Đề Xuất 12/2022 # Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số / 2023 # Top 15 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn về công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số là một trong những khâu quan trọng giúp giáo viên thực hiện hiệu quả các biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh. Thông qua các hình thức sinh hoạt chuyên môn, nhà trường chú trọng bồi dưỡng cho giáo viên một số vấn đề cơ bản sau: – Bản chất của tăng cường tiếng Việt là giúp học sinh chưa biết hoặc biết nói ít tiếng Việt có thể học tập các môn học trong hệ thống giáo dục sử dụng tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức. Tăng cường tiếng Việt không có nghĩa là tăng thêm lượng kiến thức mà chúng ta có thể giảm bớt hay nói cách khác là điều chỉnh lượng kiến thức làm cho nó dễ hiểu hơn, phù hợp hơn với đối tượng học sinh. – Tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số có vai trò quan quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Bởi vì, đối với học sinh dân tộc thiểu số tiếng Việt là ngôn ngữ thứ 2. Học sinh học bằng ngôn ngữ 1 (NN1) so với ngôn ngữ 2 (NN2) có sự khác biệt, cụ thể: + Học sinh học bằng NN1 có vốn tiếng Việt khoảng 4000 từ (trước khi đi học), tư duy trực tiếp bằng TV (tiếp cận TV tự nhiên), tiếp thu ngôn ngữ hiệu quả từ nghe – nói – đọc – viết và có tác động tích cực của gia đình, cộng đồng. + Học sinh học bằng NN2 thường không biết hoặc biết ít tiếng Việt, tư duy gián tiếp (tiếp cận tiếng Việt áp đặt), tiếp thu tiếng Việt hạn chế do không hình thành ngay được mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết, giữa âm thanh và ngữ nghĩa – ngữ pháp. Các em ít nhận được tác động từ môi trường gia đình, cộng đồng và chịu sự ảnh hưởng tiêu cực của tiếng mẹ đẻ. – Khi thực hiện tăng cường tiếng Việt cho học sinh, giáo viên cần giúp các em tiếp cận với kiến thức, kĩ năng các môn học thông qua kinh nghiệm mà các em trích lũy được trước đó (có thể bằng tiếng mẹ đẻ), theo mức độ từ dễ đến khó. Chú ý đến học sinh, đến cuộc sống và môi trường học tập của các em, tạo điều kiện để học sinh được học tập theo đặc điểm cá nhân. Vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học khác nhau nhằm lôi cuốn học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động học tập. Sử dụng đồ dùng học tập đa dạng, thường xuyên trong các hoạt động học tập. Hiểu được sự khác biệt giữa học sinh kinh và học sinh dân tộc thiểu số khi học tiếng việt sẽ giúp giáo viên lựa chọn được những phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc thiểu số ở địa phương; tạo điều kiện thuận lợi để giúp học sinh học bằng NN2 lấp được chỗ trống về sự chênh lệch khoảng 4000 từ (trước khi đến trường). b.2. Thực hiện hiệu quả công tác Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ trước tuổi đến trường Chuẩn bị tiếng Việt là bước đầu của tăng cường tiếng Việt. Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số trước khi học lớp một giúp các em có thể nghe hiểu một số câu, từ ngữ để giao tiếp với giáo viên, bạn bè; nhận diện được các chữ cái tiếng Việt, biết cách cầm bút, tư thế ngồi viết, thuộc một số bài hát, các nề nếp học tập…; có tâm thế sẵn sàng đi học, học các môn học và thực hiện các hoạt động giáo dục. Công tác chuẩn bị tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số thường được tổ chức trong dịp hè, trong khoảng thời gian một tháng vào trước năm học. Để thực hiện hiệu quả công tác này, trước hết, lãnh đạo nhà trường cần xây dựng kế hoạch Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số trước khi học lớp một; phân công nhiệm vụ cụ thể và triển khai kế hoạch kịp thời đến từng giáo viên trong trường; phối hợp tốt với thôn buôn và cha mẹ học sinh điều tra vận động học ra lớp. Chương trình học được thực hiện theo chương trình “Tập nói tiếng Việt cho học sinh dân tộc” theo tài liệu “Kế hoạch bài học Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ em trước tuổi đến trường” của Bộ (tài liệu  được cấp phát cho giáo viên tập huấn hè 2008), gồm 60 bài, 180 tiết. Căn cứ vào đối tượng HS cụ thể của từng lớp, lãnh đạo nhà trường chỉ đạo giáo viên lựa chọn một số nội dung ở tài liệu (phù hợp với đối tượng) để dạy cho trẻ. Ví dụ: – Căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị, giáo viên lựa chọn số lượng, thời lượng bài dạy cụ thể trong thời gian một tháng như sau: Tổng số bài dạy là 30 bài, mỗi bài học trong 03 tiết, mỗi tiết khoảng 30 phút, sau mỗi tiết học có 05 phút chuyển tiết, giữa mỗi buổi học có 15 phút để vui chơi. – Trong mỗi tiết học, ngoài thời gian tập nói, giáo viên dành từ 15 đến 20 phút để hướng dẫn học sinh tập nhận diện các chữ cái từ dễ đến khó, tập tô, tập viết các âm vần. Để đạt hiệu quả tốt, giáo viên cần tăng cường việc sử dụng đồ dùng dạy học (các thiết bị dạy học, tranh ảnh trực quan, đồ dùng dạy học tự làm…), tuyệt đối tránh dạy chay, hình thức. Cuối đợt học, giáo viên tổ chức khảo sát với từng học sinh để có kế hoạch phụ đạo, bồi dưỡng trong năm học. Đa số học sinh tham gia học tập là học sinh dân tộc thiểu số có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không thể vận động các em đóng góp để chi trả tiền bồi dưỡng cho giáo viên. Vì vậy, nhà trường có thể trích nguồn kinh phí chi thường xuyên của đơn vị để động viên, bồi dưỡng cho giáo viên trực tiếp giảng dạy. b.3. Tăng cường tiếng Việt trong các môn học Như chúng ta đã biết, trong điều kiện thực hiện một chương trình và một bộ sách giáo khoa, dù dạy học các môn học, bài học bằng tiếng Vệt cho học sinh Kinh hay học sinh dân tộc thiểu số thì giáo viên đều phải bám sát một chuẩn chung quốc gia về kiến thức và kĩ năng của các môn học. Để đáp ứng chuẩn này, khi dạy học các môn học cho học sinh dân tộc thiểu số, giáo viên cần tiến hành một số biện pháp tăng cường tiếng Việt nhằm giúp học sinh học bằng tiếng Việt có hiệu quả. – Chỉ đạo giáo viên chủ động điều chỉnh nội dung, thời lượng dạy học các môn học khác để tập trung vào dạy môn Tiếng Việt, Toán. – Thực hiện dạy học phân hóa đối tượng học sinh như: phân hóa theo sở thích, khả năng tiếp thu, đặc điểm cá nhân của học sinh,… – Sử dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; tăng cường tổ chức dạy học theo nhóm, trò chơi học tập; sử dụng đồ dùng dạy học thường xuyên, có hiệu quả; khuyến khích sử dụng các trò chơi học tập để tăng cường tiếng Việt và yêu thích tiếng Việt cho học sinh. – Tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích giáo viên tự học tiếng mẹ đẻ của học sinh để giúp các em vượt qua rào cản ngôn ngữ (có thể sử dụng song ngữ để giải nghĩa từ,) – Sử dụng hiệu quả đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh “Tài liệu bổ trợ tiếng Việt 1,2,3” để tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong các buổi học thứ hai. – Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm phối hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn để tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong tất cả các môn học (giáo viên chủ nhiệm lập danh sách những học sinh cần tăng cường tiếng Việt cho giáo viên bộ môn, giáo viên bộ môn dành thời gian trong mỗi tiết học để tăng cường tiếng Việt cho học sinh). – Riêng khối lớp một, chỉ đạo giáo viên thực hiện phương án tăng thời lượng tiếng Việt từ 350 tiết lên 500 tiết (3 tiết/ bài) đối với chương trình hiện hành ( trong những năm học trước và năm học 2016-2017). Bên cạnh việc thực hiện tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong tất cả các môn học, việc tổ chức dạy học môn Tiếng Êđê cho học sinh dân tộc thiểu số trong nhà trường cũng rất cần thiết. Học tiếng mẹ đẻ không chỉ giúp học sinh biết giữ gìn những bản sắc văn hóa riêng, chữ viết của dân tộc mình mà còn hỗ trợ đắc lực cho các em trong việc học tập các môn học khác, đặc biệt là môn tiếng Việt. Để giúp giáo viên thực hiện hiệu quả các biện pháp tăng cường tiếng Việt trong các môn học, lãnh đạo nhà trường phải thực sự đồng hành cùng giáo viên. Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, dự giờ thăm lớp, lãnh đạo nhà trường góp ý, chia sẻ và cùng giáo viên tháo gỡ những khó khăn trong quá trình thực hiện. b.4. Xây dựng môi trường học tiếng Việt cho học sinh b.4.1. Xây dựng môi trường học tiếng Việt trong nhà trường Những ấn tượng trực giác hết sức quan trọng đối với trẻ em, đặc biệt là giai đoạn đầu của bậc tiểu học. Nếu hằng ngày học sinh học sinh được tiếp xúc với một không gian lớp học và trường học tiếng Việt, thì chắc chắn tiếng Việt sẽ dần dần được khắc sâu vào trí nhớ của các em. Vì vậy, xây dựng môi trường học tiếng Việt trong nhà trường là một trong những yếu tố giúp giáo viên thực hiện hiệu quả công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Tùy vào tình hình thực tiễn, nhà trường định hướng cho giáo viên tạo cảnh quan tiếng Việt phù hợp. Ví dụ: – Đối với không gian trường học tiếng Việt có thể là: khẩu hiệu, áp phích, bản tin,; tên lớp, tên phòng chức năng, Bên cạnh đó, nhà trường cần thực hiện tốt việc xây dựng mô hình thư viện trường học thân thiện: thư viện xanh, thư viện lớp học, thư viện lưu động,Tăng cường các hoạt động giao tiếp trong trường học, lớp học thông qua hoạt động học tập, vui chơi,để thực hiện hiệu quả xây dựng môi trường học tiếng Việt trong nhà trường. b.4.2. Xây dựng môi trường học tiếng Việt trong gia đình – Khảo sát để nắm được điều kiện cụ thể của từng gia đình học sinh như: ti vi, sách báo, góc học tập, – Xây dựng kế hoạch vận động, hướng dẫn cha mẹ học sinh tạo môi trường tiếng Việt phù hợp với điều kiện từng gia đình, như: tạo góc học tập cho con em, đóng bàn ghế học tập, chọn vị trí đặt bàn học đủ ánh sáng, trang trí góc học tập (thời khóa biểu, giấy khen,); hướng dẫn cha mẹ học sinh tạo điều kiện về thời gian và nhắc nhở con em học bài, quan sát việc học của con em, nhắc nhở con em nghe radio, xem ti vi, đọc sách báo (nếu gia đình có), khuyến khích cha mẹ học sinh giao tiếp với con bằng tiếng Việt, b.4.3. Tổ chức hiệu quả các hoạt động ngoài giờ lên lớp Hoạt động ngoài giờ lên lớp đóng một vai trò quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, thực hiện mục tiêu giáo dục trong nhà trường. Chính từ những hoạt động như: hoạt động tập thể, hoạt động xã hội,…không chỉ trang bị cho các em những kiến thức cơ bản mà còn góp phần thực hiện hiệu quả việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, trau dồi cho các em những kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp, hình thành nhân cách học sinh, đem lại niềm vui cho các em khi đến trường. Để tổ chức hiệu quả các động ngoài giờ lên lớp, chúng tôi đã giao nhiệm vụ cho Tổng phụ trách đội phối hợp với Bí thư đoàn trường căn cứ hướng dẫn về hoạt động ngoài giờ lên lớp của Phòng Giáo dục và Đào tạo, nhiệm vụ năm học của nhà trường và đối tượng học sinh để xây dựng kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên lớp ngay từ đầu năm. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc triển khai thực hiện kế hoạch, rút kinh nghiệm và có sự điều chỉnh phù hợp trong quá trình thực hiện. * Một số hình ảnh Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp H1: Hội thi Phụ trách đội giỏi H2: Tổ chức các trò chơi dân gian trong tiết Hoạt động tập thể đầu tuần Bên cạnh việc tổ chức các hội thi, xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp cũng là một trong những tiêu chí được nhà trường hết sức quan tâm. Trước hết, phải xác định mục tiêu rõ ràng để giáo viên và học sinh thực hiện: giữ vệ sinh khuôn viên trường, vệ sinh nguồn nước, hệ thống thoát nước; giữ gìn vệ sinh và cảnh quan môi trường, có nhiều cây xanh bóng mát trong sân trường,… Tổ chức cho học sinh chăm sóc cây thường xuyên; vệ sinh phòng học đủ ánh sáng, thoáng mát, bàn ghế đúng qui cách, đủ chỗ ngồi; trang trí lớp học thân thiện. Tổ chức hiệu quả các hoạt động tập thể lành mạnh giúp xây dựng mối quan hệ tốt giữa thầy và trò, trò và trò. Giúp học sinh có kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt, ứng xử hợp lí các tình huống trong cuộc sống, kĩ năng làm việc và học tập theo nhóm, có ý thức rèn luyện và bảo vệ sức khoẻ, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội vì vậy, trong những năm học gần đây, không có tai nạn đáng tiếc nào xẩy ra với học sinh. Các em tự tin hơn trong giao tiếp, tích cực, tự giác hơn trong việc chấp hành các nội quy của nhà trường. b.5. Tăng cường công tác vận động duy trì sĩ số, tăng tỉ lệ chuyên cần Duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh nói chung và công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số nói riêng. Nó là nền tảng giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ và mang lại kết quả học tập tốt nhất. Để làm tốt công tác duy trì sĩ số, tăng tỉ lệ chuyên cần, chúng tôi đã thực hiện một số biện pháp sau: b.5.1. Công tác phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Bác Hồ đã chỉ rõ: “ Giáo dục các em là việc chung của gia đình, nhà trường và xã hội. Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải cùng nhau phụ trách, trước hết là phải làm gương cho các em hết mọi việc”. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác giáo dục học sinh. Muốn công tác phối hợp đạt hiệu quả cao, trước hết nhà trường phải thực sự là trung tâm văn hóa giáo dục ở địa phương. Luôn gương mẫu trong việc gìn giữ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội ở địa phương. Từ đó, địa phương sẽ đồng thuận, đồng lòng, đồng sức tham gia xây dựng nhà trường, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bên. Chuẩn bị cho năm học mới, ban giám hiệu nhà trường đã tổ chức thống kê số liệu học sinh đầu năm; tích cực tham mưu với cấp ủy, chính quyền phối hợp cùng các ban ngành đoàn thể địa phương tập trung truyên truyền lồng ghép trong các buổi họp thôn buôn, thông qua đài truyền thanh của xã về ngày toàn dân đưa trẻ đến trường. Làm tốt công tác tuyển sinh trẻ trong độ tuổi vào lớp 1. Đối với những gia đình ở xa thôn buôn, chúng tôi phân công giáo viên dân tộc tại chỗ đến tận nhà học sinh để vận động cha mẹ học sinh đưa trẻ đến trường nhập học. Sau ngày tựu trường, chỉ đạo giáo viên nắm tình hình sĩ số học sinh đến lớp, tìm hiểu nguyên nhân những học sinh chưa ra lớp, phối hợp với ban đại diện cha mẹ học sinh, chính quyền thôn buôn tìm biện pháp vận động phù hợp với từng đối tượng học sinh để huy động tối đa số học sinh trong độ tuổi đến trường. Thường xuyên kiểm tra việc đi học chuyên cần của học sinh nhằm phát hiện kịp thời những đối tượng học sinh có nguy cơ bỏ học để có giải pháp khắc phục, không để học sinh bỏ học lâu ngày rồi mới tìm hiểu nguyên nhân và vận động. Phối hợp với ban chỉ đạo xã tuyên truyền nâng cao nhận thức của gia đình và cộng đồng về vai trò của công tác giáo dục. Vận động các gia đình tạo điều kiện cho con em được đi học và thường xuyên quan tâm đến việc học của con em mình. Tham mưu với các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể cùng quan tâm chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của địa phương. Từ đó, huy động các nguồn lực và các lực lượng tích cực vận động học sinh đi học, học sinh bỏ học trở lại trường, hỗ trợ kịp thời những gia đình khó khăn để con em họ được đến trường như: hỗ trợ quần áo, sách vở, đồ dùng học tập… b.5.2. Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm Giáo viên chủ nhiệm có vai trò quan trọng trong việc giúp nhà trường thực hiện tốt công tác giáo dục học sinh, trong đó có công tác duy trì sĩ số. Một giáo viên chủ nhiệm tốt không chỉ giúp lớp mình học tốt mà còn biết cách để giúp học sinh siêng năng học tập, yêu thích đến trường và làm tốt công tác duy trì sĩ số học sinh. Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong công tác duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần, ngay sau khi tổ chức bàn giao chất lượng học sinh, chúng tôi tổ chức giao nhiệm vụ, chỉ tiêu duy trì sĩ số học sinh cho từng giáo viên chủ nhiệm lớp, xem đó là một trong những tiêu chí quan trọng để xét thi đua cuối năm. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm kiểm tra thường xuyên việc đi học chuyên cần của học sinh. Nếu học sinh nghỉ học không có lý do quá hai ngày, giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm đến nhà học sinh để vận động các em trở lại lớp. Trường hợp học sinh vẫn không ra lớp sau khi đã được vận động thì phải báo ngay cho ban giám hiệu nhà trường để kịp thời phối hợp ban đại diện cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương có biện pháp vận động học sinh đi học lại. Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên phối hợp chặt chẽ với gia đình để giáo dục học sinh. Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm cần hướng dẫn, khuyến khích học sinh tham gia tích cực các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Bằng việc tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp sẽ giúp các em được tiếp xúc với môi trưòng rộng lớn hơn, phong phú hơn. Từ đó, học sinh học hỏi được nhiều hơn, có kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt tốt hơn, yêu thích đến trường hơn và từng bước giúp các em hoàn thiện nhân cách của mình. b.5.3. Phối hợp tốt giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn Sự phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn có vai trò hết sức quan trọng trong công tác duy trì sĩ số học sinh, đặc biệt là tỉ lệ chuyên cần của học sinh trong các buổi học thứ hai. Vì vậy, bên cạnh việc giao trách nhiệm cho giáo viên chủ nhiệm, chúng tôi cũng gắn trách nhiệm cho giáo viên bộ môn trong công tác phối hợp vận động học sinh đi học đều, duy trì sĩ số học sinh. Học sinh thường vắng học vào buổi học thứ hai có thể vì do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên các em ở nhà phụ giúp gia đình tăng thêm thu nhập. Cũng có thể vì các em không thích môn học do giáo viên bộ môn dạy,…Vì vậy, giáo viên chủ nhiệm cần tìm hiểu nguyên nhân, phối hợp cùng giáo viên bộ môn đề ra các biện pháp thích hợp nhằm giúp các em có kết quả học tập tốt hơn ở các môn học, từ đó các em sẽ hứng thú học tập và đi học đều đặn. Hơn nữa, thông qua việc trao đổi với giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm sẽ nắm được

Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Trẻ Dân Tộc Thiểu Số Độ Tuổi 5 / 2023

Để giúp trẻ học ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong học tập cũng như trong cuộc sống. Tôi nghĩ trước hết cần dạy trẻ những kỹ năng chú ý nghe và phát âm thông qua môn văn học là vô cùng cần thiết. Trước khi vào dạy học thơ hay kể một câu chuyện nào đó, điều đầu tiên tôi chú ý là lựa chọn bài thơ, câu chuyện không quá dài, có nội dung hấp dẫn trẻ để cung cấp, vì trẻ dân tộc thiểu số rất hiếu động thời gian tập trung chú ý nghe cô giảng rất ngắn, nắm được điểm yếu này của trẻ vùng dân tộc thiểu số, là giáo viên tôi luôn tạo ra tình huống vui nhộn để lôi cuốn trẻ vào giờ học bằng một giọng nói lúc trầm lúc bổng để gây sự chú ý, khơi gợi tính tò mò của trẻ, đã tạo được tâm thế cho trẻ trước khi vào học tôi tiến hành đi vào giờ học chính bằng ngôn ngữ giới thiệu hấp dẫn từ ngữ thật gần gũi, thật dễ hiểu đối với trẻ, giáo viên đọc thơ hay kể chuyện với giọng thật truyền cảm, phối hợp các động tác minh học phù hợp, để lôi cuốn trẻ chăm chú lắng nghe, để lĩnh hội từng câu, từng lời của cô, tiếp đến tôi giảng nội dung câu chuyện, bài thơ một cách ngắn gọn để giúp trẻ dễ hiểu, tôi tiến hành cho trẻ đọc thơ theo tôi từng câu, tôi luôn đổi cách cho trẻ đọc thơ theo lớp tổ, nhóm, cá nhân, hay bạn nam và bạn nữ thi đua nhằm tạo khí thế cho trẻ trong một giờ học thơ, còn đối với chuyện thì cần kể nhiều lần và đàm thoại theo trình tự nội dung câu chuyện, và thể hiện giọng điệu, tính cách của từng nhân vật trong chuyện một cách phù hợp nhằm giúp trẻ khắc sâu hơn nội dung cũng như tính cách của các nhân vật trong chuyện, sau đó tôi tiến hành mời cháu khá lên kể lại chuyện cho cả lớp nghe, tôi không quên khuyến khích trẻ bằng một món quà hay thưởng bằng những tràng pháo tay động viên.

Chính nhờ như vậy học sinh lớp tôi ngày càng ham thích học thơ, kể chuyện, nhiều cháu thuộc thơ, kể lại câu chuyện một cách hoàn chỉnh, như vậy việc cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số của tôi gặt hái được nhiều thành công hơn so với trước, tôi vô cùng phấn khởi và tiếp tục áp dụng một số biện pháp khác để ngày nâng cao hiệu quả hơn.

một ngày. Khi trẻ đã có một số vốn từ nhất định, mức độ tiếp thu ngôn ngữ của trẻ nhanh hơn thì cô giáo có thể dạy trẻ số từ nhiều hơn. Các từ được ôn luyện thường xuyên trong các hoạt động khác nhau, ngữ cảnh, ngôn ngữ khác nhau, trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi có khả năng học thông thạo được từ 600 đến 800 từ tiếng Việt trong một năm. Việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số, tuỳ theo điều kiện khả năng của từng lớp, từng trẻ để đưa ra các biện pháp tích cực như: Dạy tiếng Việt thông qua chữ cái, kể chuyện, đọc thơ và các hoạt động khác Việc lặp lại các từ chính là để trẻ nghe và ghi nhớ các câu, từ trong từng nội dung bức tranh. Ví dụ: Cô mời bạn Y' Nêpan đi tìm bức tranh có hình ảnh (người mẹ bế em bé )... Để trẻ làm quen với từ "Mẹ bế em bé". 2. Thực trạng Năm học 2016- 2017 toàn trường có 404 học sinh trong đó có 172 học sinh dân tộc thiểu số chiếm 42,5%. Với phần trăm học sinh dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao như vậy, nên lãnh đạo nhà trường đã gặp không ít khó khăn trong công tác triển khai và lên kế hoạch giảng dạy cho các lớp đặc biệt việc phân công giáo viên về đúng lớp tại các lớp có 100% học sinh là dân tộc thiểu số. * Về ưu điểm Được sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo Phòng GD& ĐT huyện Krông Ana, sự quan tâm chính quyền địa phương và lãnh đạo Nhà trường Mầm non Ea Na, nên phân hiệu buôn Tơ Lơ đã có cơ sở vật chất kiên cố, phòng học thoáng mát sạch sẽ, sân chơi rộng rãi, nhà trường đã đầu tư một số trang thiết bị trong công tác dạy và học. Bên cạnh đó, giáo viên yêu nghề mến trẻ, tận tụy với học sinh, hết lòng hết sức nuôi dạy trẻ. Đặc biệt là có sự cần cù chịu khó và tinh thần đoàn kết, giáo viên và sự phối kết hợp giúp đỡ từ phía Hội cha mẹ học sinh. Đã tạo cho trường Mầm non Ea Na yên tâm về mặt tinh thần và ổn định về cơ sở vật chất. Gây hứng thú cho trẻ hoạt động, có môi trường xanh- sạch- đẹp, tạo được môi trường đảm bảo các hoạt động trong lớp, giúp trẻ có đủ điều kiện để phát triển tiếng Việt. Bên cạnh những ưu điểm trên vẫn còn một số tồn tại như sau: Lớp lá 4 phân hiệu Buôn Tơ Lơ thuộc trường Mầm non Ea Na là vùng sâu, vùng xa và đặc biệt khó khăn của xa Ea Na. Một số trẻ chưa học qua lớp mầm, chồi, đã học thẳng lên lớp lá như cháu Y- Hur Ayun, Y - Thum Niê, Y- Quy Bkrông chính vì vậy việc nghe và hiểu tiếng Việt của trẻ là rất khó khăn. Dân cư sống không tập chung, 100% là đồng bào dân tộc Êđê, việc bất đồng ngôn ngữ giữa cô và trẻ, do vậy làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc giáo dục trẻ. Địa hình phức tạp việc đi đến lớp học của trẻ mầm non còn gặp nhiều khó khăn. Mặt bằng kinh tế của người dân còn thấp, chủ yếu làm ruộng, làm rẫy, một số phụ huynh chưa nhận thức được rõ về tầm quan trọng của việc dạy tiếng Việt cho con em mình nó có tác dụng cần thiết như thế nào đối với việc nhận thức và hình thành nhân cách của trẻ. Mặt khác, một số phụ huynh không biết chữ, không được học qua trường lớp nào nên khả năng nhận thức của phụ huynh rất hạn chế dẫn đến không quan tâm đến việc học của con em mình. Phụ huynh không kết hợp với giáo viên để chăm lo việc học cho con em mình đạt kết quả tốt hơn Chính từ những khó khăn đó vào đầu năm học khi tôi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm trong công tác dạy học ở lớp Lá 4, chưa có kế hoạch đưa các biện pháp dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số thì chúng ta thấy kết quả thông qua các lĩnh vực thể hiện qua bảng kiểm tra đầu vào như sau: Lĩnh vực GD trẻ Trẻ không hiểu Trẻ hiểu Trẻ rất hiểu Phát triển ngôn ngữ 18/27 = 66,6% 6/27 = 22,2% 3/27 = 11,1% Phát triển nhận thức 16/27 = 59,2% 8/27 = 29,6% 3/27 = 11,1% Phát triển TC-XH 16/27 = 59,2% 7/27 = 25,9% 4/27 = 14,8% Phát triển thể chất 13/27 = 48,1% 9/27 = 33,3% 5/27 = 18,5% Phát triển thẩm mỹ 14/27 = 51,8% 10/27 = 37,0% 3/27 = 11,1% Nguyên nhân chủ quan dẫn đến kết quả trên: Do đầu năm cô vẫn chưa có phương hướng về công tác dạy trẻ làm quen tiếng Việt cho trẻ. Nguyên nhân khách quan: Do môi trường sống tạo ra, trẻ sống trong gia đình, thôn buôn 100% người dân dùng tiếng mẹ đẻ. Từ những ưu điểm, khuyết điểm, và nguyên nhân trên đã thôi thúc tôi cần có "Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số độ tuổi 5- 6 tuổi tại lớp Lá 4 trường Mầm non Ea Na". 3. Nội dung và hình thức của giải pháp a. Mục tiêu của giải pháp - Hiểu được ngôn ngữ phổ thông. - Biết lắng nghe và phát âm đúng tiếng Việt. - Trẻ mạnh dạn tự tin giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ tiếng Việt b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch, lựa chọn hình thức tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen tăng cường tiếng Việt. Khi lên kế hoạch dạy trẻ làm quen tăng cường tiếng Việt, trước hết tôi bám sát kế hoạch hoạt động của Nhà trường, trên cơ sở đó tôi xây dựng kế hoạch phù hợp với tình hình của lớp, lựa chọn nội dung cho trẻ làm quen tăng cường tiếng Việt, nhẹ nhang, đi từ dễ đến khó phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ. Trước tiên để xây dựng được một kế hoạch tôi dựa trên kế hoạch giáo dục trẻ mầm non, bộ chuẩn phát triển trẻ 5- 6 tuổi, sau đó nhìn vào tình hình thực tế của nhà trường, của lớp để lựa chọn nội dung phù hợp với trình độ nhận thức của trẻ mình. Khi lựa chọn giải pháp này, tôi phải theo dõi sự phát triển của từng trẻ trong tiết học, ở mọi lúc mọi nơi, để điều chỉnh các yêu cầu về hình thức luyện tập. Hệ thống câu hỏi, đàm thoại từng trẻ giúp trẻ không khó khăn trong việc lĩnh hội kiến thức. Xây dựng các góc hoạt động khác nhau trong lớp, có gắn các từ tiếng Việt nhằm tạo điều kiện cho trẻ hoạt động cá nhân, theo nhóm nhỏ được nhiều hơn, hình thức hoạt động phong phú, đa dạng hơn. Để trẻ học tiếng Việt thực sự có hiệu quả, giúp trẻ tự khám phá và phát triển ngôn ngữ giao tiếp. Ví dụ: Kế hoạch tổ chức cho trẻ làm quen tăng cường tiêng Việt cho trẻ 5- 6 tuổi. Cô cho trẻ làm quen tăng cường tiếng Việt thông qua tiết dạy thơ bằng cách cho trẻ đọc và phát âm chuẩn từng câu, từng từ trong bài thơ, cô cho trẻ đọc theo lớp, tổ, cá nhân, cô nhấn mạnh những từ khó hiểu và lồng ghép giải thích cho trẻ hiểu ý nghĩa của từ đó, như vậy sẽ giúp trẻ hiểu nhiều hơn ngôn ngữ tiếng Việt, từ đó giúp trẻ định hướng và hình dung được ý nghĩa của từ. Biện pháp 2: Tổ chức các tiết học làm quen tăng cường tiếng Việt nhẹ nhàng lôi cuốn trẻ. Mặt khác để góp phần đưa các biện pháp dạy tiếng Việt cho trẻ mầm non, giáo viên trực tiếp giảng dạy các cháu, tôi đã tổ chức họp tuyên truyền phụ huynh tích cực hợp tác với giáo viên, cùng thống nhất dạy tiếng Việt cho trẻ mọi lúc mọi nơi. Đặc biệt khi trẻ ở nhà các thành viên trong gia đình cần dùng tiếng Việt giao lưu với trẻ thường xuyên. Giáo viên cần phải có trách nhiệm gần gũi trò chuyện với trẻ kết hợp với cử chỉ, hành động để trẻ dần được làm quen với tiếng Việt một cách tự nhiên không gò bó. Ví dụ: Thông qua biện pháp trực quan hành động giúp cho người học tiếp thu có hiệu quả và học ngôn ngữ mới một cách tự nhiên hứng thú. Mục đích của phương pháp này nhằm giúp cho người học đạt được các mục đích như: hiểu và sử dụng ngôn ngữ mới trong giao tiếp, hình thành và rèn luyện kỹ năng nghe, nói một ngôn ngữ mới. Không cho trẻ nói khi chưa thực hiện thành thạo được các hành động, để có thể tập trung lắng nghe chuẩn xác. Khi đã nghe rõ, hiểu, thuộc và tự tin làm đúng, trẻ sẽ tự muốn nói và có thể tự thực hành với bạn của mình, giáo viên cần cho trẻ đều được thực hành ở mỗi lần học. Chỉ sử dụng ngôn ngữ đơn giản, ngắn gọn, không dẫn dắt, giảng giải nhiều vì trẻ chưa hiểu tiếng việt. Khi dạy trẻ, giáo viên cần xác định trước những loại từ, câu nào sẽ sử dụng khi hướng dẫn trẻ. Nên sử dụng các điệu bộ cử chỉ để ra hiệu cho trẻ hiểu ý đồ của mình, thay cho việc nói nhiều của người dạy. Lúc đầu dạy từ 1- 2 từ dễ hiểu kết hợp với hành động như: Đứng lên, ngồi xuống... đến ngày hôm sau cô giáo cần cho trẻ ôn lại những gì được học ngày hôm trước, để khắc sâu sự ghi nhớ bằng hình thức chơi mà không cần phải giữ nguyên thứ tự từ các bước ngày hôm trước dạy nữa ví dụ: Đứng lên- ngồi xuống, ngồi xuống- đứng lên, rửa tay- rửa chân Dạy tiếng Việt với biện pháp trực quan hành động với đồ vật, biện pháp này dạy trẻ các từ mới như: Cái bàn, cái ghế, quyển vở Ngoài ra, tôi còn sử dụng các biện pháp dạy trẻ học tiếng Việt qua kể chuyện, đóng vai, đối với mỗi câu chuyện, làm các đồ chơi minh hoạ, đơn giản tượng trương cho các nhân vật chính, sử dụng các nhân vật có sẵn để làm đồ dùng minh hoạ. Hoặc trẻ học tiếng Việt thông qua việc dạy trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái tiếng việt. Nội dung chủ yếu của việc dạy này là giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng chữ cái. Chúng ta có thể coi việc giúp trẻ làm quen với chữ cái là cốt lõi của việc làm quen với tiếng Việt có nghĩa là việc cho trẻ làm quen với chữ cái chưa phải là tất cả những nội dung công việc giúp trẻ làm quen với tiếng Việt. Cách gọi làm quen với tiếng Việt thường gợi ra một phạm vi nội dung rộng rãi hơn so với cách gọi làm quen với chữ cái. Do đó có thể thấy nội dung dạy trẻ làm quen với tiếng Việt không chỉ là dạy trẻ phát âm, dạy trẻ tập tô 29 chữ cái mà còn dạy trẻ đọc đúng các chữ cái, các từ trong tranh, hiểu được nội dung của từ và biết dùng từ để diễn đạt thành câu, muốn được như vậy trước hết ta phải giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái trong tiếng Việt. Có một số ít trẻ nói được tiếng Việt nhưng chưa biết các chữ cái hay từ ngữ của tiếng Việt. Vì vậy việc dạy trẻ làm quen với chữ cái giúp trẻ nhận biết chính xác cấu tạo của chữ cái, cách phát âm để từ đó trẻ nghe cô phát âm để tìm được chữ cái tương ứng, nhìn chữ cái phát âm được chữ cái. Ví dụ: Hôm nay cô cho trẻ nhận biết chữ s -x chẳng hạn: Cô cho trẻ xem tranh " Hoa Sen xanh " cho trẻ đọc từ: Hoa sen xanh Trẻ nhận biết trong từ Hoa sen xanh có bao nhiêu tiếng ? Có mấy chữ cái ? Rồi cô ghép thẻ chữ rời cho cháu nhận biết dấu thanh tìm chữ đã học rồi phát âm lại những chữ đó. Còn lại cô giới thiệu cho trẻ làm quen s- x, tôi phân tích các nét cơ bản cấu tạo nên chữ cái s- x, cho trẻ phát âm chữ s- x nhiều lần giúp trẻ khắc sâu cấu tạo của chữ cái và trẻ nhận biết một cách chính xác từng chữ cái. Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ thông qua việc làm quen với chữ cái: Ví dụ: Trò chơi tìm chữ cái s- x trong từ "Hoa sen " Tôi viết bài thơ lên giấy Rô ki (mỗi tờ tranh đã được viết nôi nội dung một bài ), chia lớp thành 2 đội, mời đại diện của 2 đội lên dùng bút tìm và gạch chân chữ s- x có trong các từ trong mỗi câu thơ và đọc chữ cái gạch chân. Đội nào tìm và gạch chân được nhiều chữ s- x thì chiến thắng và được tuyên dương. Tôi còn cho trẻ nhận biết và phát âm chữ cái qua nhiều trò chơi khác như "Nối chữ cái với từ có chứa chữ cái đó ", "Tìm chữ cái trong đoạn thơ " Dạy trẻ phát âm tiếng Việt thông qua trò chơi tìm chữ cái theo yêu cầu của cô" Tăng cường tiếng Việt thông qua trò chơi gắn chữ cái trên đồ dùng, đồ chơi, "Xếp chữ cái bằng hột hạt ". "Xếp các nét cơ bản tạo thành chữ cái "... Bên cạnh đó tôi luôn tranh thủ thời gian tự làm thêm một số đồ dùng đồ chơi để cho trẻ được thực hành trải nghiệm. Tôi thiết nghĩ trẻ được thực hành trải nghiệm nhiều với đồ dùng đồ chơi sẽ giúp trẻ ghi nhớ chữ cái một cách sâu sắc hơn, tập phát âm tiếng Việt một cách chuẩn hơn. Từ đó cũng góp phần không nhỏ vào việc cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ. Qua một thời gian thực hiện, lớp tôi tiến bộ rõ rệt, trẻ hứng thú trong học tập, nhiều cháu thuộc chữ cái và phát âm đúng chữ cái do tôi cung cấp. Tôi tiến hành lên kế hoạch nghiên cứu và áp dụng việc cung cấp tiếng Việt vào các hoạt động như: Tăng cường tiếng Việt cho trẻ thông qua môn văn học: Để giúp trẻ học ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong học tập cũng như trong cuộc sống. Tôi nghĩ trước hết cần dạy trẻ những kỹ năng chú ý nghe và phát âm thông qua môn văn học là vô cùng cần thiết. Trước khi vào dạy học thơ hay kể một câu chuyện nào đó, điều đầu tiên tôi chú ý là lựa chọn bài thơ, câu chuyện không quá dài, có nội dung hấp dẫn trẻ để cung cấp, vì trẻ dân tộc thiểu số rất hiếu động thời gian tập trung chú ý nghe cô giảng rất ngắn, nắm được điểm yếu này của trẻ vùng dân tộc thiểu số, là giáo viên tôi luôn tạo ra tình huống vui nhộn để lôi cuốn trẻ vào giờ học bằng một giọng nói lúc trầm lúc bổng để gây sự chú ý, khơi gợi tính tò mò của trẻ, đã tạo được tâm thế cho trẻ trước khi vào học tôi tiến hành đi vào giờ học chính bằng ngôn ngữ giới thiệu hấp dẫn từ ngữ thật gần gũi, thật dễ hiểu đối với trẻ, giáo viên đọc thơ hay kể chuyện với giọng thật truyền cảm, phối hợp các động tác minh học phù hợp, để lôi cuốn trẻ chăm chú lắng nghe, để lĩnh hội từng câu, từng lời của cô, tiếp đến tôi giảng nội dung câu chuyện, bài thơ một cách ngắn gọn để giúp trẻ dễ hiểu, tôi tiến hành cho trẻ đọc thơ theo tôi từng câu, tôi luôn đổi cách cho trẻ đọc thơ theo lớp tổ, nhóm, cá nhân, hay bạn nam và bạn nữ thi đua nhằm tạo khí thế cho trẻ trong một giờ học thơ, còn đối với chuyện thì cần kể nhiều lần và đàm thoại theo trình tự nội dung câu chuyện, và thể hiện giọng điệu, tính cách của từng nhân vật trong chuyện một cách phù hợp nhằm giúp trẻ khắc sâu hơn nội dung cũng như tính cách của các nhân vật trong chuyện, sau đó tôi tiến hành mời cháu khá lên kể lại chuyện cho cả lớp nghe, tôi không quên khuyến khích trẻ bằng một món quà hay thưởng bằng những tràng pháo tay động viên. Chính nhờ như vậy học sinh lớp tôi ngày càng ham thích học thơ, kể chuyện, nhiều cháu thuộc thơ, kể lại câu chuyện một cách hoàn chỉnh, như vậy việc cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số của tôi gặt hái được nhiều thành công hơn so với trước, tôi vô cùng phấn khởi và tiếp tục áp dụng một số biện pháp khác để ngày nâng cao hiệu quả hơn. Cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi: Thực tế cho ta thấy rằng bất đồng ngôn ngữ là rất khó khăn trong giao tiếp, vì vậy ngoài những biện pháp nêu trên áp dụng có hiệu quả, tôi tiến hành cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ thông qua mọi lúc mọi nơi. Biệp pháp 3: Sử dụng phương tiện trực quan trong hoạt động làm quen tăng cường tiếng Việt. - Sử dụng công nghệ thông tin. Để đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của công nghệ thông tin mà ngành Giáo dục đặt ra, khi hoạt động Làm quen tăng cường tiếng Việt cần đầu tư sử dụng có hiệu quả, hơn nữa trẻ mầm non với đặc điểm tư duy trực quan hành động là chủ yếu, khả năng tập trung của trẻ còn ngắn và chưa bên vững nhưng trẻ rất hứng thú với các hình ảnh trực quan minh họa gây ấn tượng tá động đến mọi giác quan như: hình ảnh, âm thanh, màu sắc, sống động Vì thế, việc ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế và sử dụng giáo án điện từ, cài đặt và sử dụng một số phần mềm vui chơi, học tập đa dạng và phong phú. Sẽ kích thích hứng thú, sự tập trung chú ý và ghi nhớ có chủ định của trẻ vào bài giảng. Ví dụ: Cô cho tổ cho trẻ làm quen với từ "con vật sống trong rừng " qua chủ để thế giới động, cụ thể ở đây cô cho trẻ quan sát hình ảnh con "con voi, con sư tư, con nai " dưới hình ảnh cô có từ "con vật sống trong rừng ", cô sẽ tải hình ảnh video và dạy trẻ thông qua máy tính, từ hình ảnh trong đoạn video trẻ sẽ được lôi cuốn bởi những con vật mới lạ, ngộ nghĩnh, kích thích sự tò mò của trẻ, từ đó giúp tập trung trong giờ học, trẻ tiếp thu bài tốt hơn và có hiệu quả hơn, mặt khác thông qua đó trẻ không cảm thấy chán nản và mệt mỏi, mà giúp trẻ chú ý vào giờ học lâu hơn khả năng tiếp thu bài nhanh mà những đồ dùng dạy học khác không thể nào mang lại được. Ngoài việc sử dụng công nghệ thông tin cho việc minh họa cho một số bài dạy ở trên lớp, giáo viên còn thiết kế các bài dạy để có thể đàm thoại về nội dung tác phẩm hoặc cho trẻ thể hiện từng đoạn trong tác đề tài dạy tăng cường tiếng Việt. Biện pháp 4: Tích hợp tăng cường tiếng Việt vào các hoạt động khác trong ngày. Như chúng ta đã biết khả năng tiếp thu của trẻ dân tộc thiểu số rất chậm, mau quên nhưng khi đã nhớ được thì lại nhớ rất lâu nên tôi tiến hành cho trẻ tiếp xúc với vốn tiếng Việt bằng phương châm "Mưa dầm thấm lâu " cho nên việc cung cấp ngôn ngữ tiếng Việt ở mọi lúc, mọi nơi vô cùng hiệu quả, ví dụ: Giáo viên luôn vui vẻ, thương yêu trẻ, sửa sang quần áo, chải tóc cho trẻ và không quên kèm theo một số câu hỏi giao lưu như: Con mặc quần áo đẹp quá. Con ăn cơm chưa ? Ăn bao nhiêu cơm ? Ăn với thức ăn gì ? Con ăn có ngon không ? Hay tôi hỏi về gia đình trẻ: Nhà con có bao nhiêu người ? Con có em bé không ? Mẹ con làm nghề gì ?... Qua trò chuyện với trẻ như vậy. Giáo viên sẽ nắm được khả năng phát âm của mỗi trẻ để có biện pháp và giành nhiều thời giờ hơn giúp trẻ phát âm đúng, phát âm chuẩn tiếng Việt. Giờ chơi tự do tôi hay dẫn trẻ đến các góc trò chuyện và phát âm các từ có trong tranh, từ ở các góc, giáo viên cần dạy trẻ phát âm nhiều lần và cho trẻ chỉ phát âm chữ cái có trong tranh con vật, hoa, cây quả có từ mang chữ cái đang học, trẻ đọc qua nhiều lần như vậy. Trẻ dân tộc trường tôi phát âm chuẩn hơn và mạnh dạn hơn trong giao tiếp với cô, với bạn, bạn biết chỉ cho bạn chưa biết, hoặc mạnh dạn đến hỏi cô, từ đó trẻ không còn rụt rè như trước nữa. Ngoài ra trong giờ hoạt động ngoài trời tôi còn chỉ đạo Giáo viên chủ nhiệm các lớp cho trẻ ôn kiến thức đã học qua trò chuyện, đọc thơ, kể chuyện, chơi các trò chơi dân gian, cho trẻ đọc đồng dao, ca dao trong hoạt động này giúp trẻ phát âm thành thạo hơn, lưu loát hơn. Tạo không khí thân thiện, gần gũi giữa cô giáo và trẻ, vấn đề này đặc biệt cần thiết và không thể thiếu được đối với trẻ dân tộc thiểu số. Giờ vui chơi tôi cho trẻ đóng các vai khác nhau, trẻ được giao lưu trao đổi mua bán và thể hiện hết vai chơi của mình, bên cạnh đó tôi luôn theo sát trẻ để kịp thời sửa sai uốn nắn mỗi khi trẻ hỏi hoặc trả lời không có trọng tâm

Một Số Giải Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Tiểu Học Vùng Dân Tộc Thiểu Số Tỉnh Thanh Hóa / 2023

Một số giải pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa

Thanh Hoá hiện có khoảng 3,6 triệu người, chủ yếu gồm 7 dân tộc anh em cùng sinh sống (Kinh, Mường, Thái, Dao, Thổ, HMông, Khơ-mú); tổng dân số các dân tộc miền núi là 836.707 người. Về tổ chức hành chính, Thanh Hoá có 27 đơn vị huyện, thị, thành phố; riêng 11 huyện miền núi chiếm 2/3 diện tích toàn tỉnh, gồm 102 xã diện đặc biệt khó khăn và 47 xã vùng cao biên giới. Năm học 2017-2018, Thanh Hóa 79 tiểu học (TH), 6 trường liên cấp TH&THCS ; có 10.165 lớp TH với 274.948 học sinh (HS), trong đó có 59.340 HS dân tộc thiểu số (DTTS).

Hầu hết các trường TH vùng DTTS ở Thanh Hóa đều xa khu vực trung tâm, trường được chia làm nhiều khu lẻ, có các khu lẻ cách điểm trường chính từ 8 đến 10 km, đường sá đi lại khó khăn, vẫn còn phải ghép lớp 2-3 trình độ. Việc kiểm tra, đôn đốc của nhà trường và các cấp quản lí giáo dục (GD) vì thế cũng gặp nhiều trở ngại. Cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn, trang thiết bị dạy học hiện đại còn ít. Phòng học, phòng chức năng, phòng thư viện còn thiếu nhiều. Một số điểm lẻ cho đến thời điểm này vẫn không có điện lưới. DTTS thường nói tiếng mẹ đẻ là chính, nói Việt (TV) rất ít, phát âm chưa chuẩn. Nhiều HS còn e dè, nhút nhát, thiếu tự tin khi đến trường. Phong tục, tập quán của người dân còn nặng nề, lạc hậu; làng, bản có đám cưới, đám tang là HS lại nghỉ học 2-3 ngày, thậm chí hàng tuần. HS đi học không đều cho nên việc giao tiếp TV rất hạn chế. HS con hộ nghèo chiếm đa số. Các em đến trường gặp nhiều khó khăn, như thiếu đồ dùng học tập, sức khỏe của trẻ không đảm bảo, từ đó ảnh hưởng nhiều tới kết quả học tập. HS chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập; trình độ tư duy, vốn kiến thức cơ bản, khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế; khả năng chú ý và tập trung vào bài học không bền. HS chậm biết đọc, biết viết; nhiều em đọc chậm, đọc sai, viết chậm, viết sai; đây là điểm hạn chế lớn nhất.

có công văn hướng dẫn tổ chức Hội thảo tăng cường tiếng Việt cho HS DTTS ở cấp trường, huyện, tỉnh. Các cấp quản lí GD xây dựng nội dung Hội thảo. Qua hội thảo, nắm rõ được thực trạng, nguyên nhân từ đó đề ra những giải pháp tăng cường TV cho HS DTTS, khắc phục tình trạng HS yếu về TV. Hằng năm, Sở chỉ đạo các cấp quản lí GD mở các lớp tập huấn, chuyên đề; tổ chức tốt việc sinh hoạt định kì, hội thảo, hội giảng. Thường xuyên chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) phù hợp với đối tượng HS và đặc thù của vùng, miền; chỉ đạo giáo viên (GV) thiết kế bài học linh hoạt, không rập khuôn, máy móc; sử dụng triệt để và hiệu quả các đồ dùng, trang thiết bị dạy học được cấp và tự làm. Tăng cường công tác kiểm tra, dự giờ thăm lớp, khảo sát chất lượng HS, trao đổi kinh nghiệm. Chỉ đạo tổ chức các chuyên đề, các cuộc giao lưu cho HS như giao lưu TV của chúng em; mở câu lạc bộ TV để nâng cao vốn TV cho HS.

Tổ chức dạy tập nói TV cho HS dân tộc trước khi vào lớp 1 và chú ý các biện pháp tăng cường TV trong các môn học, tạo môi trường học tập, giao tiếp bằng TV cho tất cả các học sinh còn yếu về TV. Ở trường, GV có thể sử dụng tiếng dân tộc để hướng dẫn các em thực hiện một số hoạt động học tập, vui chơi, sau đó dần dần chuyển sang sử dụng TV. Tăng cường tổ chức các trò chơi, tạo môi trường GD thân thiện, gần gũi giữa thầy và trò. Rèn cho HS ý thức thường trực phấn đấu vươn lên, kiên trì vượt khó để đi học đều và chăm học, mạnh dạn và tự tin tham gia các hoạt động học tập. Tăng cường công tác Đoàn Đội, các hoạt động tập thể, hoạt động ngoại khoá, tạo không khí vui tươi trong nhà trường, gây hứng thú học tập cho HS, qua đó rèn luyện thói quen sinh hoạt tập thể có nền nếp và mở rộng môi trường giao tiếp bằng TV. Thực hiện tinh giản nội dung, giữ lại các nội dung dạy học cơ bản và quan trọng nhất, theo đúng mức độ cần đạt nêu trong Chuẩn kiến thức kĩ năng (KT-KN) và Hướng dẫn điều chỉnh nội dung các môn học của Bộ. Dành thời gian luyện tập các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết ở mức độ sơ giản trong môn Tiếng Việt, tiến hành kiểm tra thường xuyên trong mỗi buổi học. Hạn chế tối đa sử dụng tiếng địa phương trong dạy học.Tăng cường luyện đọc với các hình thức: cá nhân, nhóm, đồng thanh. Quan tâm lắng nghe, theo dõi, nhắc nhở, uốn nắn kịp thời. Những HS chưa biết đọc, viết, GV phải dạy tăng buổi với nội dung đọc, viết: âm, vần, ghép vần, tiếng, từ, câu, đoạn đơn giản. Thường xuyên kiểm tra, chữa bài chu đáo và động viên HS. Khâu chữa bài phải được thực hiện cẩn thận, tỉ mỉ, qua đó GV chỉ rõ các lỗi của HS; sửa lỗi và hướng dẫn HS sửa lỗi. Thường xuyên đến thăm gia đình HS để trao đổi và động viên cha mẹ HS, nhắc nhở các em học tập, tạo môi trường TV ở gia đình, tạo điều kiện cho các em thường xuyên làm quen với ngôn ngữ TV.

Ban đại diện có sự liên lạc thường xuyên với phụ huynh HS, tạo điều kiện và cơ hội học tập tốt nhất cho HS. Phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc quan tâm kiểm tra và hướng dẫn việc tự học của HS. Thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở con cái học hành chuyên cần, chăm chỉ; tăng cường sử dụng TV ở môi trường giao tiếp của gia đình và cộng đồng. Luôn đảm bảo đầy đủ và cập nhật thông tin 2 chiều từ phía nhà trường và từ phía phụ huynh HS về chất lượng và sự chuyển biến về chất lượng HS.

Để nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt đối với HS DTTS, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Bố trí những giáo viên nhiệt tình, có trình độ chuyên môn và trách nhiệm cao, là người địa phương hoặc thông thạo tiếng địa phương làm công tác chủ nhiệm lớp và dạy môn Tiếng Việt. Dạy học theo chuẩn kiến thức và kĩ năng; lựa chọn nội dung, PPDH phù hợp với từng đối tượng HS, phù hợp với địa phương; tăng cường làm đồ dùng dạy học và sử dụng triệt để những đồ dùng dạy học được cấp phát, tăng cường công tác dự giờ đồng nghiệp trong trường và trường bạn. Xây dựng đội ngũ GV cốt cán huyện làm công tác hỗ trợ về chuyên môn cho các trường. Nắm chắc nguyên tắc dạy TV cho HS DTTS:TV là ngôn ngữ thứ hai.Xây dựng môi trư­ờng học TV thuận lợi và phù hợp (tài liệu, thời gian, thời lượng, ngư­ời dạy, nơi dạy, cách dạy, …). Nội dung, PPDH phải đ­ược chuẩn bị kĩ, chắc chắn; học đâu đ­ược đấy, học gì đ­ược nấy. Vận dụng linh hoạt kế hoạch dạy học; tăng thêm học liệu, tăng thời lượng, đổi mới PPDH. Sử dụng triệt để các tài liệu, học liệu sau: SGK Tiếng Việt; Bài soạn dãn tiết (nội dung trong các tiết học ít hơn, phù hợp với khả năng HSDT); Tranh hướng dẫn HS tập nói; Các bài hát, bài thơ, đồng dao; Các trò chơi; Tập Bài soạn, h­ướng dẫn thực hiện chương trình; Vở bài tập; Truyện tranh chữ to. Thực hiện dạy học Tiếng Việt lớp 1 cho HSDT theo hướng điều chỉnh kế hoạch dạy học từ 350 tiết/năm lên thành 500 tiết/năm (phương án tăng thời lượng môn Tiếng Việt).

Tạo mọi điều kiện về thời gian để HS được thực hành các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói. Tăng thời lượng dạy học Học vần từ 2 tiết lên 3 tiết/bài. Sử dụng triệt để các đồ dùng được cấp phát trong dạy học; tăng cường làm và sưu tầm các đồ dùng dạy học đơn giản, có sẵn ở địa phương. Tăng cường sử dụng các đồ dùng trực quan sinh động, các hình thức dạy học phát huy tính tích cực của HS. Không giải nghĩa từ bằng duy danh định nghĩa, từ điển mà nên giải nghĩa từ bằng các hình ảnh trực quan, các vật thật hoặc đưa các từ vào trong văn cảnh cụ thể để học sinh hiểu được nghĩa của từ.

Kết hợp nhiều hình thức, biện pháp tổ chức dạy đọc thích hợp để huy động được nhiều HS đọc. Một trong những hình thức tối ưu đó là chia nhóm, đọc nối tiếp. Thực hiện quy trình dạy tập đọc linh hoạt phù hợp với từng thể loại văn bản và từng giai đoạn học tập của HS. Tăng thời lượng dạy học Tập đọc (tăng số tiết/bài cụ thể).

GV chú ý rèn luyện giọng kể của mình, làm cho HS hứng thú khi nghe kể chuyện, coi trọng các thủ pháp mở đầu câu chuyện, thêm tình tiết cho văn bản truyện. Sử dụng linh hoạt các biện pháp dạy học thích hợp: làm mẫu, dẫn dắt, gợi mở bằng câu hỏi hoặc tranh ảnh nhằm khích lệ HS mạnh dạn, tự tin, tích cực tham gia vào các hoạt động rèn kĩ năng nói của mình. Hướng dẫn HS kể bằng lời của mình, không đọc thuộc lòng nguyên xi câu chuyện. Tổ chức tốt các hình thức luyện tập, gây hứng thú đối với HS (phân vai, hoạt cảnh, đóng kịch…); chú ý tạo mọi cơ hội cho HS được thực hiện luyện tập kể chuyện trên lớp, trong nhóm, tổ hoặc theo cặp.

GV viết chữ mẫu đúng và đẹp cho HS quan sát. Dạy HS viết đúng các nét chữ cơ bản, các chữ có nét cơ bản giống nhau; dạy HS nắm vững độ cao các chữ; hướng dẫn HS cụ thể về các yêu cầu kĩ thuật viết từng nét chữ, điểm đặt bút, điểm dừng bút trên dòng kẻ li để hình thành nên một chữ cái, rồi đến tiếng, từ, cụm từ và cả câu. Đối với HS DTTS, GV cần viết lại chữ mẫu nhiều lần để HS bắt chước viết theo; rèn tư thế ngồi viết đúng cho HS.

GV chuẩn bị và hướng dẫn HS chuẩn bị tốt các đồ dùng viết bài chính tả (vở, bút, bảng lớp, bảng phụ). Chú ý cách đọc: đọc to, rõ ràng, điều chỉnh tốc độ đọc cho phù hợp với trình độ HS. Có thể thay đổi bài tập chính tả nhằm khắc phục lỗi phổ biến của HS trong lớp. Thường xuyên chữa bài, thống kê lỗi và sửa lỗi cho HS, đồng thời hướng dẫn HS cách kiểm tra bài, soát và chữa lỗi cho nhau.

Với HS DTTS, đa số các em vốn TV có rất ít bởi vì trước khi đến trường các em ít được làm quen với TV; giao tiếp với bố mẹ, cộng đồng chủ yếu bằng tiếng mẹ đẻ. Vì vậy, trẻ đến lớp trước tiên phải học nói, học giao tiếp sau đó mới học đến tập đọc, tập viết. Việc dạy và học đối với các em có thể diễn ra mọi nơi, mọi lúc, với mọi đối tượng.

Tạo môi trường học trong nhà trường: tạo cảnh quan trong và ngoài lớp học: không gian lớp học (trang trí, trưng bày, …), không gian trường học (khẩu hiệu, bản tin, …). Tạo cơ hội thực hiện các hoạt động giao tiếp (trong giờ học và các hoạt động tập thể, trò chơi, văn nghệ, …). Tạo môi trường ở gia đình: tạo góc học tập (chú ý trang trí). Kiểm tra, hỏi han, trao đổi bằng . Nghe radio, xem tivi, đọc truyện tranh, sách báo và trao đổi. Tạo môi trường trong cộng đồng: vận động cộng đồng giao tiếp đơn giản với HS bằng (chào, hỏi, …). Mở chuyên mục phát thanh dành cho thiếu nhi (thông tin mới, nêu gương tốt, hát, kể chuyện, đọc thơ, …). Tổ chức lễ hội, văn nghệ thể thao, các trò chơi.

Tăng cường TV cho việc làm thiết thực để nâng cao chất lượng GD nói chung và chất lượng HS vùng DTTS nói riêng. Đây là việc làm cần tới sự bền bỉ, sự nỗ lực to lớn của ngành GD và đào tạo, sự cống hiến, hi sinh lớn lao của các thầy cô giáo cùng với sự tham gia của toàn xã hội, đặc biệt là sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, của các cấp chính quyền địa phương trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách xã hội, chính sách GD cho miền núi, vùng cao, vùng khó khăn, vùng DTTS. Có những chính sách cần tiếp tục củng cố, phát huy, có những chính sách cần phải bổ sung, điều chỉnh và có những chính sách mới cần phải xây dựng./.

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Tiểu Học Vùng Dân Tộc Thiểu Số / 2023

Huyện Ngọc Hồi nằm ở phía bắc tỉnh Kon Tum, phía Bắc giáp với huyện Đắk Glei và huyện Tu Mơ Rông, phía Đông giáp với huyện Đắk Tô, phía Đông Nam giáp với huyện Sa Thầy. Có đường biên giới với 2 nước Lào và Cam Phu Chia. Diện tích 824 km². Có 7 xã và 1 thị trấn. Dân số 56.284 người với 17 dân tộc trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 55,66% .

Trình độ dân trí một số vùng khó khăn còn thấp. Việc ứng dụng khoa học công nghệ vào việc phát triển kinh tế, nhất là kinh tế nông nghiệp còn nhiều hạn chế.

Năm học 2017-2018, toàn huyện có 14 trường tiểu học với 218 lớp, 6256 học sinh. Học sinh dân tộc thiểu số ( DTTS) là 3806 em, tỉ lệ 61%. 100 trường tổ chức dạy học 2 buổi/ ngày. Trẻ 6 tuổi vào học lớp 1 đạt tỷ lệ 100%.

Huyện duy trì tốt kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ trong đó có 6/8 xã, thị trấn đạt mức độ 3.

1. Những thuận lợi, khó khăn chính khi triển khai thực hiện nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số a. Những thuận lợi chính

Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Sở Giáo dục và Đào tạo, của chính quyền địa phương, sự phối hợp chặt chẽ các tổ chức đóng chân trên địa bàn.

100% học sinh được học 2 buổi/ ngày.

Cha mẹ học sinh ngày càng nâng cao nhận thức và quan tâm hơn đến việc học tập của con em mình.

100% CB, GV có trình độ đào tạo chuẩn trở lên trong đó 92% trên chuẩn. Đại bộ phận CBQL, GV tâm huyết, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm.

Trường lớp, cơ sở vật chất ngày càng đầy đủ, khang trang và đạt chuẩn (đảm bảo 01 phòng học/lớp; 100% phòng học đạt cấp 4A và kiên cố; đã có 10/14 trường TH đạt chuẩn quốc gia, đạt 71.4%).

Trang thiết bị, đồ dùng dạy và học thiếu đồng bộ, thiếu chuẩn.

Lối sống khép kín trong gia đình và buôn làng khiến môi trường tiếng Việt của học sinh DTTS nhiều hạn chế, tạo ra không ít rào cản trong việc học tiếng Việt của các em.

Đặc điểm ngôn ngữ của tiếng Việt và tiếng các DTTS ở Tây Nguyên có nhiều khác biệt, nhất là yếu tố dấu thanh trong tiếng Việt tạo ra không ít khó khăn cho các em.

Một bộ phận giáo viên còn hạn chế trong phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh DTTS.

Xây dựng và thực hiện kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày, trong đó xác định nội dung, chương trình dạy cho buổi thứ hai: giãn tiết, tổ chức phụ đạo kiến thức cho học sinh còn hạn chế, bồi dưỡng kiến thức nâng cao cho học sinh năng khiếu hoặc tổ chức các hoạt động giáo dục ngoại khóa, hoạt động giáo dục trải nghiệm khác…

Các trường giao quyền chủ động cho giáo viên xây dựng kế hoạch dạy học: Điều chỉnh, tích hợp hoặc tăng thời lượng; phân luồng đối tượng học sinh, tổ chức dạy học theo hướng cá thể hóa, chấp nhận sự khác biệt trong lớp học với phương châm “đi chậm mà chắc”, “học đến đâu chắc đến đó”.

Chỉ đạo giáo viên rà soát nội dung dạy học trong sách giáo khoa (SGK), tài liệu học tập đề xuất với tổ chuyên môn chủ động, linh hoạt điều chỉnh, tinh giảm, lược bớt những nội dung trùng lặp, thay đổi ngữ liệu cho phù hợp với vùng miền và học sinh DTTS…trên nguyên tắc đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực học sinh.

Qua 07 năm thực hiện (từ năm học 2011 – 2012), môn Tiếng Việt CGD đã cho kết quả rất tốt. Sau 02 năm thí điểm ở Trường TH Đắk Dục, TH Kim Đồng, TH Đắk Ang (những trường có tỉ lệ học sinh DTTS từ 80 đến trên 90%), từ năm học 2013 – 2014 đến nay, 100% lớp một trên địa bàn Ngọc Hồi được học Tiếng Việt CGD.

e. Xây dựng thư viện thân thiện, thư viện xanh, thư viện lớp học tạo phong trào đọc sách

Để triển khai hiệu quả, 100% CBQL, giáo viên dạy Tiếng Việt CGD được tập huấn; lớp học được biên chế không quá 35 em/ lớp, được tạo điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.

3. Kết quả thực hiện

Hàng năm, Phòng GD và các trường tổ chức các hội thảo chuyên đề nâng cao chất chất lượng dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 CGD;

Đến nay việc dạy Tiếng Việt CGD ở huyện Ngọc Hồi đã vững vàng, tin cậy.

Việc dạy đại trà Tiếng Việt CGD lớp 1 đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt trên địa bàn huyện, trong đó có học sinh DTTS.

Môi trường ngôn ngữ có vai trò đặc biệt quan trọng. Các trường đã thực hiện việc xây dựng môi trường ngôn ngữ tiếng Việt cho học sinh DTTS học tiếng Việt với nhiều hình thức như:

4. Kinh nghiệm

Trang trí lớp học với các câu, chữ, danh ngôn tiếng Việt phù hợp với học sinh từng khối lớp; Xây dựng cảnh quan xanh – sạch – đẹp với những bano, khẩu hiệu có hình dáng, màu sắc bắt mắt ở những vị trí dễ “đập vào mắt” học trò. Tất cả được khai thác triệt để trong các giờ ra chơi, buổi chào cờ, sinh thoạt ngoại khóa…

Tăng cường sử dụng tiếng Việt trong thời gian ở trường, ở tất cả các hoạt động học tập và vui chơi.

Dạy tiếng Việt trong tất cả các môn học: nghe, nói, đọc viết… đều được giáo viên uốn nắn, chỉnh sửa cho các em như trong môn Tiếng Việt.

Nguyễn Minh Tuấn (Phòng GDĐT Ngọc Hồi).

Tổ chức các hoạt động đội, giao lưu “Tiếng Việt của chúng em”, văn hóa văn nghệ, TDTT, trò chơi dân chúng tôi đó giúp các em nâng cao kỹ năng sử dụng tiếng Việt.

Tuyên truyền, hướng dẫn, tư vấn cho CMHS và cộng đồng tăng thời thường sử dụng tiếng Việt trong gia đình và cộng đồng.

100% trường tiểu học xây dựng thư viện và khai thác, sử dụng tốt thư viện với các hình thức: thư viện trường, thư viện lớp học, thư viện xanh. Các thư viện được trang bị nhiều sách, truyện, tranh phù hớp với lứa tuổi học trò để các em đọc; Xây dựng “văn hóa đọc” trong học đường…

Nhờ đó, trình độ, kỹ năng tiếng Việt của học sinh DTTS được nâng cao.

Chính quyền địa phương, cha mẹ học sinh đã có chuyển biến tích cực về nhận thức, quan tâm cụ thể, thiết thực hơn đến việc học tập của học sinh DTTS.

Hoạt động dạy học Tiếng Việt cho học sinh DTTS ở các trường TH trên địa bàn huyện được quan tâm đúng mức, được tổ chức thực hiện nghiêm túc, linh hoạt và mang lại hiệu quả rõ rệt.

CBQL trong huyện có sự thống nhất cao về quan điểm chỉ đạo; Đội ngũ giáo viên nâng cao về chuyên môn nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm trong việc nâng cao chất lượng Tiếng Việt cho học sinh DTTS.

Chất lượng học sinh được nâng cao và có tính bền vững. Tỉ lệ học sinh DTTS Hoàn thành và Hoàn thành tốt môn Tiếng Việt đạt trên 97% với biểu hiện cụ thể là học sinh DTTS mạnh dạn, tự tin trong học tập và giao tiếp tiếng Việt. Năng lực tiếng Việt tốt đã giúp các em học tốt các môn học khác và các mặt giáo dục.

Về biên chế học sinh/ lớp: Vì học sinh DTTS gặp nhiều khó khăn nên đề nghị cần có quy định biên chế lớp riêng cho những trường có tỉ lệ học sinh DTTS trên 50% tối đa 30 học sinh/ lớp.

Cần có chương trình dạy tiếng Việt linh hoạt hơn, phù hợp cho đối tượng học sinh DTTS theo hướng tăng về thời lượng, tăng về thực hành.

Tăng cường cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị đồ dùng dạy học và các chính sách tài chính cho học sinh vùng sâu, vùng xa, học sinh DTTS nhằm tạo điều kiện học tập tốt hơn cho các em.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!