, mô hình dữ trữ, hệ thống giải quyết đơn hàng. Dịch vụ vận tải Quản lý vận tải và phân phối hàng là khâu trọng yếu nhất của hoạt động logistics, bởi vì kết quả của quá trình vận chuyển và phân phối hàng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Quản lý vận tải và phân phối hàng hóa nhằm quản lý công tác vận chuyển và phân phát hàng hóa đúng thời hạn, an toàn, đảm bảo đủ khối lượng và chất lượng. Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 24

26. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Người kinh doanh dịch vụ logistics phải giải quyết các vấn đề này bằng những phương pháp và kinh nghiệm cần thiết. Khi lựa chọn phương thức vận tải thường sử dụng kết hợp một số tiêu chí quan trọng: – Chi phí vận tải – Tốc độ vận chuyển – Tính linh hoạt – Khối lượng/trọng lượng giới hạn – Khả năng tiếp cận Tất cả dịch vụ logistics đều nhằm mục đích thỏa mãn cao nhất cho nhu cầu của khách hàng (người sản xuất và người tiêu dùng). Trong dây chuyền cung ứng gồm rất nhiều khâu, giữa mắt xích của các khâu có các dịch vụ: giao nhận, xếp dỡ, lưu kho… Nếu để hàng hóa phải tồn kho nhiều hoặc lưu kho quá lâu sẽ gây thiệt hại cho hãng sản xuất, do đó cần phải giải quyết khâu này bằng những biện pháp khác nhau: – Xác lập kênh phân phối, chọn thị trường tiêu thụ – Chọn vị trí kho hàng – Thiết lập các trung tâm phân phối, trung tâm logistics – Quản lý quá trình vận chuyển… Có một số hãng đã đạt được quy trình sản xuất “không lưu kho” đối với một số mặt hàng nhất định, và có được lợi nhuận cao. Cùng với những hoạt động logistics khác, vận tải cũng đóng góp một phần giá trị gia tăng cho sản phẩm và dịch vụ. Trước hết giải quyết được vấn đề là đưa sản phẩm tới đúng nơi người tiêu dùng yêu cầu tức là giá trị hàng hóa đã được tăng thêm. Kế nữa đáp ứng yêu cầu về mặt thời gian. Việc chọn đúng phương tiện và phối hợp các hình thức vận tải khác nhau chỉ với mục đích cuối cùng sao cho vận chuyển càng nhanh hàng hóa tới tay người tiêu Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 26

27. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco dùng càng tốt. Như vậy giá trị gia tăng trong khâu vận tải chính là việc khách hàng được hưởng dịch vụ hoặc sản phẩm đúng nơi, đúng lúc. Để chuyên chở hàng hóa, người cung cấp dịch vụ logistics có thể chọn một hoặc nhiều phương thức vận tải sau: đường biển, đường sông, đường bộ, đường sắt, đường hàng không. Hoạt động kho bãi Hoạt động kho bãi là một bộ phận của hệ thống logistics, là nơi cất giữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm trong suốt quá trình chu chuyển từ điểm đầu cho tới điểm cuối của dây chuyền cung ứng, đồng thời cung cấp các thông tin về tình trạng điều kiện lưu trữ và vị trí của các hàng hóa được lưu kho. Hoạt động kho bãi là hoạt động chiến lược nó ảnh hưởng tới quá trình vận chuyển, chất lượng dịch vụ khách hàng, tốc độ lưu chuyển hàng hóa và như vậy nó ảnh hưởng tới toàn bộ dây chuyền cung ứng. Cho nên trong hoạt động này cần phải xác định tốt vị trí kho hàng. Vị trí kho hàng được quyết định dựa trên các điều kiện cơ bản sau: gần các trung tâm bán hàng lớn, có cơ sở hạ tầng tốt, thủ tục làm đơn giản( đặc biệt là thủ tục thông quan nếu là logistics toàn cầu), có đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp và nhất là có tình hình chính trị-xã hội ổn định. Đây chính là nguyên nhân lý giải 60% các trung tâm phân phối, các kho hàng lớn của Châu Âu đều tập trung ở Hà Lan. Người kinh doanh dịch vụ logistics không nhất thiết là người phải có kho, bãi. Họ có thể tư vấn cho khách hàng những địa điểm lưu kho thuận lợi cho quá trình giao nhận, chuyên chở, phân phối và thậm chí thay mặt cả khách hàng để ký các hợp đồng lưu kho hàng hóa. Bên cạnh việc thực hiện các công tác lưu kho, lưu bãi, người kinh doanh dịch vụ còn cung cấp cho Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 27

28. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco khách hàng các hoạt động về quản lý kho, quản trị dự trữ và đây là một bước tiến cao hơn so với công tác lưu kho, lưu bãi đơn thuần trong hoạt động giao nhận truyền thống trước đây. Người kinh doanh dịch vụ logistics phải chịu trách nhiệm đối với hàng hóa trong thời gian hàng hóa được lưu kho nằm trong sự quản lý của mình theo các quy định của pháp luật. Các hoạt động làm tăng giá trị của hàng hóa là các hoạt động về dán mác, dán nhãn, kẻ ký hiệu mã hiệu, tái đóng gói, kiểm soát chất lượng, quản lý đơn đặt hàng, thực hiện việc quản lý trả lại hàng cho nhà phân phối,… Hoạt động lưu kho có quan hệ mật thiết với hoạt động vận tải trong chuỗi hệ thống logistics. Cả hai cùng đóng góp giá trị gia tăng về thời gian và địa điểm của sản phẩm. Thiết kế hệ thống cơ sơ sản xuất và kho hàng khoa học, hợp lý sẽ tiết kiệm được chi phí vận tải ở cả đầu vào lẫn đầu ra của hệ thống logistics. Một công việc có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động kho hàng là quản lý hệ thống thông tin. Phải thường xuyên cập nhập thông tin về mức độ dự trữ , lượng hàng nhập kho, xuất kho, thực có trong kho, vị trí, tình trạng hàng hóa, các yêu cầu của khách hàng…. Thông tin ở đây cần phải kịp thời và chính xác. Muốn làm được như vậy thì phải biết ứng dụng Hệ thống chia sẻ và trao đổi thông tin điện tử (Electronic Data Interchange- EDI), hệ thống mã vạch, và phải vi tính hóa mọi hoạt động. Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 28

31. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco 2.1 Thời gian giao nhận hàng Thời gian giao nhận hàng được xem xét trên hai phương diện là chính xác về thời gian và tiết kiệm về thời gian. Thứ nhất : Sự chính xác về thời gian Với sự phát triển ngày càng cao của công nghệ thông tin ,thời gian ngày càng được chú trọng yêu cầu chính xác về thời gian không chỉ riêng một ngành nào mà với tất cả các ngành các dịch vụ.Đặc biệt đối với dịch vụ logistics -dịch vụ vận tải giao nhận vấn đề về thời gian càng cần được chú trọng nhiều hơn. Bất kì một doanh nghiệp nào hoạt động đều theo kế hoạch được vạch ra từ trước,việc vận chuyển hàng hoá cần chính xác về thời gian để không làm ảnh hưởng đến kế hoạch của khách hàng. Hơn thế nữa mỗi lô hàng đều cần nhân lực nhận hàng giao hàng vì vậy sự sai lệch về thời gian sẽ làm lãng phí nhân lực của khách hàng . Hiện nay với những điều kiện về đường xá ,về phương tiện vận chuyển , về địa hình địa lý…chưa đáp ứng được nhu cầu đề ra của ngành nên sự chính xác về thời gian là yếu tố ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Thứ hai:Sự tiết kiệm về thời gian Các mặt hàng vận chuyển là hết sức đa dạng và phong phú,có những mặt hàng có thời gian sử dụng không dài vì vậy mà nếu thời gian vận chuyển càng ngắn thì thời gian đứng trên thị trường càng dài,hay có nhưng mặt hàng vận chuyển là nguyên vật liệu nếu càng chuyển được đến sớm thì càng sớm có thành phẩm . Hơn nữa thời gian vận chuyển càng ngấn càng tiết kiệm chi phí cho khách hàng và cho cả bên vận chuyển. Các đại lí ở nước ta còn nhỏ lẻ vì vậy kho bãi còn hẹp , khả năng dự trữ hàng chưa lớn. Một yêu cầu đặt ra là khách hàng có thể cần hàng bất kì lúc nào,dịch vụ logistics có thêm nhiệm vụ dự trữ hàng và vận chuyển theo thời Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 31

32. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco gian mà khách yêu cầu.Để làm được điều này ngoài nhu cầu về phương tiện vận chuyển đa dạng kịp thời các doanh nghiệp còn cần hệ thống kho bãi rộng rãi để dự trữ hàng. 2.2 Độ an toàn của hàng hoá Hàng hoá vận chuyển rất đa dạng và phong phú,trong đó có ngững mặt hàng dễ bị tổn thất như hàng dễ vỡ, dễ ẩm mốc,hàng khó bảo quản…Đối với mỗi loại hàng hoá khác nhau cần có hình thức vận chuyển để mức tổn thất là nhỏ nhất.Với những hàng hoá quan trọng các đơn vị vận chuyển còn cần mua bảo hiểm cao cho hàng hoá,có thể là bảo hiểm toàn bộ. Mức độ đền bù thiệt hại cần được xác định rõ ràng và hợp lý nếu như có tổn thất.Việt Nam là một nước đang phát triển vì vậy cơ sở hạ tầng cũng như phương tiện vận chuyển còn lạc hậu , tổn thất trong quá trình vận chuyển còn nhiều.Tuy nhiên các doanh nghiệp phải đảm bảo tốt nhất cho hàng hoá được vận chuyển.Đặc biệt với hàng hoá vận chuyển bằng đường biển nếu có tổn thất thường là rất lớn vấn đề phân bổ tổn thất cần rõ ràng và chính xác. 2.3 Chi phí vận chuyển Trên thực tế tiết kiệm thời gian vận chuyển tức là đã tiết kiệm được một phần chi phí cho khách hàng.Tuy nhiên ngoài tiết kiệm thời gian ,để có mức chi phí thấp nhất cho khách hàng các các doanh nghiệp làm dịch vụ logistics cần phải có nhiều biện pháp giảm chi phí cho khách hàng.Như việc tìm ra hành thức vận chuyển tốt nhất tiết kiệm nhất,cải tiển rút ngắn các khâu rườm rà gây lãng phí… Khi nói đến chất lượng, giá cả thường được coi là một yếu tố khác nằm ngoài chất lượng , tuy nhiên khi khách hàng xem xét một hàng hoá độ thoả dụng của họ phụ thuộc rất nhiêù vào giá cả,thậm chí đây có thể là yếu tố quyết định đến việcc sử dụng hàng hoá.Theo định nghĩa về chất lượng thì chất lượng hàng hoá được đo bằng sự hài lòng của khách hàng vì vậy mà chi Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 32

33. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco phí vận chuyển được coi là tiêu chuẩn quan trọng đánh giá chất lượng hàng hoá. Để tồn tại , phát triển và chiếm lĩnh thị trường các doanh nghiệp đều tìm mọi biện pháp giảm giá thành nâng cao chất lượng .Tuy nhiên đây không phải vấn đề đơn giảnvì giảm giá thành rất dễ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm cũng như dịch vụ.Đối với dịch vụ logistics giảm giá thành đồng nghĩa với việc công ty phải xây dựng được hệ thống kho bãi một cách khoa học ,tính toán kĩ lưỡng ,áp dụng công nghệ hiện đại,vi tính hoá các hoạt động… 2.4 Cách thức phục vụ Đối với các loại hàng hoá thông thường cách thức phục vụ không mang tính quyết định đối với chất lượng hàng hoá không . Tuy nhiên đối với các ngành dịch vụ nói chung và với dịch vụ logistics nói riêng đây là một tiêu chuẩn quan trọng. Cách thức phục vụ bao gồm thái độ của nhân viên như nhân viên trực điện thoại , nhân viên giao hàng,lái xe,áp tải hàng ,phương thức thanh toán,các thủ tục khi giao nhận hàng, ưu tiên ưi đãi với khách hàng,cáh thức chăm sóc khách hàng….Hiện nay thủ tục là một nguyên nhân làm mất thời gian vì vậy cần hạn chế thủ tục rườm rà nhưng vẫn cần bảo đảm đúng nguyên tắc.Khách hàng của ngành cũng rất đa dạng có thể là người trong nước cũng có thể là người nước ngoài vì vậy phương thức thanh toán phải đa dạng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. 2.5 Chất lượng kho bãi Chất lượng kho bãi có thể được phản ánh qua tiêu chuẩn về độ an toàn của hàng hoá ,tuy nhiên như đã trình bày ở trên thì một lĩnh vực hoạt động rất lớn của logistics đó là cho thuê bến bãi ,nhà kho.Vì vậy đây cũng chính là một tiêu chí để khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ. Trong lĩnh vực logistics,kho bãi không chỉ là nơi chứa hàng hoá mà còn là nơi thực hiện choc năng của một trung tâm phân phối (Distribution center) Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 33

34. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco thậm chí như là nơi cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng cho khách hàng ( Cross -docking) Hiện nay với cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế các kho bãi của chúng ta chưa đáp ứng được 100% so với yêu cầu của khách hàng .Tuy nhiên có những yêu cầu cơ bản cần được đảm bảo như chống được ẩm mốc, thuận tiện cho việc vận chuyển ,đảm bảo giữ vệ sinh ,có thiết bị phòng cháy chữa cháy… Hàng hoásẽ đảm bảo hơn nếu kho bãi được trang bị các phương tiện hiện đại,áp dụng công nghệ tiên tiến , và tất nhiên như vậy sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Như vậy chất lượng dịch vụ logistics được đánh giá qua rất nhiều tiêu chí khác nhau . Logistics ở nước ta chưa phát triển mạnh mẽ, các doanh nghiệp còn nhỏ lẻ và chưa có sự hợp tác thậm chí còn cạnh tranh thiếu lành mạnh.Sở dĩ có hiện tượng này là do đây là một ngành khá mới mẻ chúng ta chưa có kinh nghiệm cũng như chưa có hình thức đầu tư thoả đáng,điều kiện nước ta chưa cho phép áp dụng khoa học kĩ thuật hiện đại vào quá trình vận chuyển.Tuy nhiên chúng ta lạ có một điều kiện địa lí thuận tiện cho việc lưu chuyển hang hoá sang nước bạn . Các doanh nghiệp logistics trong nước chỉ đáp ứng được 20% nhu cầu của khách hàng , phần còn lại do doanh nghiệp nước ngoài thực hiện .Những năm gần đây hoạt động của ngành có xu hướng tăng đáng kể tuy nhiên vẫn cần sự nỗ lực lớn từ phía nhà nước cũng như ác doanh nghiệp. CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VINAFCO Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 34

36. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải chuyển Doanh nghiệp Nhà nước Công ty Dịch vụ vận tải Trung ương thành Công ty cổ phần , với tên gọi đầy đủ là Công ty Cổ phần Dịch vụ vận tải Trung ương , gọi tắt là Công ty Cổ phần VINAFCO. Từ khi thành lập đến nay, công ty đã đạt được nhiều thành tích , nhiều bằng khen của Bộ Giao thông Vận tải và của Chính phủ . Ngoài ra, rất nhiều cá nhân trong Công ty đã được vinh dự nhận bằng khen của Bộ Giao thông Vận tải, của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam. Hội nhập cùng xu thế mới của thị trường, nắm bắt được thời cơ và cơ hội mới của thương hiệu VINAFCO trên thị trường Việt Nam, ngày 26 tháng 6 năm 2006 theo giấy phép niêm yết số 53/GPNY do Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp. Theo đó, cổ phiếu của Công ty cổ phần VINAFCO được niêm yết tại Trung tâm giao dịch Chứng khoán chúng tôi với mã giao dịch là VFC. Và ngày 24 tháng 07 năm 2006 cổ phiếu của công ty cổ phần VINAFCO đã chính thức giao dịch tại Trung tâm giao dịch chúng tôi với giá khớp lệnh phiên giao dịch đầu tiên là 30.000đ/1CP. Giới thiệu về công ty  Tên Công ty: Công ty Cổ phần VINAFCO  Tên tiếng Anh: VINAFCO JOINT STOCK CORPORATION  Tên viết tắt:VINAFCO  Biểu tượng của Công ty: Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 36

37. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco  Vốn điều lệ hiện tại: 67.756.270.000 đồng (Sáu mươi bảy tỷ, bảy trăm năm mươi sáu triệu, hai trăm bảy mươi nghìn đồng).  Trụ sở chính : Số 36 đường Phạm Hùng, xã Mỹ Đình, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.  Điện thoại : (84-4) 7684464 7684469  Fax: (84-4) 7684465  Website: chúng tôi  Email: Vinafco@vnn.vn  Giấy phép thành lập : Quyết định số 211/2001/QĐ-BGTVT ngày 18/01/2001 của Bộ Giao thông Vận tải phê duyệt phương án cổ phần hoá và quyết định chuyển Công ty Dịch vụ vận tải TW thành Công ty cổ phần.  Giấy CNĐKKD : Số 0103000245 đăng ký lần đầu ngày 12/02/2001, đăng ký thay đổi lần thứ 15 ngày 09/06/2006 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp.  Ngành nghề kinh doanh: – Vận tải hàng hoá bằng đường biển, đường sông, ôtô trong và ngoài nước; – Đại lý vận tải hàng hoá; – Kinh doanh vật tư và dịch vụ các mặt hàng: than , thạch cao, apatite, quặng các loại , cát, xỉ perit, đá vôi, gỗ, …..; – Giao nhận kho vận quốc tế; – Dịch vụ vận tải quốc tế, trong đó có vận tải hàng hoá quá cảnh; Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 37

38. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco – Đại lý vận tải tàu biển và môi giới hàng hải; – Nhận uỷ thác đại lý giao nhận, nhận uỷ thác vận tải hàng không; – Kinh doanh vận tải và xếp dỡ, bảo quản các loại hàng hoá; – Kinh doanh kho bãi, bãi container và thu gom hàng hoá; – Dịch vụ sửa chữa thiết bị giao thông vận tải và tàu biển cho các hãng tàu; – Nhận uỷ thác xuất nhập khẩu, làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá cho các chủ hàng; – Kinh doanh dịch vụ mặt hàng phân bón các loại, khí NH3 hoá lỏng, klinke; – Kinh doanh nhập khẩu phương tiện thiết bị giao thông vận tải; – Kinh doanh cung ứng mặt hàng lương thực (ngô, sắn, thức ăn gia súc…); – Sản xuất, chế biến và kinh doanh sắt thép xây dựng; – Sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; – Buôn bán thức ăn và nguyên liệu sản xuất thức ăn cho nuôi trồng thuỷ sản, thức ăn chăn nuôi gia cầm, gia súc, vật tư, máy móc, thiết bị, hàng tiêu dùng; – Buôn bán lắp đặt bảo hành máy thiết bị bưu chính viễn thông (điện thoại, điện thoại di động, tổng đài); – Đại lý mua bán ký gửi hàng hoá; – Khai thác và chế biến khoảng sản (được sự cho phép của nhà nước); – Cho thuê văn phòng và các dịch vụ cho thuê văn phòng. Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 38

39. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trải qua 20 năm hoạt động và phát triển VINAFCO đã phát triển không ngừng từ một đơn vị với 40 cán bộ công nhân viên, cùng số vốn và tài sản ít ỏi, đến nay VINAFCO đã tạo dựng được khối tài sản lên đến hàng trăm tỷ đồng, tổng số cán bộ công nhân viên hơn 600 người, tổng doanh thu hàng năm hơn 400 tỷ đồng. Từ một đơn vị ban đầu hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực vận tải và dịch vụ vận tải, đến nay VINAFCO đã mở động hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực cho thuê kho bãi và phân phối hàng hóa, khai thác chế biến khoáng sản và kinh doanh thương mại, xuất nhập khẩu, sản xuất thép, thông quan hàng hóa, kho ngoại quan và giao nhận quốc tế. Hiện nay, VINAFCO đang quản lý hoạt động của 5 công ty con do VINAFCO đầu tư 100% vốn gồm : Công ty tiếp vận VINAFCO (VINAFCO Logistics) , Công ty Vận tải biển VINAFCO (VINAFCO Shipping) , Công ty Thép Việt-Nga VINAFCO (VINAFCO Steel ) , Công ty thương mại và vận tải quốc tế VINAFCO (VINAFCO IFTC), Công ty VINAFCO Sài Gòn. Ngoài ra, VINAFCO cũng tham gia liên doanh góp vốn với số vốn góp chiếm từ 25% đến 50% tại các đơn vị : Công ty TNHH tiếp vận Thăng Long (DRACO), Công ty cổ phần khoáng sản VINAFCO ( Nghệ An) , Công ty cổ phần khoáng sản Tân Uyên ( Bình Dương) Logistics là hoạt động chủ yếu của Công ty cổ phần VINAFCO. Mặc dù đây là lĩnh vực khá mới mẻ tại Việt Nam nhưng với kinh nghiệm nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực logistics nên trong những năm qua Công ty luôn khẳng định được uy tín và vị trí hàng đầu trong ngành kinh doanh tiếp vận ở Việt Nam. Các khách hàng của Công ty không chỉ có khách hàng trong nước mà còn có cả khách hàng nước ngoài (chủ yếu là các công ty liên doanh tại Việt Nam) như ICI, Nestle, Exxon Mobile, Honda VN, LG-Vina, Draco, Newchipxeng. Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 39

40. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Khách hàng sử dụng dịch vụ của trung tâm phân phối như sau: – Khách hàng liên doanh nước ngoài (hoặc khách hàng lớn) sử dụng dịch vụ quản lý kho và vận tải phân phối; – Khách hàng liên doanh (khách hàng lớn) thuê kho và vận tải phân phối; – Khách hàng liên doanh (khách hàng lớn) thuê kho đặc chủng (kho bảo ôn); – Khách hàng thuê kho thông thường; – Khách hàng liên doanh (khách hàng lớn) sử dụng dịch vụ vận tải phân phối. Công ty TNHH Tiếp vận VINAFCO Việc cung cấp dịch vụ logistics của VINAFCO được thực hiện chủ yếu bởi Công ty TNHH Tiếp vận VINAFCO. Trụ sở chính : 33 C – Cát Linh, Đống Đa, Hà Nội Điện thoại : 04.7365422 Fax : 04.7365975 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 0104000089 ngày 22/07/2003, thay đổi lần 5 ngày 13/03/2006 do Sở Kế hoạch – Đầu tư Hà Nội cấp. – Ngành nghề kinh doanh:  Kinh doanh kho bãi, bốc xếp, bảo quản và vận tải các loại hàng hoá. Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 40

41. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco  Vận tải đa phương thức, vận tải hàng hoá bằng đường biển, đường sô, đường bộ và đường sắt trong và ngoài nước;  Vận tải quá cảnh sang Trung Quốc, Lào;  Dịch vụ làm thủ tục hải quan cho các chủ hàng;  Mua bán cát Cam Ranh, cát khuôn đúc, đá vôi, thạch cao, thanh, vật liệu xây dựng, clinker, quặng các loại, lương thực, ngô, sắn, xút, phèn, soda, phân bón các loại, muối các loại;  Dịch vụ sơn, sửa chữa, trung đại tu container, thiết bị giao thông vận tải;  Đại lý mua bán, ký gửi hàng hoá;  Mua bán nguyên vật liệu, vật tư, máy móc, thiết bị phụ tùng, hàng hoá phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng;  Buôn bán vật liệu xây dựng các loại;  Nhận uỷ thác xuất nhập khẩu;  Đại lý làm thủ tục hải quan. – Vốn điều lệ: 5.000.000.000 đồng Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 41

44. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco nhật thường xuyên và đầy đủ. VINAFCO logistics thực hiện quản lý xuất nhập hàng hoá bằng phần mềm quản lý kho chuyên nghiệp, lập các báo cáo xuất nhập tồn về hàng hoá theo yêu cầu quản lý của khách hàng.Để làm được điều này thời gian qua công ty đã có rất nhiều nỗ lực. – Đào tạo và chuyển giao nghiệp vụ: VINAFCO có đội ngũ chuyên gia giỏi đào tạo và chuyển giao về tổ chức quản lý và vận hành kho hàng theo phong cách chuyên nghiệp. – Xếp dỡ hàng hoá: bằng thủ công, xe nâng, cầu âm và cầu bánh lốp. – Hoàn thiện sản phẩm: Phân loại, đóng gói và dán tem hàng hoá theo yêu cầu của khách hàng. – Bảo hiểm: Khi khách hàng lưu hàng trong kho của VINAFCO. Công ty luôn có các biện pháp bảo hiểm hàng hoá cho khách, bao gồm bảo hiểm kho hàng và bảo hiểm hàng lưu trữ trong kho. – An ninh kho hàng: Với lực lượng bảo vệ chuyên nghiệp phục vụ 24/24 giờ và hệ thống thiết bị phòng cháy chữa cháy đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt, công ty đảm bảo hàng hoá của khách hàng luôn được lưu trữ trong tình trạng an toàn nhất. Dịch vụ phân phối hàng hoá Là một dịch vụ trong chuỗi dịch vụ LOGISTICS, với năng lực vận chuyển là đội xe của VINAFCO LOGISTICS gồm hàng trăm xe tải có trọng tải từ 0,5 tấn đến 5 tấn cùng với các xe đầu kéo và moóc 40 feet (sử dụng cho container), đội ngũ nhân viên điều hành vận tải chuyên nghiệp và năng động. Hiện nay, công ty đang thực hiện vận chuyển, phân phối hàng hóa hàng nghìn tấn từ các trung tâm tiếp vận, các nhà sản xuất đến tận tay người tiêu dùng trên khắp mọi miền đất nước và thu gom hàng hoá theo chiều ngược lại đảm bảo tiến độ, chất lượng và thông tin thông suốt trong quá trình phân phối. Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 44

45. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco Trong các loại hàng hóa được phân phối tại VINAFCO, phải kể đến NH3- loại hàng có số lượng các nhà vận chuyển chỉ đếm trên đầu ngón tay. VINAFCO là công ty vận chuyển thành công nhất các chuyến hàng NH3 nhằm mục đích sản xuất mì chính. Đặc biệt công ty đã áp dụng và trở thành công ty đầu tiên tại Việt Nam thực hiện mô hình phân phối hàng hóa 3PL ( Third Party Logistics ) phân phối hàng hóa trọn gói từ khâu bảo quản, lưu giữ hàng hóa, đến khâu vận chuyển, giao nhận tận nơi khách hàng yêu cầu bằng các hình thức vận chuyển như ôtô, vận chuyển bằng xe máy được khách hàng sơn ICI đánh giá cao. Ngoài ra công ty đang hướng đến việc cung cấp dịch vụ vận chuyển, giao nhận phân phối hàng hóa theo thời gian mà khách hàng yêu cầu. Mô hình 3PL (Third Party Logistics) trọn gói được thực hiện theo quy trình các bước như sau: 1. Tiếp nhận yêu cầu khách hàng qua hệ thống điện thoại/Email/Fax…công việc được thực hiện bởi các nhân viên C/s ( Customer Service Agents) chuyên nghiệp; 2. Sau khi tiếp nhận các đơn hàng của khách hàng yêu cầu (sales order), nhân viên C/s tiến hành xử lý đơn hàng trên hệ thống phần mềm quản lý chuyên nghiệp (BPCS, WMS…); 3. Chuyển đơn gom hàng cho bộ phận kho và bộ phận vận tải a. Bộ phận kho nhận lệnh gom hàng sẽ tiến hành gom hàng và xác nhận tình trạng thực tế chắc chắn của đơn hàng có thể được giao hay không, báo cáo lại cho bộ phận C/s để tiến hành in hoá đơn; Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 45

46. Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần Vinafco b. Bộ phận vận tải nhận lệnh gom hàng và tiến hành các hoạt động điều phối vận tải/ sắp xếp phương tiện cho việc vận chuyển hàng hoá; 4. Sau khi nhận được xác nhận từ kho, bộ phận dịch vụ khách hàng sẽ in hoá đơn và chuyển xuống kho làm thủ tục xuất hàng ra khỏi kho; 5. Tuỳ theo phương thức giao hàng : a. Khách hàng tự đến lấy hàng( Self Pick Up) b. Giao hàng ra các bến xe trung chuyển ( Bus station) c. Giao hàng đến các đại lý hoặc trực tiếp tới người tiêu dùng. Có thể thấy rằng việc xử lý các đơn hàng để có thể giao hàng đến các đại lý /nhà phân phối là công việc cực kỳ phức tạp, trải qua nhiều công đoạn, với sự phối hợp nhuần nhuyễn, đồng bộ của nhiều người, nhiều bộ phận Để tránh tình trạng giao hàng chậm và thiếu chính xác cho khách hàng, VINAFCO LOGISTICS đã nhìn nhận ra trước được từng công đoạn quan trọng dễ xẩy ra và chủ động cải tiến các quy trình thực hiện. Đồng thời các mắt xích trong công đoạn này đã được tính toán và hoạch định từng thời lượng chính xác, mỗi công đoạn đều có gắn liền với từng chức danh công việc cụ thể. Để tiết kiệm tối đa thời gian hoạt động vận chuyển và giao nhận hàng hoá, tránh giờ cao điểm cấm ôtô, các tuyến đường cấm , VINAFCO LOGISTICS tổ chức linh hoạt mô hình phương tiện vận chuyển kết hợp cả ôtô tải và vận chuyển bằng xe máy. Quy trình giao hàng từ kho phân phối đến các đại lý như hình sau: Bùi Thị Doan Quản lý kinh tế 46b 46

Giải Pháp Phát Triển Dịch Vụ Logistics Tại Tp. Đà Nẵng

TP. Đà Nẵng xác định phát triển dịch vụ logistics là một trong những lĩnh vực đặc biệt ưu tiên. Nguồn: internet

Cũng theo quan điểm của CSCMP, ở một số mức độ khác nhau, các chức năng của logistics cũng bao gồm việc tìm nguồn đầu vào, hoạch định sản xuất, đóng gói, dịch vụ khách hàng. Quản trị logistics là chức năng tổng hợp kết hợp và tối ưu hóa tất cả các hoạt động logistics cũng như phối hợp hoạt động logistics với các chức năng khác như marketing, kinh doanh, sản xuất, tài chính, công nghệ thông tin.

Thông thường, đối với phương pháp tính chi phí logistics, giá bán của hàng hóa (G) đến tay người tiêu dùng phải đảm bảo tối thiểu bù đắp các chi phí (C), theo công thức:

G ≥ C1 + C2 + C3 + C4 + C5 (1)

Trong đó:

C1: giá thành sản xuất ra hàng hóa.

C2: chi phí hoạt động marketing

C3: chi phí vận tải

C4: chi phí cơ hội vốn cho hàng tồn trữ

C5: chi phí bảo quản hàng hóa.

Chi phí logistics sẽ bao gồm: Clog = C3 + C4 + C5

Hiện nay, Việt Nam được đánh giá là thị trường đầy tiềm năng để phát triển dịch vụ logistics. Trong những năm qua, ngành vận tải Việt Nam đã có nhiều giải pháp cả từ phía Nhà nước lẫn doanh nghiệp (DN) để thúc đẩy ngành logistics phát triển. Về phía Nhà nước, đã tập trung đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đồng bộ hơn, giảm phí, giảm thời gian thực hiện các chủ tục hành chính… Về phía DN, đã tập trung phát triển vận tải hàng hóa bằng container, đóng mới các phương tiện, thiết bị có sức chở lớn, tổ chức vận tải đa phương thức…

Tuy nhiên, dù được xác định là ngành có giá trị gia tăng cao, nhưng thực tế thì mức đóng góp của ngành này vào GDP còn rất khiêm tốn, chỉ từ khoảng 3% đến 4%. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu giải pháp để ngành logistics Việt Nam tiếp tục phát triển mạnh hơn, đặc biệt là làm sao cho đóng góp của ngành vào GDP càng tăng lên và chi phí của DN ngày càng giảm xuống là vấn đề cốt lõi cần được giải đáp trong thời gian tới.

Thực trạng ngành logistics tại TP. Đà Nẵng

Đà Nẵng nằm trên trục giao thông huyết mạch Bắc – Nam về cả đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, là cửa ngõ giao thông quan trọng của cả miền Trung và Tây Nguyên. Địa phương này cũng là điểm cuối trên tuyến Hành lang kinh tế Đông – Tây đi qua các nước Myanma, Thái Lan, Lào, Việt Nam và là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ lớn của khu vực miền Trung – Tây Nguyên.

Tính đến cuối năm 2018, TP. Đà Nẵng có khoảng 27.168 DN và chi nhánh, văn phòng đại diện đang hoạt động với tổng vốn đăng ký đạt 193,5 ngàn tỷ đồng; doanh thu bán lẻ hàng hóa khoảng 53.200 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu hàng hóa khoảng 1,655 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu khoảng 1,425 tỷ USD. Ngành Giao thông vận tải đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa của người dân và DN với doanh thu vận tải đạt khoảng 12.855 tỷ đồng… Thực trạng ngành logistics tại TP. Đà Nẵng trong thời gian qua có thể đánh giá qua một số nội dung sau:

Thứ nhất, về hạ tầng phục vụ phát triển logistics

Trong thời gian qua, với những nỗ lực đầu tư về hạ tầng và tập trung phát triển logistics của TP. Đà Nẵng, các loại hình trung tâm logistics với quy mô đa dạng đang dần phát triển và nâng cấp theo hướng mở rộng về quy mô và hiện đại về trang thiết bị và công nghệ. Đáng chú ý, trong năm 2018, Dự án cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi đã thông xe toàn tuyến và đi vào khai thác không chỉ góp phần hoàn thiện tuyến đường bộ cao tốc Bắc – Nam, mà còn đánh thức tiềm năng, thúc đẩy liên kết giao thương, kết nối các khu công nghiệp, nghỉ dưỡng dọc tuyến và có ý nghĩa đặc biệt với phát triển của khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Ngoài ra, tuyến cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi còn góp phần phân luồng giao thông rất hiệu quả để kết nối vận chuyển quốc tế trong khu vực tam giác kinh tế Việt Nam – Lào – Campuchia qua Hành lang kinh tế Đông – Tây đến các cảng biển miền Trung Việt Nam. Từ đó, trở thành động lực thúc đẩy ngành dịch vụ logistics của TP. Đà Nẵng phát triển nhanh hơn.

Tuy nhiên, phát triển trung tâm logistics tại Đà Nẵng vẫn còn khá nhiều hạn chế, bất cập so với nhu cầu thực tiễn phát triển, cụ thể là: Chưa hình thành trung tâm logistics cấp quốc gia cũng như quốc tế đủ tầm vóc, quy mô để đảm nhiệm vai trò dẫn dắt thị trường và hội tụ DN; Phát triển trung tâm logistics hiện tại chủ yếu là nỗ lực tự thân của khối DN trong khi vai trò của Nhà nước trong định hướng, hỗ trợ và quản lý phát triển trung tâm logistics hạng I và II chưa rõ ràng; Năng lực cung ứng dịch vụ, năng lực cạnh tranh và năng lực kết nối logistics giữa TP. Đà Nẵng với các quốc gia trong khu vực và thế giới còn nhiều hạn chế…

Bên cạnh đó, giống như nhiều tỉnh thành khác trong cả nước, hiện nay chi phí vận tải đường bộ còn ở mức cao, chưa tối ưu hóa hoạt động kinh doanh của DN vận tải. Chẳng hạn, theo số liệu từ DN vận tải, trong chi phí vận tải đường bộ, xăng dầu chiếm khoảng 30-35%, phí cầu đường (BOT) bình quân chiếm khoảng 10-15% (tùy theo từng DN vận tải và khu vực vận tải). Như vậy, cần có nghiên cứu, đánh giá tổng thể toàn diện hơn, xét tới các yếu tố lợi ích do BOT đem lại như chất lượng vận tải cao hơn (tốc độ vận chuyển), giảm chi phí khai thác phương tiện… từ đó có định hướng để các DN tận dụng khai thác, tiết giảm chi phí logistics.

Hiện nay, phần lớn hệ thống kho bãi của các DN cổ phần, tư nhân và liên doanh dành cho cung cấp dịch vụ logistics có quy mô nhỏ, đặc biệt, diện tích kho chứa mới chỉ có khoảng 5,1 ha. Công ty cổ phần Cảng Đà Nẵng là DN có hệ thống hạ tầng kho bãi lớn nhất trên địa bàn thành phố với hơn 280.000m2 tại Cảng Tiên Sa; 200.000m2 tại Trung tâm dịch vụ Logistics Hoà Vang. Như vậy, DN này chiếm thị phần lớn của thị trường dịch vụ logistics của địa phương. Tuy nhiên, so với cầu thị trường và dự báo đến năm 2020 về lĩnh vực này cho thấy, hệ thống kho bãi và dịch vụ logistics của TP. Đà Nẵng vẫn còn thiếu, chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu sản xuất, dự trữ của địa phương và vùng lân cận, mà chưa đáp ứng được nhu cầu vận tải hàng hóa quốc tế ngày một gia tăng qua khu vực Đà Nẵng.

Thứ hai, về dịch vụ hải quan

Hoạt động quản lý, kiểm tra chuyên ngành tuy đã có những bước cải thiện nhưng còn chậm, làm cho thứ bậc cạnh tranh của TP. Đà Nẵng bị sụt giảm. Thực tế cho thấy, rào cản trong quản lý chuyên ngành, nhất là thủ tục kiểm dịch động vật, kiểm tra chất lượng là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới kéo dài thời gian thông quan. Ngoài ra, hiện nay, đại lý hải quan vẫn chưa được phép thay mặt chủ hàng (các DN xuất nhập khẩu) tham gia vào kiểm tra chuyên ngành. Nhiều DN không lựa chọn phương tiện vận tải đường sắt, hàng không vì phải qua nhiều thủ tục phức tạp và tốn thời gian thông quan, chi phí cao. Do vậy, khi xuất nhập khẩu, phương tiện vận tải biển vẫn là ưu tiên, từ đó làm hạn chế năng lực hoạt động của các phương tiện vận tải khác…

Thứ tư, về hợp tác vùng, liên vùng, hợp tác quốc tế

Vùng duyên hải miền Trung có diện tích là 49.400 km2, chiếm gần 14,9% diện tích tự nhiên của cả nước bao gồm 09 tỉnh, thành phố, trong đó có 5 địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) và 4 địa phương thuộc Nam Trung Bộ (Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận). Về kết cấu hạ tầng, toàn vùng có 6 khu kinh tế, tập trung chủ yếu vào các ngành sản xuất vật liệu xây dựng, du lịch, lọc hóa dầu; 1 khu công nghệ cao; 37 khu công nghiệp (trong đó có 22 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, diện tích đất đã cho thuê là 5.588 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy 42%); 6 cảng hàng không (trong đó có 04 cảng hàng không quốc tế là Phú Bài, Đà Nẵng, Chu Lai, Cam Ranh); 13 cảng biển (trong đó có 07 cảng biển loại I); 14 quốc lộ, đường sắt Bắc Nam, phân bổ khá đều giữa các địa phương, nối liền các đô thị, cơ bản đảm bảo kết nối thông suốt giữa các tỉnh trong Vùng. Tuy nhiên, đến nay, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông kết nối giữa các trục quốc lộ, giữa các điểm nút giao thông với các địa phương trong các tỉnh này vẫn còn hạn chế, dễ bị xuống cấp, chia cắt khi gặp phải bão lũ, giảm khả năng tăng trưởng bao trùm…, từ đó hạn chế tiềm năng phát triển của ngành dịch vụ logistics của TP. Đà Nẵng nói riêng và Vùng duyên hải miền Trung nói riêng.

Thứ năm, về nguồn nhân lực

Trong hoạt động của logistics DN, nguồn nhân lực được chia thành 4 cấp bao gồm: (1) Cấp quản trị gồm các nhà lãnh đạo cấp cao như: giám đốc, phó giám đốc logistics; (2) Cấp quản lý và chuyên gia là các nhà lãnh đạo cấp trung như: trưởng phòng logistics; (3) Cấp điều phối và giám sát như tổ trưởng tổ vận chuyển, chuyên viên hoạch định lộ trình vận tải…; (4) Cấp nhân viên – Kỹ thuật như lái xe, đóng gói hàng, điều kiển xe nâng…

Thực tế hoạt động của ngành dịch vụ logistics tại TP. Đà Nẵng cho thấy, chất lượng đội ngũ nhân viên cung cấp dịch vụ cũng cần phải được xem xét và cải thiện. Hiện nay, giao hàng chặng cuối đem lại khá nhiều giá trị gia tăng cho DN, khiến nhân viên giao hàng lại trở thành nhân tố quan trọng tiếp xúc trực tiếp với khách hàng và quyết định sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Do vậy, nhiều ý kiến cho rằng, các DN logistics cần phải đề cao việc đào tạo kỹ năng mềm cho nhân viên giao hàng, từ đó giúp cải thiện chất lượng dịch vụ của DN. Bên cạnh đó, đội ngũ tư vấn lập kế hoạch, tư vấn vận hành chuỗi cung ứng, chuyên gia logistics và quản trị chuỗi cung ứng cũng cần phải được đầu tư cả về số lượng và chất lượng vì hiện nay đội ngũ này cũng không đáp ứng đủ nhu cầu thị trường…

Ngoài ra, quy mô đào tạo nguồn nhân lực hiện chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực logistics của các DN tại TP. Đà Nẵng. Phần lớn DN phải tự đào tạo, bồi dưỡng nhân lực logistics thông qua thực tế công việc. Tại TP. Đà Nẵng cũng như khu vực miền Trung – Tây Nguyên hiện vẫn chưa có trường đại học đào tạo nguồn nhân lực riêng cho ngành logistics, chủ yếu lồng ghép vào các ngành như: ngoại thương, quan hệ quốc tế… nên nguồn nhân lực có chất lượng để phục vụ cho ngành còn rất hạn chế cả về số lượng lẫn chất lượng.

Định hướng phát triển dịch vụ logistics tại TP. Đà Nẵng

Đà Nẵng đặt mục tiêu trở thành trung tâm logistics của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, trong đó chú trọng tận dụng các ưu thế của địa phương để phát triển được hệ thống cơ sở hạ tầng logistics đồng bộ, liên thông, đủ năng lực đáp ứng nhu cầu dịch chuyển, xử lý dòng hàng hóa phát sinh của Thành phố, của các tỉnh lân cận và một phần luồng hàng hóa trên hành lang kinh tế Đông – Tây. Cùng với mục tiêu tổng thể đó, TP. Đà Nẵng cũng đưa ra các mục tiêu cụ thể như:

Một là, phát triển các trung tâm logistics cấp vùng, địa phương và chuyên dụng bảo đảm cung cấp các dịch vụ logistics đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất trong nước, xuất nhập khẩu của TP. Đà Nẵng và khu vực miền Trung, Tây Nguyên; các trung tâm này có khả năng cung cấp một số dịch vụ logistics cạnh tranh cho luồng hàng hóa quốc tế trung chuyển trên hành lang kinh tế Đông – Tây ra vào cảng biển Đà Nẵng.

Hai là, dự kiến đến năm 2020, các trung tâm logistics tại địa bàn TP. Đà Nẵng đáp ứng được khoảng 25% về lượng xử lý logistics cho luồng hàng hóa qua cảng biển, đến năm 2025 là 30%, đến năm 2030 là 35%; đến năm 2045 là 55%. Đối với luồng hàng hóa qua cảng hàng không tương ứng là 10%, 15%, 20% và 40%. Đối với luồng hàng hóa đường sắt: năm 2030 là 20% và 2045 là 40%.

Ba là, phát triển các trung tâm logistics đô thị đáp ứng nhu cầu thu mua, phân phối bán buôn các loại hàng hóa tiêu dùng phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày của người dân Thành phố và khu vực lân cận.

Bốn là, đảm bảo kết nối giao thông đồng bộ giữa cảng biển, cảng hàng không với các đầu mối vận tải hàng hóa, với các trung tâm logistics các loại một cách thông suốt, tạo điều kiện cho luồng hàng hóa trên các tuyến vận tải đa phương thức dịch chuyển được dễ dàng, nhanh chóng với một mức chi phí vận tải và chi phí dịch vụ logistics cạnh tranh trong khu vực và quốc tế.

Cùng với các nội dung trên, TP. Đà Nẵng cũng đề ra các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn như sau:

– Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, sẽ hoàn thành các quy hoạch phát triển ngành dịch vụ logistics và ban hành các chính sách thúc đẩy phát triển ngành logistics, tạo môi trường tốt cho phát triển ngành logistics.

– Trong giai đoạn từ 2021-2030, xóa bỏ các “nút thắt cổ chai” về cơ sở hạ tầng logistics, sơ bộ xây dựng nền tảng phát triển logistics hiện đại, phát triển mạnh mẽ logistics 3PL, phát triển ngành logistics trở thành một trong các ngành có tỷ trọng GDP đáng kế của thành phố, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thông hiện đại và thương mại điện tử vào cung cấp dịch vụ logistics;

Trong giai đoạn từ 2031-2045, hoàn thành xây dưng hệ thống logistics hiện đại có cấu trúc rõ ràng, cơ sở hoàn chỉnh và chức năng hoàn thiện, hoàn thành phân phối tài nguyên hợp lý, xây dựng TP. Đà Nẵng thành một thành phố có trung tâm logistics cấp I quốc gia và cấp II của vùng.

Đề xuất giải pháp

Đà Nẵng hiện đang xây dựng và triển khai Đề án xây dựng thành phố thông minh, do đó các giải pháp hỗ trợ, mục tiêu của các chính sách nhằm phát triển dịch vụ logistics phải gắn liền với quá trình triển khai thực hiện Đề án này. Trong bối cảnh đó, để thúc đẩy ngành dịch vụ logistics phát triển, nâng sức cạnh tranh cho Thành phố, trong thời gian tới, TP. Đà Nẵng tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

– Đường bộ: Lập Quy hoạch kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ TP. Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cho phù hợp với tình hình mới, đồng bộ với việc điều chỉnh quy hoạch chung TP. Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045. Xây dựng Dự án Điều tra, khảo sát và xây dựng phương án phân luồng tổ chức giao thông khu vực trung tâm thành phố, trong đó xây dựng mô hình tính toán, đánh giá, phân tích mạng lưới giao thông đô thị trên toàn Thành phố hoặc khu vực, làm cơ sở quy hoạch các trục đường chính, phân bố lại luồng giao thông, cân đối tổng thể mạng lưới giao thông và lộ trình tổ chức giao thông, phân luồng xe, lộ trình đầu tư các trục giao thông, kể cả giao thông trên cao và giao thông ngầm.

– Đường hàng không: Triển khai thủ tục để đầu tư mở rộng Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng – xây dựng Nhà ga T3. Về lâu dài, cần nghiên cứu xây dựng Đề án xây dựng mô hình đô thị sân bay tại khu vực Sân bay quốc tế Đà Nẵng.

– Đường thủy: Hiện nay, Chính phủ đã phê duyệt dự án và bố trí một phần vốn để xây dựng Cảng Liên Chiểu để di dời Cảng Tiên Sa vì hiện nay Cảng Tiên Sa khó có thể mở rộng và nâng công suất, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa trong tương lai, bên cạnh đó TP. Đà Nẵng cần có một cảng để phục vụ nhu cầu phát triển du lịch. Tuy nhiên, trước khi triển khai xây dựng Cảng Liên Chiểu, cần triển khai tính toán, đánh giá một cách thận trọng, khoa học vì khu vực Liên Chiểu được ưu tiên phát triển dịch vụ du lịch…

– Đường sắt: Cần thực hiện di dời ga đường sắt ra khỏi khu vực nội thị, lồng ghép dự án này vào dự án đầu tư tuyến đường sắt cao tốc Bắc Nam. Khi xây dựng nhà ga mới, cần phải quy hoạch quỹ đất để xây dựng các trung tâm logistics gần khu vực ga, các trung tâm này để có thể được sử dụng chung cho đường bộ, đường thủy và đường hàng không.

Bên cạnh đó, cần phải quan tâm đến việc mở các chương trình đào tạo, bồi dưỡng trung và ngắn hạn trong nước cũng như quốc tế với kế hoạch hợp tác đào tạo với các chuyên gia hoặc tổ chức nước ngoài tại các quốc gia có dịch vụ logistics phát triển mạnh và hiệu quả để đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

Thứ ba, về đầu tư công, khuyến khích, thu hút đầu tư ngoài ngân sách.

Khuyến khích, hỗ trợ các DN vận tải tự nâng cao chất lượng phương tiện – dịch vụ, củng cố và phát triển thương hiệu, từng bước hình thành các DN có đội xe lớn, tập đoàn vận tải có trụ sở chính đặt trên địa bàn Thành phố. Triển khai thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển cơ sở hạ tầng ngành dịch vụ logistics, trong đó tập trung nghiên cứu đề xuất đầu tư các khu logistics chuyên nghiệp như: Khu logistics Hòa Nhơn (Công ty TNHH MTV Cảng Đà Nẵng), Khu logistics trong Khu công nghệ cao (Ban quản lý Khu công nghệ cao thành phố), Khu logistics tại khu vực phía tây Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng (Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng) và phát triển mạng lưới giao thông kết nối Trung tâm logistics. Nghiên cứu đầu tư tuyến kết nối giao thông hướng Đông – Tây qua Sân bay quốc tế Đà Nẵng và nâng cấp, mở rộng cơ sở hạ tầng để tăng khả năng khai thác của Cảng Hàng không quốc tế Đà Nẵng.

Đẩy nhanh tiến độ các công trình như: Mở rộng hầm lánh nạn Hải Vân, Xây dựng đường Hồ Chí Minh đoạn La Sơn – Túy Loan (giai đoạn 2); nút giao thông Túy Loan trên đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi; Tuyến đường vành đai phía Tây (đoạn từ Quốc lộ 14B đến đường Hồ Chí Minh)… Tiếp tục phối hợp đề xuất các Bộ, ngành Trung ương ưu tiên đầu tư, nâng cấp mở rộng tuyến QL14B, 14G, 14D nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội trên hành lang kinh tế Đông Tây…

Bên cạnh đó, nghiên cứu và thực hiện mục tiêu ưu tiên xây dựng tuyến đường ven biển xuyên suốt toàn vùng. Đây là tuyến đường chiến lược về phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng, gắn với việc quy hoạch xây dựng các đô thị ven biển, hình thành “mặt tiền” của đất nước. Để thực hiện nhiệm vụ này, trong thời gian nhanh nhất, đề nghị Chính phủ xem xét phân bố tỷ lệ “vốn mồi”, còn chủ yếu huy động bằng “cơ chế”, trong đó có chính sách khai thác quỹ đất đô thị. Cần nghiên cứu chính sách đất đai và thuế đặc biệt ưu đãi để phát triển các đô thị trong các khu kinh tế ven biển, có thể nghiên cứu một số chính sách phù hợp sẽ áp dụng trong các đặc khu hành chính – kinh tế.

Thứ tư, về hợp tác phát triển vùng.

Triển khai thực hiện Đề án liên kết phát triển mạng lưới hạ tầng giao thông vận tải giữa Đà Nẵng và các địa phương vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Xây dựng trục kinh tế biển thống nhất với 10 tỉnh, thành phố là vùng kinh tế trọng điểm của quốc gia. Cụ thể, tiến hành điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thời kỳ 2021-2030, đồng thời rà soát lại, xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội các tỉnh duyên hải miền Trung phù hợp với không gian kinh tế Vùng. Trên cơ sở đó, mở rộng vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thêm 05 tỉnh: Quảng Trị, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận để thống nhất liên kết vùng 10 tỉnh, thành phố vùng duyên hải miền Trung và gắn Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung với Hội đồng đồng Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung phát triển thành trục kinh tế biển thống nhất, gắn kết chặt chẽ với Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ.

Rà soát quy hoạch chiến lược hệ thống hạ tầng của Vùng, làm rõ theo chức năng, không chồng chéo, không xung đột lợi ích, nhất là không dàn trải đầu tư kém hiệu quả, phân tán nguồn lực về: cảng biển, đường giao thông, sân bay của Vùng. Xây dựng cơ chế phối hợp Vùng trong việc đầu tư sân bay, cảng biển và giao thông kết nối nhằm tránh phân tán nguồn lực (kể cả kêu gọi đầu tư tư nhân) và thiếu gắn kết giữa cảng biển với hệ thống tổ chức logistics, các khu công nghiệp trong Vùng.

1. Thủ tướng Chính phủ (2018), Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg về việc ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam; 2. Bộ Công Thương (2017, 2018), Báo cáo logistics Việt Nam; 3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam; 4. Tổng cục Thống kê (2019), Kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở; 5. UBND TP. Đà Nẵng (2018), Quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng logistics TP. Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; 6. Vũ Văn Hiền (2019), Đổi mới tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Cộng sản; 7. Hai Nam Vu (2019), The strategic development in logistics in Vietnam. European Journal Engineering Research and Science; 8. PwC (2016), The future of the logistics industry, https://www.pwc.com/gx/en/transportation-logistics/pdf/the-future-of-the-logistics-industry.pdf.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Dịch Vụ Logistics Tại Công Ty Cổ Phần Vinafco trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!