Đề Xuất 12/2022 # Đề Tài Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ 5 / 2023 # Top 19 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Đề Tài Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ 5 / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đề Tài Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ 5 / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Giáo viên chưa chủ động và chưa linh hoạt trong việc tổ chức giờ học môn khám phá khoa học Môi trường cho trẻ hoạt động ở lớp cũng chưa phong phú (chưa có nơi nuôi một số con vật cho trẻ được làm quen). Khám phá khoa học đòi hỏi độ chính xác cao nên trẻ cần được tham quan, trải nghiệm thực tế nhiều, trẻ cần được tri giác những con vật thật, đồ vật thật, cây cối, danh lam thắng cảnhnhưng nhà trường lại chưa có điều kiện để tổ chức cho trẻ đi tham quan, trải nghiệm thực tế còn ít. Các cháu phần đông gia đình làm nông nên việc nhận thức để giáo dục con cái một cách khoa học là chưa cao. * Nguyên nhân chủ quan Trình độ nhận thức của các cháu không đồng đều. Các cháu chưa có các kỹ năng cơ bản như kỹ năng quan sát, kỹ năng so sánh, phân tích, tổng hợpMột số trẻ chưa qua lớp mầm, lớp chồi nên vẫn còn tự do trong học tập và chơi, chưa mạnh dạn, tích cực trong các hoạt động. Trong lớp có một số trẻ cá biệt, cháu không chú ý, mặt nhận thức của cháu hạn chế hơn nhiều so với trẻ khác. Dẫn đến thời gian hoạt động dành cho những cháu yếu hơi nhiều Góc thiên nhiên còn nghèo, số cây ít, loại cây chưa phong phú, đồ chơi, đồ dùng còn ít, thiếu những hình ảnh đẹp, sinh động để trẻ quan sát Cơ sở vật chất chưa thật sự đầy đủ, đồ dùng phục vụ tiết dạy còn rất nghèo nàn như những vật mẫu, những con vật thật, đồ vật… Đồ dùng để trẻ thử nghiệm thực tế còn ít. Đồ dùng, đồ chơi, vật thật chưa đầy đủ, lớp học chưa có thiết bị để kết nối mạng phục vụ công tác giảng dạy trên máy tính. Bên cạnh đó việc sử dụng đồ dùng dạy học chưa khoa học, dẫn đến giờ học trẻ ít tập trung chú ý nên hiệu quả trên tiết học chưa cao. Vì vậy việc giúp trẻ khám phá khoa học rất quan trọng vì môn học này giúp trẻ tích luỹ một số vốn kiến thức sơ đẳng vận dụng trực tiếp vào cuộc sống hàng ngày của trẻ có cái nhìn về thế giới quan tươi đẹp và sinh động hơn cho tương lai trẻ sau này. * Nguyên nhân khách quan Khuông viên sân trường chật hẹp, chưa có nhiều khu vực để trẻ quan sát, trải nghiệm. Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học của con mình, chiều chuộng con thái quá, luôn bao bọc không để con có cơ hội trải nghiệm. Dẫn đến một số cháu thụ động, ỉ lại vào người khác không biết cách tự mày mò, tìm tòi khám phá, giải quyết vấn đề. 3. Nội dung và hình thức của giải pháp a. Mục tiêu của giải pháp Giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và chính xác, không mang tính trừu tượng và khô khan. Phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần. Trẻ được hòa mình vào với thiên nhiên, trẻ được hít thở không khí trong lành, vận động thoải mái giúp phát triển khả năng quan sát, ghi nhớ, chú ý. Quá trình đó giúp trẻ tri giác, tiếp cận, khám phá, cô giáo có thể vận dụng phối hợp nhiều phương pháp, biện pháp tùy theo mục đích sư phạm của những hoạt động dạy học. Phải thay đổi hình thức tổ chức hoạt động của trẻ để tránh tâm lí mệt mỏi thụ động và gây được ấn tượng mới hợp lí. Tìm ra các giải pháp, biện pháp giúp trẻ ham mê khám phá khoa học, từ đó nhằm phát triển tính sáng tạo và mở rộng vốn kiến thức cho trẻ, kích thích tính tò mò ham hiểu biết muốn khám phá và tìm hiểu thế giới xung quanh trẻ. Các biện pháp này sẽ hình thành xúc cảm, tình cảm tích cực và kinh nghiệm cũng như kỹ năng sống cho trẻ và trẻ mong muốn bảo về gìn giữ môi trường xung quanh trẻ. b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp Qua một thời gian tìm tòi, nghiên cứu tôi thấy rằng muốn gây được sự tập trung chú ý, sự hứng thú tham gia tích cực vào các hoạt động khám phá, khơi dậy được trí tò mò, ham hiểu biết của trẻ thì phải dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của trẻ để tìm ra những biện pháp phù hợp giúp trẻ học tốt môn khám phá khoa học và tôi đã đưa ra những biện pháp sau: Biện pháp 1: Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan để cho trẻ khám phá khoa học là một phương pháp rất phổ biến. Tuy nhiên nó cũng là phương pháp rất quan trọng trong việc giúp trẻ tiếp thu những kiến thức khoa học một cách dễ dàng nhất      Nhận thức rõ tầm quan trọng của đồ dùng trực quan đối với tiết khám phá khoa học cho nên ngay từ đầu năm học tôi mạnh dạn đề xuất với ban giám hiệu nhà trường trang bị thêm cho các lớp các thiết bị đồ dùng dạy học như ti vi, bảng, tranh ảnh lô tô, và một số các mô hình mô phỏng để phục vụ dạy học. Thông qua những bộ phim hoạt hình ngắn sinh động và đẹp mắt, các bé sẽ được tìm tòi, khám phá và trải nghiệm với những điều bé muốn biết về thế giới xung quanh kỳ thú.        Khi lập kế hoạch cho mỗi tiết học tôi đã rất chú ý tới cách thức truyền tải kiến thức với trẻ đặc biệt đồ dùng trực quan vừa phải mang tính thẩm mỹ, tính chính xác và sự sáng tạo từ đó kich thích được sự hứng thú, ham hiểu biết ở trẻ  Vì trẻ mẫu giáo thường tư duy trực quan hình ảnh, kinh nghiệm sống của trẻ còn ít nên tôi thường xuyên tận dụng các vật thật để dạy trẻ. Khi cho trẻ được tiếp xúc với vật thật thì tôi nhận thấy trẻ hứng thú và nắm bắt kiến thức một cách rõ ràng nhất. Ví dụ: Khi tìm hiểu về quả soài tôi dùng quả soài thật cho trẻ quan sát và trải nghiệm: nhìn, sờ, nếm, ngửi Đây là quả gì? nhìn xem quả soài có hình dạng gì? Màu gì? Hãy sờ xem vỏ của chúng có đặc điểm gì? muốn biết soài có mùi gì hãy đưa lên mũi ngửi xem nào Cuối cùng tôi cho trẻ nếm thử vị của soài sau đó hỏi trẻ về vị của soài (có trẻ nói chua, trẻ nói ngọt) từ đó tôi giải thích “Qủa soài chưa chín có vị chua, còn quả soài chín có vị ngọt” khi được trải nghiệm thực tế thì trẻ đã nắm vững những kiến thức tôi muốn truyền đạt. Qua bài về quả soài tôi không những đã cho trẻ tìm hiểu một cách tổng quát về quả soài mà còn dạy trẻ biết lợi ích của soài đối với sức khỏe con người. Việc sử dụng màn hình, máy chiếu cũng là một hình thức sử dụng trực quan vì vậy tôi thường xuyên sử dụng tạo điều kiện để cho trẻ nắm kiến thức. Thông qua những cảnh quay, đoạn băng được đưa lên màn hình sẽ tạo ra sự thay đổi, sự mới lạ cho trẻ vì tất cả những sự vật hiện tượng đều có thể chụp lại, quay lại để đưa lên màn hình cơ hội để trẻ khám phá những sự vật- hiện tượng, con vật mà trẻ khó có cơ hội tiếp xúc như: tìm hiểu động vật sống trong rừng, động vật sống dưới biển Phương tiện trực quan trong các hoạt động dạy và học rất đa dạng như: Đồ dùng trực quan bằng vật thật: các con vật, một số loại rau, Các loại mô hình: mô hình sân bay, nhà ga…Các loại tranh ảnh, lô tô.        Việc sử dụng đồ dùng trực quan phải được sử dụng một cách linh hoạt và sáng tạo. Trong tiết dạy tôi không sử dụng một loại đồ dùng từ đầu đến cuối cũng không sử dụng quá nhiều loại ôm đồm để trẻ khó hiều mà tôi phối hợp các loại đồ dùng trực quan sao cho phù hợp, linh hoạt từng phần sao cho trẻ không nhàm chán.   Ví dụ: Trong tiết dạy cho trẻ tìm hiểu về một số loại hoa tôi có thể sử dụng một số loại đồ dùng như: Tranh lô tô, hoa thật, đồ chơi, màn hình, mô hình kết hợp với nhau sao cho linh hoạt và phù hợp như phần đầu giới thiệu bài cho trẻ đi thăm mô hình vườn rau với nhiều loại hoa, phần cung cấp kiến thức cho trẻ quan sát các loại hoa thật, phần mở rộng cho trẻ xem trên màn hình một số loại hoa khác, phần luyện tập cho trẻ đi chơi trò chơi với hoa thật, tranh lô tô. Việc kết hợp sử dụng linh hoạt các loại đồ dùng trực quan trong tiết học tôi thấy trẻ hứng thú hơn mỗi khi học khám phá khoa học, kiến thức tôi truyền đạt vì thế mà dễ dàng và trẻ ghi nhớ hơn. Biện pháp 2: Sử dụng các trò chơi thực nghiệm : Trẻ mầm non rất thích tìm hiểu và khám phá môi trường xung quanh. Trẻ rất vui sướng khi được trực tiếp nhìn thấy hoặc tự tay mình làm các thí nghiệm rồi tự rút ra kết luận. Thông qua việc cho trẻ làm thí nghiệm, đòi hỏi trẻ phải sử dụng tích cực các giác quan. Chính vì vậy sẽ phát triển ở trẻ năng lực quan sát, khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp, nhờ vậy khả năng cảm nhận của trẻ nhanh nhậy, chính xác, những biểu tượng kết quả trẻ thu nhận được trở nên cụ thể và sinh động hấp dẫn hơn. Ví dụ 1: Thí nghiệm về sự nảy mầm của hạt * Mục tiêu:        Trẻ biết được cây cũng cần thức ăn ,ánh sáng và nước mới sinh trưởng được. * Chuẩn bị:           Một vài hạt đậu tương, đậu đen2 Khay nhỏ, một ít đất, bình nước tưới. *Tiến hành: Ngâm hạt vào trong nước ấm từ 1 đến 2 tiếng sau đó lấy ra đặt hạt vào khay có sẵn đất. Đặt 1 khay nơi có ánh sáng mặt trời và cho trẻ tưới nước hàng ngày. Khay còn lại đặt trong bóng tối và không tưới nước. Quan sát sau 3 đến 4 ngày cây trong khay được tưới nước hàng ngày sẽ nảy mầm và lớn dần còn khay không tưới sẽ không nảy mầm. Lúc này hãy cho trẻ giải thích hiện tượng nảy mầm và không nảy mầm trên . Vì trẻ mẫu giáo lớn nên tôi cho trẻ tự làm và nêu kết quả thực nghiệm của bản thân . * Giải thích và kết luận:   Cây nảy mầm được nhờ được gieo xuống đất, có ánh sáng và tưới nước đầy đủ và ngược lại cây mà không được chăm sóc đầy đủ sẽ không nảy mầm được. Ví dụ 2:   * Mục tiêu:          Cho trẻ hiểu với cùng mọt đồ dùng nhưng chọn đơn vị đo khác nhau thì kết quả cũng khác nhau * Chuẩn bị: Một chai nhựa trong 1 lít, ba cốc nhựa to, nhỡ, nhỏ, thẻ số 4, 5, 6 Lần lượt cho trẻ đong nước bằng các cốc khác nhau rồi đổ vào chai nhựa( cốc to, nhỡ, nhỏ) Sau mỗi lần đong ghi kết quả lại, quan sát kết quả các chai bằng các thẻ số * Giải thích và kết luận:           Sử dụng cốc to đổ nước vào chai sẽ nhanh đầy hơn( 4 cốc), sử dụng cốc nhỡ phải đong 6 cốc, sử dụng cốc nhỏ sẽ lâu đầy hơn( 8 cốc). Ví dụ 3: Thí nghiệm về nước và các lớp chất lỏng * Chuẩn bị: dầu ăn, nước lọc, si rô, cốc thủy tinh Tiến hành: Cho trẻ chọn một chất đổ vào ly, tiếp theo chọn chất thứ hai, cuối cùng cho chất thứ ba vào Cho trẻ quan sát rút ra kết luận, lớp si rô nặng nhất nên ở dưới cùng, lớp dầu ăn nhẹ nhất nên ở trên cùng, và lớp nước ở giữa Khi quan sát trẻ hoạt động tôi thấy những biểu hiện trên trẻ rất tích cực, trẻ rất thích thú khi được quan sát hoặc thử nghiệm những hoạt động khám phá. Trong quá trình quan sát trẻ tỏ ra nhanh nhẹn linh hoạt và phát triển nhiều vốn kinh nghiệm, vốn từ của trẻ trở nên phong phú hơn khả năng diễn đạt tổt hơn. Vì vậy chúng ta những giáo viên mầm non có nhiệm vụ khuyến khích, tạo điều kiện giúp trẻ được khám phá, trải nghiệm Tuy nhiên, nội dung và đối tượng cho trẻ làm quen cần được chọn lọc, nội dung cho trẻ khám phá thử nghiệm đảm bảo cung cấp cho trẻ những kiến thức đơn giản, gần gũi và đặc biệt là phải an toàn về quy trình thực hiện Biện pháp 3: Tạo môi trường cho trẻ hoạt động Tôi xây dựng góc thiên nhiên có các cây xanh như trồng các loại hoa, cây cảnh… Góc thiên nhiên là nơi dành cho các hoạt động chăm sóc cây cối: Nhặt cỏ, bắt sâu, tưới nước, ngoài ra còn là nơi tìm đọc các loại sách về thiên nhiên, các tranh ảnh về thế giới tự nhiên tạo cho trẻ có góc chơi rộng rãi với các nguyên vật liệu khác nhau để trẻ được trải nghiệm . Tôi bố trí giá sách chủ yếu là sách về con vật, cây cối, hoa lá, quả hạt để cho trẻ tìm hiểu. Tranh ảnh vừa tầm với của trẻ để trẻ có thể xem và đọc sách (có que chỉ cho việc đọc sách). Đọc sách theo từng chữ, từng dòng, tôi sắp xếp các hộp đựng vỏ cây khô hoa lá ép khô, các loại hạt Có ngắn nhãn mác và hình ảnh rõ ràng để trẻ rễ nhận thấy, trẻ được chơi và làm được những sản phẩm từ những dồ chơi ấy. Ngoài ra tôi cũng dùng vỏ hến, ốc trai ,sò vỏ trứng vệ sinh sạch sẽ vừa làm đồ dùng, đồ chơi phong phú vừa rẻ tiền vừa dễ kiếm . Biện pháp 4: Phương pháp lồng ghép khám phá khoa học vào các tiết học. Trong dạy học không có môn nào học nào, không có phương pháp nào là duy nhất , bao quát các môn học, các phương pháp khác, mà để đạt được hiệu quả giáo dục cần phải phối hợp lồng ghép giữa các lĩnh vực, các phương pháp mới có được hiệu quả tốt nhất với người học. Hiểu được vấn đề ấy trong các tiết dạy tôi thường xuyên lồng ghép khám phá khoa học vào trong các môn học khác như toán, âm nhạc, văn học, Ví dụ: trong hoạt động làm quen văn học trẻ học bài thơ “Hoa đào hoa mai” Tôi cho trẻ quan sát hoa đào hoa mai thật đó hỏi trẻ:       + Đây hoa gì? Nêu các đặc điểm của hoa đào, hoa mai?       + Hoa đào, hoa mai nở vào mùa nào ?       + Nêu cảm nhận của các con về những hoa đào và hoa mai?      Sau khi trò chuyện, tìm hiểu về hoa đào hoa mai xong tôi giới thiệu với trẻ bài thơ nói về hai loại hoa này. Bài thơ “ Hoa đào, hoa mai”. Qua tiết học làm quen văn học tôi đã giúp trẻ có thêm những hiểu biết về đặc điểm và cảm nhận của trẻ về hoa đào hoa mai từ đó trẻ cảm thấy thích đọc thơ hơn, hứng thú hơn. Các hoạt động tô màu, cắt dán, nối hình, cũng có thể tạo hứng thú giúp trẻ khám phá khoa học. Nếu cho trẻ tự khám phá trẻ sẽ tăng thêm phần hứng thú, kiến thức đến với trẻ nhẹ nhàng mà khắc sâu phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Những tiết khám phá khoa học thường được quan niệm khô khan thì tôi luôn khéo léo lồng ghép tích hợp các môn khác như : Toán, âm nnhạc, tạo hình ,văn học để trẻ thêm hứng thú, ghi nhớ tốt hơn, hiểu vấn đề sâu và rộng hơn. Câu đố cũng là một hình thức được tôi sử dụng để lôi cuốn trẻ vào hoạt động khám phá khoa học. Trẻ sẽ lắng nghe câu đố suy nghĩ và trả lời thật nhanh về câu đố đó Ví dụ : Trong tiết dạy làm quen với động vật sống trong gia đình. Tôi cho trẻ thi “ đố vui ” hai đội ra câu đố cho nhau và giải câu đố đội bạn. “ Đôi mắt long lanh Màu xanh trong vắt Chân có móng vuốt Vồ chuột rất tài” Là con gì ?                                ( con mèo ) “Thường nằm đầu hè Giữ nhà cho chủ Người lạ nó sủa Người quen nó mừng” ( con chó) Như vậy trẻ được đố những câu đố rất vui vẻ hào hứng, kích thích tư duy, làm phong phú vốn từ và ngôn ngữ mạch lạc… Trong tiết dạy tôi cũng lồng ghép toán sơ đẳng như khi làm quen với con cua, cô và trẻ cùng đếm số chân cua sau đó đọc câu đồng dao, bài hát về con cua, sự kết hợp ấy giúp tiết học không nhàm chán, khô khan mà còn giúp trẻ tìm hiểu được một cách tổng quát nhất về con cua .   Biện pháp 5: Ứng dụng công nghệ thông tin vào các tiết dạy khám phá khoa học: Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, sự phát triển của hệ thống mạng cùng với những tiện ích, ứng dụng phong phú đã tạo nên một cuộc cách mạng trong mọi người, mọi ngành và đặc biệt là giáo dục. Chính vì vậy ngay từ cấp học mầm non trẻ đã được làm quen với công nghệ thông tin như một phần của hoạt động giáo dục không thể thiếu. Không chỉ với người lớn mà đối với trẻ em mầm non thì công nghệ thông tin luôn mang lại nhiều điều kì thú và hữu ích trong việc tiếp thu kinh nghiệm sống. Hơn nữa trong việc giáo dục, truyền đạt kiết thức cho trẻ không phải sự vật hiện tượng nào cũng có sẵn để trẻ được trực tiếp tri giác, nhất là với hoạt động khám phá khoa học như tìm hiểu động vật sống dưới biển, quan sát máy bay, các hiện tượng tự nhiên, . , hay chúng ta không thể có thời gian để chứng kiến những hiện tượng trong tự nhiên xảy ra như tìm hiểu về cách sinh sản của một số loại vật nuôi, quá trình phát triển của câychính vì vậy để trẻ được tìm hiểu thế giới xung quanh một cách bao quát nhất thì ứng dụng công nghệ thông tin vào tiết học là một việc cần thiết. Được ưu thế là một giáo viên trẻ và có khả năng sử dụng công nghệ thông tin khá thành thạo tôi rất quan tâm và thường xuyên sử dụng công nghệ thông tin như các bài powerpoint vào các tiết học. Tôi nhận thấy khi sử dụng công nghệ thông tin vào các tiết khám phá khoa học trẻ tỏ ra rất hào hứng, thích thú và cũng giúp trẻ nhận biết sự vật- hiện tượng một cách rõ ràng hơn. Ví dụ 1: Tìm hiểu về “Mưa có từ đâu?” Tôi sử dụng bài powerpoint trình chiếu các quá trình tạo thành mưa (ánh nắng chiếu xuống mặt nước – Nước bốc hơi- Tạo thành mây – Gió thổi mây thành đám nặng rồi rơi xuống thành mưa) Sau khi tìm hiểu xong về quá trình tạo thành mưa tôi cho trẻ xem phim hoạt hình “Đám mây đen xấu xí” vừa là phim vừa đám ứng việc củng cố kiến thức về quá trình tạo thành mưa cho trẻ. Thông qua việc trình chiếu và xem phim hoạt hình trẻ vừa như được giải trí và cũng là khi lượng kiến thức cần cung cấp cho trẻ đảm bảo trọn vẹn với hình thức này. Cách chơi: Trên màn hình xuất hiện những hình ảnh về 1 số cành hoa bất kì sau đó biến mất chỉ xuất hiện hoa và lá riêng rẽ nhiệm vụ của trẻ di chuột sắp xếp hoa và lá lại thành một bông hoa có cành lá chính xác. Khi trẻ đã chơi thành thạo tôi nâng cao trí nhớ cũng như sự nhanh nhẹn của trẻ bằng cách chỉnh thời gian xuất hiện hoa ban đầu nhanh hơn hoặc cao hơn nữa là không có sự xuất hiện của cành hoa ban đầu mà đòi hỏi trẻ phải có trí nhớ, kĩ năng từ những lần chơi trước tự xếp lá cho hoa đúng theo yêu cầu. Qua công nghệ thông tin từ một trò chơi tôi đã giúp trẻ có thêm kĩ năng sử dụng máy tính, đồng thời giúp trẻ củng cố, ghi nhớ bài học cho trẻ Biện pháp 6: Nâng cao kỹ năng quan sát, so sánh và phân loại ở trẻ.   Một trong những phương pháp quan trọng và không thể thiếu đối với khám phá khoa học là quan sát, so sánh và phân loại. Hầu như ở tiết học khám phá nào trẻ cũng được rèn luyện các kỹ năng này. Ngoài giờ học hoạt động chung về môn khám phá khoa học ở trong lớp tôi còn kết hợp cho trẻ tham gia đi dạo chơi, tham quan, hoạt động ngoài trời. Trẻ được quan sát đối tượng trực tiếp và tôi sẽ đưa ra các câu hỏi đàm thoại để trẻ so sánh và phân loại đối tượng nhằm phát huy khả năng sáng tạo và tư duy cho trẻ. Ví dụ : Cô và trẻ quan sát vườn rau của trường có nhiều loại rau khác nhau như rau muốn, rau cải, cà chuatôi hướng cho trẻ nhận biết hình dạng lá của từng loại rau, xem đó là loại rau ăn gì? cho trẻ tìm ra điểm giống nhau và khác nhau của các loại rau. Lúc này trẻ đang được quan sát thực tế các loại rau trẻ sẽ dễ dàng nhìn thấy đặc điểm nổi bật của đối tượng nên trẻ so sánh và phân loại rất nhanh Dạo chơi thăm quan hoạt động ngoài trời, không những để trẻ khám phá thế giới xung quanh mình mà tôi còn giáo dục tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệ môi trường. Tôi cũng luôn chú ý giáo dục bảo vệ môi trường. Với trẻ mặc d

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ 5 / 2023

g ban đầu để đi đến kết luận. Với các thí nghiệm phải tiến hành trong thời gian dài, cô cần lựa chọn những thời điểm thích hợp để hướng dẫn trẻ ghi lại kết quả quan sát sự thay đổi của vật làm thí nghiệm bằng hình vẽ, biểu đồ, kết hợp với các câu hỏi gợi ý để trẻ so sánh kết quả thí nghiệm với trạng thái ban đầu, cùng trẻ giải thích nguyên nhân của sự thay đổi và kết quả thí nghiệm. 4.1: Thí nghiệm 1 : Quả trứng thần bí. * Mục đích: - Trau dồi óc quan sát, khả năng phán đoán. - Kích thích tính tìm tòi, ham hiểu biết. * Chuẩn bị: - 2 quả trứng sống, 2 cốc thủy tinh, Nước ngọt, nước muối. * Cách tiến hành. - Cô hỏi trẻ các đồ dùng cô đã chuẩn bị, trẻ đoán xem cô sẽ làm gì với những đồ dùng này - Trẻ đánh dấu thứ tự 2 cốc nước ( Cốc 1 và 2), sau đó thả cả 2 quả trứng vào 2 cốc nước ngọt, trẻ nhận xét khi thả trứng vào thì trứng sẽ nổi lên trên mặt nước. Cô mời trẻ cho muối vào cốc nước thứ nhất, khuấy đều, sau đó thả quả trứng vào. Quả trứng sẽ từ từ nổi lên trên mặt nước. - Cô cho trẻ quan sát và rút ra kết luận: Quả trứng trong cốc nước muối sẽ nổi lên trên mặt nước vì trứng nặng hơn nước muối, nhưng quả trứng sẽ chìm trong nước ngọt vì nó nặng hơn nước ngọt. 4.2. Thí nghiệm 2. Làm nổi một vật chìm. * Mục đích yêu cầu.- Rèn luyện sự quan sát chú ý, tư duy thông qua thí nghiệm " Làm nổi một vật chìm" - Kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của trẻ. - Có ý thức giữ gìn đồ dùng đồ chơi. * Chuẩn bị: - Một vài đồ chìm trong nước như: thìa ilốc, thìa nhôm, gạch đồ chơi, lon côca, chai nước, cốc thủy tinh.... - Một chậu nước. - Băng dính, đất nặn, túi bóng.... * Cách tiến hành. - Cô cho trẻ xem viên bánh trôi nước khi sống, thả xuống nước. Viên bánh trôi sẽ chìm xuống nước. Hỏi trẻ làm thế nào để viên bánh trôi có thể nổi lên? ( Trẻ nêu ý kiến) - Cô đặt một đồ chơi đã chuẩn bị vào chậu nước và cho trẻ quan sát, nhận xét ( Các đồ chìm trong nước). Cô hỏi trẻ. Làm thế nào để vật đó có thể nổi lên được? - Cô hỏi trẻ ngoài cách như vậy thì còn cách nào khác để cho các vật nổi có thể nổi lên được? - Cho trẻ về các nhóm nhỏ để làm thí nghiệm với các đồ cô đã chuẩn bị. Cô quan sát, bao quát trẻ và hỏi. Làm sao cho vật nổi được? vì sao vật đó lại nổi lên được? ( Mỗi nhóm sẽ có cách riêng của trẻ. Có trẻ đổ nước ở trong lon nước ra, có trẻ dùng túi bóng buộc vào cái thìa, có trẻ lấy băng dính bịt chặt miệng cốc...những đồ đó sẽ nổi lên được). Nếu trẻ không làm vật đó nổi được, cô phải xem và xử lý kịp thời hoặc có thể giải thích cho trẻ. 5.3. Thí nghiệm 3: Cuộc chạy đua của ba cây nến. * Mục đích: - Trẻ nhận biết được không khí xung quanh. - Trẻ biết nến cháy nhờ khí ôxy. Khí ôxy hết thì nến sẽ tắt. - Trẻ rút ra được nhận xét: Cây nến nào cháy lâu nhất? Tại sao? * Chuẩn bị:- 3 cây nến, bật lửa - 2 cốc thuỷ tinh lớn và nhỏ cho mỗi nhóm. * Cách tiến hành; - Cho trẻ quan sát và gọi tên các đồ dùng cô đã chuẩn bị. - Hỏi trẻ gắn cây nến lên đĩa bằng cách nào? Cô gắn cho từng nhóm để trẻ quan sát. - Sau khi gắn xong đặt 1 đĩa nến ở ngoài, 1 đĩa còn lại được đậy bởi 1 cái cốc thủy tinh nhỏ. Cô hỏi trẻ: Hiện tượng gì xảy ra? Cây nào cháy lâu hơn? - Cô tiếp tục đốt một cây nến nữa và úp lên bởi 1 cốc thủy tinh lớn. Cô hỏi trẻ: Hiện tượng gì xảy ra? Cho trẻ dự đoán xem cây nến nào cháy lâu nhất trong 3 cây nến? - Cho trẻ quan sát cho đến khi 2 cây nến ở trong cốc tắt dần 4.4: Thí nghiệm 4: Có thể trồng cây bằng gì? * Mục đích. - Giúp trẻ hiểu được ngoài cách trồng cây bằng hạt, người ta có thể trồng cây bằng cành, bằng lá hoặc bằng củ. * Chuẩn bị. - 4 chậu đất để trồng cây. - Một số dây khoai lang hoặc cành hoa trạng nguyên. - Một số lá bỏng. - Một số cành hoặc lá cây khác mà không thể trồng bằng cành hoặc bằng lá. * Cách tiến hành. - Cô cho trẻ chơi trò chơi " Gieo hạt, nảy mầm" - Hỏi trẻ: Ngoài cách trồng cây bằng hạt, ta có thể trồng cây bằng cách nào? - Cho trẻ nói tên 1 số loại cây và lá mà cô đã chuẩn bị. - " Hôm nay chúng ta sẽ giâm, trồng một số cành cây khoai lang, trạng nguyên, lá bỏng....và thử xem điều gì sẽ xảy ra" - Cô cho trẻ dự đoán chậu nào sẽ có các mầm cây mọc lên. - Hàng ngày, cô cùng trẻ tưới nước đủ độ ẩm để cây phát triển, cho trẻ theo dõi sự thay đổi diễn ra trong các chậu cây trồng. - Khi thí nghiệm kết thúc, cô trò chuyện với trẻ về điều xảy ra và rút ra kết luận. Ngoài cách trồng cây bằng hạt, ta có thể trồng cây bằng cành, hoặc bằng lá. Song không phải cây nào cũng trồng được bằng cành hoặc bằng lá và chỉ cho trẻ thấy rễ và mầm sinh ra từ các mắt của cành hoặc các mép lá. 4.5 . Thí nghiệm với nước: Các lớp chất lỏng. * Mục đích: - Trẻ biết phân biệt lớp chất lỏng khác nhau: Dầu, nước, sirô. - Nhận biết lớp sirô nặng hơn nước nên chìm xuống dưới, lớp dầu nhẹ hơn nước và siro nên nổi lên trên cùng. Còn lớp nước ở giữa. - Nhận biết một số chất liệu: Nhựa, gỗ, kim sắt, cao su- nổi ở lớp chất lỏng nào: Nước, siro, dầu, để rút ra kết luận. * Chuẩn bị: - 1 chai dầu ăn, 1 chai nước, 1 chai sirô. - 3 ly thủy tinh, khay. - Các vật liệu: Cao su, sỏi, đồ nhựa, sắt. - Các thẻ màu đỏ, trắng, vàng. * Tiến hành. - Cho trẻ quan sát và gọi tên 3 chai chất lỏng: Dầu, nước, siro. - Mỗi chất lỏng cô dùng một miếng nhựa màu tương ứng với màu chất lỏng: Miếng nhựa đỏ, vàng, trắng. - Cho trẻ chọn chất lỏng thứ 1 đổ vào ly trước và chọn miếng nhựa có màu tương ứng gắn lên bảng. - Cô cho trẻ chọn chất lỏng thứ 2 và đổ vào ly. Trẻ tự đoán nó sẽ đứng ở chỗ nào trong cái ly. Chọn thẻ nhựa có màu tương ứng gắn tiếp lên bảng. Cô cho trẻ quan sát lớp chất lỏng thứ 2 nó đứng ở vị trí nào trong cái ly có đúng như dự đoán của trẻ không. - Làm tương tự với chất lỏng thứ 3. - Cho trẻ quan sát vị trí các lớp chất lỏng ở trong ly để rút ra kết luận. ( Lớp siro nặng hơn nước nên chìm xuống dưới cùng. Lớp nước nhẹ hơn siro nhưng nặng hơn dầu nên ở giữa. Lớp trên cùng là lớp dầu vì nhẹ hơn lớp nước và lớp siro) - Cho trẻ chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm tự chọn vị trí xếp thẻ nhựa khácvới lúc đầu. Mỗi nhóm sẽ đổ thứ tự các lớp chất lỏng theo như đã chọn và mang ly chất lỏng vừa đổ lên cùng quan sát xem các lớp chất lỏng có đứng ở đúng vị trí đó không? - Trẻ tự rút ra kết luận: Chất lỏng dù đổ loại nào trước thì nó vẫn đúng theo thứ tự siro, nước, dầu. và trẻ gắn lại thứ tự thẻ nhựa theo đúng vị trí các chất lỏng trong ly. * Mở rộng: cho trẻ thả một số vật: Cao su, nhựa, sỏi, gỗ, sắt và quan sát xem nó nổi hoặc chìm ở lớp chất lỏng nào và tự rút ra kết luận. 4.6: Thí nghiệm: Nhuộm màu hoa. * Mục đích: - Trẻ biết bông hoa hút màu qua những ống hẹp trong cuống hoa và có khả năng biến đổi thành màu đó - Trau dồi óc quan sát, khả năng phán đoán, suy luận và chú ý. * Chuẩn bị: - Bình thủy tinh hoặc lọ hoa trong suốt. - Nước. - Thực phẩm màu ( Màu nước) - Hoa cúc hoặc hoa cẩm chướng sáng màu. * Cách tiến hành. - Cho trẻ quan sát và gọi tên các dụng cụ. trẻ có thể đoán xem cô sẽ làm gì với các dụng cụ này. - cho trẻ đánh dấu 2 lọ nước, sau đó đổ màu vào lọ nước thứ 2, sau đó đặt 2 bông hoa vào 2 lọ nước. - Cô cho trẻ quan sát sau nhiều giờ, cuối cùng các cánh của bông hoa đặt trong lọ thứ hai sẽ chuyển sang màu của nước trong lọ. * Mở rộng: có thể làm những bông hoa nhiều màu bằng cách chẻ đôi cuống hoa và ngâm mỗi nửa cuống hoa vào một lọ nước màu khác nhau. 4.7 : Thí nghiệm: Táo, lê đổi màu. * Mục đích: - Giúp trẻ phát hiện được sự thay đổi màu sắc của táo, lê sau khi gọt vỏ. Hình thành cho trẻ kỹ năng tạo ra những miếng táo ngon hơn, sạch hơn và đẹp hơn. * Chuẩn bị: - 2 quả táo hoặc lê. - Đĩa đựng hoa quả. - Dao. - 1 bát nước muối loãng đun sôi để nguội. - Giấy bút để ghi lại kết quả thí nghiệm. * Cách tiến hành. - Cô cho trẻ nói tên các đồ dùng cô đã chuẩn bị. - Cô pha một chút muối vào bát nước sôi đã chuẩn bị. - Cô cùng trẻ bổ 2 quả táo( hoặc lê), một quả cắt thành miếng bày ra đĩa, còn quả kia cắt thành miếng ngâm vào bát nước muối loãng. - Cho trẻ dự đoán điền gì sẽ xảy ra với các miếng táo bày ở đĩa và các miếng táo ở trong bát nước muối pha loãng. - cho trẻ quan sát sau 5-7 phút, ghi lại kết quả trẻ quan sát được. + Tại sao nước muối ngâm làm táo không đổi màu? -Cô giải thích: Vì trong táo và một số loại quả như cà, hồng, lê....có loại chất Tanin nên khi bổ ra, chúng tiếp xúc với không khí, và khiến cho quả đó chuyển thành màu nâu. Còn nước muối ngâm quả táo kia chuyển thành nâu vì nhựa trong quả táo thôi ra ở trong nước muối. Vớt những miếng táo được ngâm trong nước muối loãng cho trẻ quan sát, so sánh với những miếng táo không ngâm và hướng dẫn trẻ cách làm cho táo, lê trắng ngon khi bổ ra. Biện pháp 5. Phôí kết hợp với phụ huynh. Giáo dục mầm non là bậc học đặc biệt cần có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ nhằm phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ. Với mong muốn trẻ có thể ghi nhớ lâu hơn và nắm chắc những kiến thức đã học trên lớp nên ngay từ đầu năm khi họp phụ huynh tôi đã thông qua chương trình giáo dục, thời khóa biểu ở lớp với các chủ điểm, tôi còn thông báo với phụ huynh về yêu cầu cần đạt của từng môn học để phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của việc giáo dục trẻ theo đúng độ tuổi và có hướng rèn các cháu ở nhà để trẻ có một tâm thế tốt trước khi vào lớp 1. - Đặc biệt với bộ môn " Khám phá khoa học", tôi giải thích rõ cho phụ huynh về nội dung và sự cần thiết của môn học trong sự phát triển toàn diện của trẻ, giải thích cho họ hiểu khoa học không chỉ là kiến thức mà còn là quá trình, hay là con đường tìm hiểu, khám phá thế giới vật chất. Khoa học với trẻ nhỏ là quá trình tìm hiểu, khám phá tự nhiên và là quá trình tích cực tham gia hoạt động thăm dò, tìm hiểu thế giới tự nhiên từ đó kích thích ở trẻ tính tò mò, ham hiểu biết. Tôi tuyên truyền tới phụ huynh về một số kinh nghiệm để có thể cùng với trẻ khám phá. " Trẻ nhỏ học bằng cách thực hành, thử làm những ý tưởng mới lạ và những thử thách chưa vượt qua được. Điều này không phải chỉ diễn ra tại trường học. Các phụ huynh có thể giúp trẻ học bằng cách cung cấp cho trẻ một những kinh nghiệm học tập thú vị trong môi trường an toàn với nhiều sự khích lệ. Là bố mẹ, có thể tạo hứng thú học cho trẻ bằng cách mà không ai có thể làm ngoại trừ bạn. Đam mê học tập, tìm hiểu là chìa khóa thành công của trẻ. Nếu bạn chọn cách cùng làm việc với trẻ, hãy nhớ rằng giúp trẻ học không có nghĩa là bạn không thể tỏ thái độ buồn cười hay nghiêm trọng" . Ngoài ra tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh vào các giờ đón trả trẻ về tình hình sức khỏe và tình hình học tập của trẻ ở lớp để cùng với phụ huynh giúp trẻ tiến bộ hơn. - Ngoài ra tôi thường lên một số tiết có sự tham dự củaphụ huynh,Phụ huynh rất vui khi thấy các con mình thật sự được học và chơi, được trải nghiệm và họ không ngờ các con mình lại có thể thông minh như vậy. Sau khi áp dụng biện pháp này, tôi thấy mối quan hệ giữa tôi và phụ huynh trở nên gần gũi và phụ huynh cũng rất nhiệt tình, vui vẻ khi có những lời đóng góp từ phía giáo viên. 4/ KẾT QỦA * Đối với cô: Trong những năm học trước việc cho trẻ " Khám phá khoa học" ở trường tôi nói chung và ở lớp tôi nói riêng vẫn chưa được sáng tạo, một số giáo viên vẫn chưa mạnh dạn cho trẻ thực hiện các thí nghiệm, vì vậy trẻ còn thụ động, chưa nhanh nhẹn tìm tòi khám phá các sự vật hiện tượng xung quanh. Sau khi tiến hành áp dụng biện pháp trên, tôi thấy tự tin hơn, và đã tổ chức tiết học khám phá một cách linh hoạt, không gò bó ,thụ động, không ngại ngùng trước các trải nghiệm thí nghiệm. * Đối với trẻ. Qua các biện pháp trên, trong quá trình thực hiện, tôi thấy trẻ ở lớp tôi rất hứng thú, phát triển khả năng tư duy cao. Trẻ tò mò, thích khám phá các sự vật hiện tượng xung quanh. Trẻ biết đặt ra những câu hỏi " Tại sao" trước những hiện tượng tượng lạ, từ đó thu nhận được những hiểu biết, những vốn kinh nghiệm nhất định để áp dụng trong đời sống hàng ngày. Hầu hết tất cả các trẻ đều háo hức chờ đón những giờ thí nghiệm, tập trung cao độ để quan sát hiện tượng xảy ra, kiên nhẫn chờ đón kết quả. Qua đó khơi gợi ở trẻ nhu cầu khám phá, trẻ bắt đầu để ý những biến đổi của sự vật hiện tượng xung quanh, biết tự khám phá bằng nhiều giác quan và có sự trao đổi giữa cô và bạn. Chính vì thế tôi đã hình thành cho trẻ một số kỹ năng, thao tác thử nghiệm trong khoa học. Trẻ lớp tôi ngày càng có kỹ năng quan sát tốt, biết suy đoán, phán đoán nhằm tìm ra một kết quả chính xác. * Về phía phụ huynh Qua các biện pháp trên, qua thực tế các hoạt động ở lớp năm học 2016- 2017 vừa qua trẻ lớp tôi đã đạt được kết quả như sau Lớp mẫu giáo lớn Đầu năm ( Chưa áp dụng SKKN) Hết học kì I( Sau khi áp dụng SKKN) Tăng ( + ) Giảm ( - ) So với đầu năm Số trẻ Tỷ lệ % Số trẻ Tỷ lệ % Số trẻ Tỷ lệ % Sĩ số lớp 32 100 32 100 32 100 Trẻ đạt 12 27 32 100 20 63 Trẻ chưa đạt 20 63 0 0 20 63 Qua kết quả khảo sát học sinh giữa học kỳ II so với đầu năm học, sau khi đã áp dụng các biện pháp tổ chức trong sáng kiến kinh nghiệm, tôi thấy trẻ lớp tôi có tiến bộ rất nhiều. Nhờ có sáng kiến mà tôi đã tạo cho trẻ được tìm tòi, khám phá về thế giới xung quanh trẻ ở mọi lúc mọi nơi. Không chỉ khám phá trong góc khoa học hoặc trong các hoạt động khoa học mà trẻ lớp tôi còn khám phá, áp dụng và phát hiện được rất nhiều điều qua các môn học khác. III/KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 1. KẾT LUẬN Từ những kết quả đạt được như trên, tôi rút ra được một số bài học kinh nghiệm như sau. Giáo viên cần khích lệ trẻ khám phá, hướng sự quan tâm chú ý của trẻ tới đối tượng quan sát, tạo ra thói quen tìm hiểu về thế giới xung quanh ở trẻ bằng cách tạo ra những tình huống bất ngờ, mang tính ngẫu nhiên để lôi kéo trẻ vào hoạt động khám phá. Hãy để cho trẻ có thời gian, không gian và tự do để khám phá. Ở trẻ sẵn có niềm đam mê khám phá và nhạy cảm với thế giới xung quanh với hàng loạt câu hỏi: " Tại sao con cá bơi trong nước lâu như vậy mà không ngạt thở" " Tại sao chim có thể đứng yên một chỗ trên trời mà khỏngơi xuống" "Con giun này chân nó ở đâu" " Tại sao cùng đốt 2 cây nến mà có 1 cây nến bị tắt, 1 cây vẫn cháy".........Vì vậy giáo viên cần tạo cho trẻ cơ hội tiếp xúc tìm hiểu khám phá, thể hiện cảm xúc của mình. Các câu hỏi trẻ thường tìm đến cô để tìm lời giải đáp. Cô đừng từ chối mà hãy tận dụng cơ hội này gọi các trẻ khác đến cùng chia sẻ để tạo niềm hưng phấn và thói quen tìm hiểu thế giới xung quanh. Nên cho thời gian để trẻ suy nghĩ. Khuyến khích trẻ sáng tạo, cố gắng htể hiện, tìm ra cách làm, cách giải quyết khác với bạn, lựa chọn cách tốt hơn. Các câu trả lời hoặc những cách làm của trẻ đúng hay sai không quan trọng bằng việc biết được trẻ suy nghĩ, tìm ra câu trả lời bằng cách nào. Chú ý tới những trẻ nhút nhát, có khó khăn và khuyến khích bằng những câu hỏi dễ hơn, những yêu cầu đơn giản hơn, tạo cho trẻ cảm giác thành công trong công việc mà dần dần bạo dạn, tự tin vào bản thân. Giáo viên phải xử lý tình huống một cách linh hoạt, mềm dẻo và ph ù hợp Tích cực nghiên cứu làm đồ dùng đồ chơi tự tạo cho trẻ hoạt động, giáo viên phải tìm tòi và nghiên cứu xem học liệu nào trẻ sẽ dùng để trẻ có thể thực hiện các thí nghiệm, các hoạt động. Việc lựa chọn này cũng rất quan trọng để trẻ đạt được các yêu cầu đề ra. Trẻ phải được thao tác bằng tay với các nguyên vật liệu đã chuẩn bị. Giáo viên nên tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có của địa phương, tái sử dụng các đồ dùng gia đình, các phế liệu. Tận dụng các nguyên vật liệu thiên nhiên ( đá, sỏi, vỏ sò, vỏ hến...) và sử dụng những thứ có sẵn trng môi trường ( Cây cối, cỏ , hoa, lá.....) Không ngừng học hỏi, tiếp thu những cái mới từ bạn bè, đồng nghiệp, từ các phương tiện thông tin, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc, đến gần công nghệ thông tin ngay từ bậc học mầm non. Với giáo viên mầm non việc dạy trẻ môn khám phá khoa học là rất cần thiết. Khi nghe đến từ " Khoa học" chúng ta thường có cảm giác căng thẳng vì trong chúng ta luôn sẵn có một suy nghĩ rằng khoa học là cái mà luôn cần đến nhiều tri thức và phải vắt óc suy nghĩ, thế nhưng khi tôi làm bản sáng kiến này thì thật sự không phải vậy. Thông qua những hoạt động khoa học, trẻ có thể giải quyết một cách rất sáng tạo bằng tính tò mò bẩm sinh những vấn đề, hiện tượng vốn luôn xuất hiện không ngừng trong cuộc sống hàng ngày. Việc vừa mang lại niềm vui và sự quan tâm về khoa học một cách tự nhiên, vừa chuẩn bị một nền tảng suy nghĩ khoa học đang trở thành mục tiêu lớn trong ngành giáo dục mầm non. Thông qua các hoạt động khoa học, trẻ mầm non tìm hiểu thế giới xung quanh và biểu hiện các suy nghĩ của mình một cách tự nhiên. Tôi đã phát huy những mặt thuận lợi và khắc phục những khó khăn ở trường ở lớp. Chủ động tham mưu với ban giám hiệu nhà trường và phối kết hợp với phụ huynh đầu tư thêm cơ sở vật chất cho công tác tổ chức khám phá khoa học. Chính vì vậy trẻ ở lớp tôi rất hào hứng, tự tin tham gia vào các hoạt động khám phá khoa học và các hoạt động khác. II/ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT. Sau khi thực hiện thành công sáng kiến kinh nghiệm này, tôi cũng xin có một vài khuyến nghị đề xuất nhỏ với các cấp lãnh đạo như sau. * Đối với phòng giáo dục: - Tạo điều kiện cho giáo viên được tham gia nhiều tiết kiến tập khám phá khoa học và các môn học khác. * Đối với nhà trường: - Tiếp tục đầu tư thêm cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho học tập và hoạt động của trẻ Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đề Tài Một Số Biện Pháp Tổ Chức Các Hoạt Động Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Cho Trẻ 5 / 2023

Không những nhà giáo dục mà hơn ai hết chính cha mẹ học sinh đều mong muốn trẻ hình thành và phát triển nhân cách sớm, đặc biệt là có thói quen tốt và hành vi có đạo đức tốt để hình thành nhân cách cho trẻ sau này.Với vai trò quan trọng như vậy, thử hỏi nếu chúng ta không làm tốt hoạt động lấy trẻ làm trung tâm, giúp cho trẻ thể hiện nhận thức của trẻ thì có mang lại được kết quả như mong đợi không? Hay chúng ta cứ tiếp tục dạy trẻ theo kiểu cô nói trẻ lắng nghe nếu việc dạy học của giáo viên không đổi mới kịp thời thì vô tình chúng ta đang kìm hảm sự phát triển về mọi mặt của trẻ. Vì trẻ đến trường chỉ ngồi lắng nghe thì làm sao tiềm năng trong mỗi trẻ được khơi nguồn và phát triển.

Lấy trẻ làm trung tâm thì mỗi giáo viên cần phải giàu tri thức, sáng kiến, linh hoạt trong cách tổ chức và áp dụng được những thủ thuật tạo ra nguồn cảm hứng cho trẻ, kích thích tư duy trẻ hoạt động, có thể trong một tiết học nhưng quá tình hoạt động của trẻ lại mang lại những nhận thức khác nhau cách lĩnh hội kiến thức khác nhau về chiều sâu của nhận thức.

ứa trẻ được hoạt động tích cực phù hợp với sự phát triển của bản thân trẻ, đáp ứng tối đa nhu cầu và hứng thú của trẻ trong quá trình giáo dục. Thực tế cho thấy việc tổ chức các hoạt động theo hướng lấy trẻ làm trung tâm đã tạo ra một không gian mở cho trẻ, khuyến khích trẻ phát triển tư duy và phương pháp giải quyết vấn đề. Nếu trẻ được tạo nhiều cơ hội tự tham gia trải nghiệm khám phá, thì như vậy trẻ đã có thể được phát triển tư duy sáng tạo, giúp trẻ có nhiều cơ hội phát triển ngôn ngữ, tình cảm xã hội, phát triển thẩm mỹ, thể chất, phát triển nhận thức. Những lợi ích đó có liên hệ trực tiếp với phương pháp dạy của các giáo viên, đó chính là cách tổ chức các hoạt động cho trẻ theo hướng lấy trẻ làm trung tâm. 2.Thực trạng. Thực tế trong giảng dạy cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trường hiện nay, còn nhiều vấn đề cần khắc phục như: Sự am hiểu tính cách độ tuổi từng trẻ, cách xây dựng kế hoạch, lựa chọn chỉ số, lối dẫn dắt lôi cuốn trẻ, đa số còn dạy trẻ theo hướng lấy giáo viên làm trung tâm, cô hướng dẫn nhiều, nói nhiều, trẻ ít được thực hành, trao đổi, một phần cũng do đồ dùng đồ chơi ít, chưa đầy đủ để trẻ hoạt động. Để tháo gỡ khó khăn này, tôi đã chọn phương pháp giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, thiết kế môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm và cách lập kế hoạch trên quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.Vì vậy đòi hỏi giáo viên phải có trình độ chuyên môn cao, sáng tạo, năng động trong giảng dạy để trẻ đạt được kết quả tốt nhất khi cho trẻ tự khám phá tìm tòi cái mới trong mọi hoạt động . Chất lượng giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi tại lớp lá 2 được thể hiện qua các số liệu như sau: Tổng số trẻ: 42 trẻ; nữ: 18 trẻ; dân tộc: 4 trẻ; Khuyết tật: 01 trẻ. Bảng khảo sát chất lượng của trẻ đầu năm học 2016 - 2017 như sau: STT Tiêu chí Đạt Chưa đạt Số trẻ Tỷ lệ % Số trẻ Tỷ lệ % 1 Trẻ hứng thú tham gia vào giờ học 18/42 43 24/42 57 2 Trẻ có ý thức tự thực hiện tốt yêu cầu của tiết học 17/42 40 25/42 60 3 Trẻ nắm vững kiến thức, kỹ năng vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào thực tế. 19/42 45 23/42 55 4 Trẻ có kỹ năng sử dụng ngôn ngữ rõ rang, mạch lạc 14/42 38 28/42 66 * Nghiên cứu và áp dụng đề tài này có một số ưu và nhược điểm sau: + Ưu điểm. Trường Mầm Non Ea Na là một trường đạt chuẩn quốc gia, một ngôi trường khang trang, sạch đẹp nằm ở trung tâm xã Ea Na với điều kiện cơ sở vật chất rất đầy đủ và đa dạng, địa điểm rộng rãi, thoáng mát, có đầy đủ các phòng học theo tiêu chuẩn phòng ốc của quốc gia trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ. Lễ đón bằng công nhận chuẩn quốc gia cấp độ một - Trường luôn tạo điều kiện cho các giáo viên tham gia các lớp học tập huấn về chuyên đề. - Ban giám hiệu trường luôn sát sao chỉ đạo giáo viên về chuyên môn, thường xuyên dự giờ thăm lớp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy. - Trường mầm non Ea Na có 5 phân hiệu và 14 lớp học, có đội ngũ giáo viên trẻ khỏe, yêu nghề. - Được sự chỉ đạo sát sao của phòng, và luôn được cụm thường xuyên chuyên đề cập nhật cái mới. - Có sự quan tâm của nhà trường, sự nhiệt tình giúp đỡ của chuyên môn, đồng nghiệp. - Qua thực hiện chuyên đề, cùng nhiều năm trong nghề, tôi đã tích góp được nhiều kinh nghiệm, nắm chắc phương pháp dạy học, lập kế hoạch đối với từng hoạt động, từng độ tuổi. - Cha mẹ học sinh luôn quan tâm tới con em, phối kết hợp với nhà trường trong quá trình chăm sóc, nuôi dạy trẻ tốt. - Trẻ cùng độ tuổi, đi học chuyên cần, biết tôn trọng và vâng lời giáo viên, có thói quen trong học tập và các hoạt động. - Bản thân tôi là người luôn yêu nghề, mến trẻ gần gũi trẻ và rất thích tiếp cận phương thức giáo dục mới. +Hạn chế. - Giáo viên tổ chức các giờ hoạt động chung còn gò bó, chưa sáng tạo, chưa gây được hứng thú cho trẻ, chưa biết cách lấy trẻ làm trung tâm trong các giờ học. - Giáo viên chưa mạnh dạn đổi mới phương thức dạy học . - Công tác phối kết hợp của giáo viên với cha mẹ học sinh trong việc cho trẻ tự học, tìm tòi trải nghiệm, trao đổi còn chưa cao. - Trẻ trong cùng độ tuổi nhưng khả năng tiếp thu không đồng đều . - Kinh nghiệm nhận thức của trẻ còn nghèo, khả năng chú ý, ghi nhớ và khả năng diễn đạt của trẻ còn hạn chế. - Trẻ chưa biết cách giải quyết tình huống có vấn đề, còn lóng ngóng, chưa tích cực sáng tạo, còn dựa vào sự can thiệp của giáo viên. Ví dụ: Khi trẻ chơi cùng bạn, trẻ gặp tình huống khó, trẻ không tự tìm cách giải quyết hay trao đổi với bạn mà dễ dàng bỏ cuộc, hay nhờ đến sự giải quyết của giáo viên. - Các học liệu cho trẻ trong mọi hoạt động còn ít, chưa phong phú, đa dạng. - Trẻ mới vào đầu năm học nên một số trẻ còn nhút nhát chưa phát huy hết năng lực của trẻ. - Tính sáng tạo trong sự thiết kế bài dạy cho trẻ theo hướng lấy trẻ làm trung tâm chưa cao, dẫn đến khi thực hiện chương trình đổi mới còn nhiều khó khăn. Từ những hạn chế trên đã làm cho đội ngủ giáo viên thiếu sự tự tin khi lập kế hoạch và soạn giảng, bởi giáo viên quên cách dạy truyền đạt nên giờ học đối với trẻ còn nhàm chán, bởi cô nói và làm còn trẻ thụ động. * Nguyên nhân chủ quan: Đề tài đã tập trung khai thác, nêu bật lên những phương pháp, cách làm gần gũi với giáo viên đứng lớp. Các biện pháp dễ hiểu dễ áp dụng trong thực tế. - Nhà trường đặc biệt là chuyên môn và tổ khối luôn đề cao việc giảng dạy "Lấy trẻ làm trung tâm" đây chính là nòng cốt của việc dạy và học dựa trên nhu cầu và năng lực của trẻ. - Trẻ cùng độ tuổi, luôn đi học chuyên cần. Trẻ mầm non rất thích được nghe và làm những cái mới, thích được tìm hiểu, sáng tạo dựa trên những điều đã hiểu biết, nên khi đưa trẻ vào các bài giảng hay các hoạt động khác như hoạt động góc mà giáo viên nắm được kỹ năng, phương thức học "Lấy trẻ làm trung tâm" Thì sự phát triển tư duy của trẻ mang lại càng cao. Về phía phụ huynh cũng dành nhiều thời gian quan tâm hơn đến con em mình, Phối kết hợp với nhà trường trong quá trình giúp đỡ trẻ học tốt, và phần đa phụ huynh đã thừa nhận cách cho trẻ học theo hướng " Lấy trẻ làm trung tâm" trẻ phát triển các mặt rất mạnh, đặc biệt ý thức của trẻ phát triển vược bật, trẻ ít khi nhờ người khác làm giúp vì trẻ tự giải quyết được và tự hòa về điều đó *Nguyên nhân khách quan: Giáo viên chưa linh hoạt trong cách tổ chức dạy học lấy trẻ làm trung tâm và sử dụng các biện pháp, thủ thuật giúp trẻ phát huy tối ưu khả năng nhận thức của trẻ. * Phân tích đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra: -Việc xây dựng thiết kế các phương pháp, biện pháp thủ thuật theo mục đích lấy trẻ làm trung tâm là rất cần thiết, giúp giáo viên xây dựng kế hoạch phù hợp với độ tuổi và đối tượng lĩnh hội kiến thức. Trong mọi hoạt động nhà giáo dục đều lấy trẻ làm trung tâm thì sẽ giúp trẻ hiểu và ghi nhớ rất nhanh những việc tốt, việc gì không tốt, việc nên làm, việc không nên làm một cách dễ dàng. Chính vì vậy việc giúp trẻ học tốt, thể hiện được nhu cầu hứng thú của chính bản thân điều này giữ một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình lĩnh hội tri thức của trẻ. Không những nhà giáo dục mà hơn ai hết chính cha mẹ học sinh đều mong muốn trẻ hình thành và phát triển nhân cách sớm, đặc biệt là có thói quen tốt và hành vi có đạo đức tốt để hình thành nhân cách cho trẻ sau này.Với vai trò quan trọng như vậy, thử hỏi nếu chúng ta không làm tốt hoạt động lấy trẻ làm trung tâm, giúp cho trẻ thể hiện nhận thức của trẻ thì có mang lại được kết quả như mong đợi không? Hay chúng ta cứ tiếp tục dạy trẻ theo kiểu cô nói trẻ lắng nghe nếu việc dạy học của giáo viên không đổi mới kịp thời thì vô tình chúng ta đang kìm hảm sự phát triển về mọi mặt của trẻ. Vì trẻ đến trường chỉ ngồi lắng nghe thì làm sao tiềm năng trong mỗi trẻ được khơi nguồn và phát triển. Lấy trẻ làm trung tâm thì mỗi giáo viên cần phải giàu tri thức, sáng kiến, linh hoạt trong cách tổ chức và áp dụng được những thủ thuật tạo ra nguồn cảm hứng cho trẻ, kích thích tư duy trẻ hoạt động, có thể trong một tiết học nhưng quá tình hoạt động của trẻ lại mang lại những nhận thức khác nhau cách lĩnh hội kiến thức khác nhau về chiều sâu của nhận thức. 3. Nội dung và hình thức của giải pháp. a. Mục tiêu của biện pháp. Tổ chức các hoạt động giáo dục lấy trẻ làm trung tâm làm nòng cốt là đã hình thành ở trẻ tính tự lập, giúp trẻ phát huy tính tích cực là tiền đề tốt cho trẻ bước vào các cấp học tiếp theo. Khi tổ chức các hoạt động lấy trẻ làm trung tâm trẻ sẽ được thỏa mản nhu cầu khám phá, thể hiện được kỹ năng tiềm ẩn của bản thân, mặt khác giáo viên dể dàng lồng ghép tích hợp trong các hoạt động. Giúp cha mẹ trẻ hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của các hoạt động giáo dục ở trường mầm non, nhằm tạo sự gắn bó giữa cha mẹ trẻ và trường lớp mầm non. b. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp. - Biện pháp 1: Chú trọng bồi dưỡng chuyên môn cho bản thân . Tham gia các buổi chuyên đề cấp cụm, tìm hiểu và học bồi dưởng thường xuyên đặc biệt là học module mầm non trực tuyến, ví dụ chuyên đề mới đây nhất được tổ chức ở cụm là chuyên đề Chuyên đề về ngày hội đồng diễn thể dục ; Lồng ghép hoạt động tăng cường tiếng Việt; Chuyên đề lồng ghép biển và hải đảo thông qua môn Làm quen văn học; Chuyên đề môn Làm quen văn học dành cho lớp ghép đã được tổ chức. Bản thân tôi cũng tham gia xây dựng các tiết dạy mẫu để rút ra kinh nghiệm, tham gia khóa học Module trực tuyến do Sở Giáo dục và Đào tạo tập huấn. Tham gia thi giáo viên giỏi trường, huyện nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Tự học hỏi và thiết kế được các giáo án điện tử trong phần mềm power point Ví dụ: Chúng ta thiết kế ô cửa bí mật với các nhân vật, chữ cái hay con số chuyển động giúp học sinh nảy sinh sự tò mò thích khám phá và chú ý tốt. Như các câu hỏi được hé mở qua các ô cửa bí mật. Tham khảo tài liệu sách báo, nói về chuyên đề để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Sáng tạo trong thiết kế thiết bị đồ dùng dạy học thông dụng cho các môn học. - Đối với biện pháp 2: Tăng cường thiết bị, đồ dùng dạy học và tạo môi trường cho trẻ hoạt động lấy trẻ làm trung tâm. Đây là biện pháp quan trọng mà người giáo viên cần phải có đó là sự sáng tạo trong thiết kế xây dựng, lựa chọn đề tài cũng như tạo dụng cụ dạy học đồ dùng đồ chơi, cách sưu tầm tranh ảnh, xây dựng mô hình, tạo và lựa chọn môi trường hoạt động học trong và ngoài lớp cho trẻ giúp trẻ có điều kiện tiếp cận với cách học mới gây được sự tò mò thích khám phá trong trẻ hơn. Khi sử dụng biện pháp này trẻ được tiếp xúc với cách học mới mà trẻ hằng mong đợi ở tường, đồ dùng, thiết bị học càng phong phú thì trẻ sẽ có điều kiện tiếp cận nhiều hơn làm khắc sâu hình tượng và ghi nhớ và nảy sinh nhiều sáng kiến với đồ dùng hơn. Đồ dùng tự tạo động vật sống dưới nước Cửa hàng lưu niệm Thiết bị dạy học và môi trường giảng dạy là quá trình phối hợp linh hoạt và hợp lý những kinh nghiệm, thành tựu sử dụng, điều kiện cơ sở vật chất và cải tiến phương pháp dạy học của giáo viên. Đổi mới phương pháp nhằm tích cực hoá các hoạt động dạy học, khuyến khích bản thân chủ động, sáng tạo, dạy học tập trung vào trẻ, lấy trẻ làm trung tâm để phát triển mọi khả năng của trẻ, tổ chức hướng dẫn trẻ học tập bằng cách tự phát hiện khả năng của mình và có niềm tin trong lao động, học tập. Tổ chức tiết dạy bản thân tôi xây dựng như sau: * Đối với giáo viên: - Nghiên cứu kỹ nội dung đề tài, xác định trọng tâm kiến thức, kỹ năng bài học và các hình thức tổ chức hoạt động diễn ra trong tiết dạy. - Chuẩn bị hệ thống câu hỏi, mục đích giải quyết, dự kiến các tình huống ở trẻ và hướng khắc phục. - Lựa chọn hình thức tổ chức tiết học phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của lớp, phù hợp với đề tài và lĩnh vực mà mình đã chọn. Để tổ chức tốt tiết dạy phải tuỳ nội dung và mục đích cụ thể của bài dạy để xác định cách tổ chức hoạt động cho trẻ làm thế nào để có kết quả cao nhất. * Đối với trẻ: - Phải khuyến khích trẻ mạnh dạn tham gia vào các hoạt động cùng cô và các bạn, giúp trẻ tự tin trong giao tiếp, tạo sự gần gũi giữa cô với trẻ, tạo tâm thế thoải mái cho trẻ khi bước vào hoạt động. - Giúp trẻ chủ động, tích cực trong qúa trình chiếm lĩnh tri thức, tạo cơ hội cho tất cả trẻ đều được tham gia vào quá trình nhận thức, tìm tòi, khám phá tri thức, trẻ được thể hiện sự hiểu biết, suy nghĩ của trẻ thông qua các hoạt động cụ thể. * Đối với biện pháp 3: Thực hiện tổ chức tốt các hoạt động lấy trẻ làm trung tâm. Ở độ tuổi 5-6 tuổi, hoạt động chủ đạo của trẻ "Chơi mà học, học mà chơi" thông qua các hoạt động đa dạng phong phú mà trẻ lĩnh hội tri thức trong cuộc sống xung quanh trẻ, chương trình giáo dục mầm non mới lấy trẻ làm trung tâm, tạo điều kiện cho mỗi đứa trẻ được hoạt động tích cực phù hợp với sự phát triển của bản thân trẻ, đáp ứng được tối đa nhu cầu và hứng thú, dựa vào khả năng của mỗi trẻ. Qua đó giáo viên sẽ là người tổng hợp mọi ý kiến của các nhóm và bổ sung ý kiến, đưa ra kết quả chung cho cả lớp hiểu vấn đề. Ví dụ: Khi hoạt động góc. Cô sẽ gợi ý cho những trẻ năng động, linh hoạt đóng vai trò chủ đạo, làm trưởng nhóm để có thể bao quát, xây dựng trong quá trình chơi của nhóm. Hình: Trẻ chơi góc âm nhạc Tổ chức tốt các hoạt động cho trẻ theo biện pháp và hình thức lấy trẻ làm trung tâm đã tạo ra được một không gian mở cho cô và trẻ. Hình : Trẻ chơi đóng vai bác sĩ - Đối với biện pháp 4: Lựa chọn nội dung và trò chơi phù hợp để rèn luyện tính tích cực hoạt động của trẻ. Nói đến việc giáo dục ở trường mầm non thì không thể không nói đến việc thực hiện chương trình, chương trình là phương tiện cơ bản để giáo dục toàn diện. Muốn thực hiện tốt chương trình thì đòi hỏi phải nắm được nội dung chương trình giáo dục mầm non. *Trò chơi tích hợp: Hình ảnh trò chơi phục vụ tiết học khám phá một số loại hoa Sau khi trẻ khám phá xong nội dung dạy, để kết thúc bài cô cho trẻ chơi trò chơi tích hợp nhằm củng cố kiến thức với trò chơi " Mua hoa" Trẻ được đi theo đường dích dắc mua bông hoa theo yêu cầu của đội mình để cắm vào lẵng hoa sao đủ số lượng 9. Qua trò chơi này cô giáo đã cho trẻ được học các môn học như thể dục kỹ năng, toán... - Đối với biện pháp 5. Sử dụng phần mềm power point trong tổ chức các hoạt động chung: Đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động cho trẻ đòi hỏi người giáo viên phải tích cực tìm tòi, học hỏi để luôn sáng tạo, đổi mới cách thức tổ chức các hoạt động nhằm tạo cơ hội tốt nhất để trẻ được tham gia vào các hoạt động, tiếp thu kiến thức một cách chủ động giúp trẻ phát triển toàn diện cả về thể lực và trí tuệ. Với những hình thức cho trẻ hoạt động như: * Sử dụng phần mềm cho trẻ tìm hiểu môi trường xung quanh. Ví dụ: Cho trẻ "Quan sát một số con vật sống trong rừng ". Nếu chỉ quan sát tranh thì tiết học sẽ trở nên đơn điệu, trẻ sẽ nhàm chán. Nhưng cô ứng dụng phần mềm, sáng tạo ra câu chuyện về các con vật, cô vừa kể truyện vừa cho trẻ quan sát các con vật đang di chuyển trong rừng, những con vật " thật " thì trẻ sẽ rất thích thú, trẻ tập trung vào hoạt động tích cực hơn, giờ học đạt kết quả như mong muốn. Qua đó giáo dục trẻ biết tự chăm sóc, bảo vệ bản thân trước những con vật hung dữ, trước sự thay đổi thời tiết, biết yêu thương, chăm sóc cho cây cối, con vật nuôi. Những sự vật, hiện tượng xung quanh đều có ý nghĩa đối với trẻ. Để những cái đẹp đi vào tâm hồn trẻ một cách sâu sắc, điều quan trọng là cô giáo phải truyền thụ thế nào cho trẻ tiếp thu nhẹ nhàng, thoải mái để trẻ nhớ lâu. * Sử dụng phần mềm hướng dẫn trẻ hoạt động tạo hình. Cũng giống như bất cứ hoạt động chung nào, việc tạo cảm xúc khi vào bài là một vấn đề quan trọng, nó đưa đến sự thành công và sáng tạo của trẻ trong suốt thời gian hoạt động.Tuy phần này nó chiếm ít thời gian nhưng nó có vị trí không kém phần quan trọng, vừa lôi cuốn được trẻ, vừa khéo léo giúp trẻ hình thành những vấn đề mà trẻ cần giải quyết. Ví dụ: Cho trẻ "vẽ vườn hoa " để sản phẩm của trẻ sáng tạo thì đòi hỏi cô giáo phải cung cấp đầy đủ các biểu tượng, hình ảnh về sự vật, không đơn thuần chỉ là tranh ảnh mà trẻ phải được trực tiếp quan sát các loài hoa. Cô cung cấp cho trẻ qua phần mềm, cho trẻ được trực tiếp xem các loài hoa rung rinh trong gió, đua nhau khoe sắc. Từ đó làm giàu hình ảnh, biểu tượng trong sản phẩm của trẻ. * Sử dụng phần mềm cho trẻ làm quen với toán và tổ chức trò chơi củng cố kiến thức. Sau khi truyền thụ kiến thức mới cho trẻ để củng cố lại vốn kiến thức đó. Giáo viên nghiên cứu, sáng tạo đưa ra các trò chơi. Tuỳ thuộc vào nội dung bài học mà giáo viên lựa chọn ra các trò chơi khác nhau, nhằm cung cấp cho trẻ nhận biết các chữ số, tạo nhóm, hay so sánh thêm bớt tạo sự bằng nhau..., một cách chính xác và rèn cho trẻ kỹ năng khi lựa chọn chữ số, tạo nhóm, hay so sánh các hì

Đề Tài Một Số Biện Pháp Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Cho Trẻ Mẫu Giáo 5 / 2023

Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non là cung cấp cho trẻ những kiến thức sơ đẳng về môi trường phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ nhằm tạo ra thái độ, hành vi đúng của trẻ đối với môi trường xung quanh. Việc khám phá quy luật của tự nhiên nhằm mục đích bảo vệ môi trường có thể bắt đầu từ lứa tuổi mầm non. Môi trường sống bao gồm các yếu tố tự nhiên, xã hội và vật chất nhân tạo bao quanh con người. Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người và sự phát triển kinh tế văn hoá của đất nước và của cá nhân.

Để đảm bảo cho con người được sống trong một môi trường lành mạnh thì việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường được hình thành và rèn luyện từ rất sớm, từ lứa tuổi mầm non giúp con trẻ có những khái niệm ban đầu về môi trường sống của bản thân mình nói riêng và con người nói chung là cần thiết Từ đó biết cách sống tích cực với môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh của cơ thể và trí tuệ.

Ngày nay trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trước nhu cầu đào tạo thế hệ trẻ lực lượng kế thừa xây dựng đất nước sau này, giáo dục bảo vệ môi trường đã trở thành nhiệm vụ quan trọng, trong việc đào tạo thế hệ trẻ ở các trường học và đã được quan tâm ngay từ bậc học mầm non.

Song song với sự phát triển kinh tế của đất nước, thì môi trường đang bị huỷ hoại nghiêm trọng, một trong những nguyên nhân cơ bản là do sự thiếu ý thức, thiếu hiểu biết của một số người

Ví dụ: Như vứt rác xuống sông hồ, làm cho nước ở sông hồ bị ô nhiễm. Đây cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường.

Nhằm bảo vệ sức khỏe nhân dân, bảo đảm cho con người được sống trong môi trường trong lành góp phần bảo vệ khu vực và toàn cầu. Ngày 27/12/1993 Quốc hội đã thông qua ” Luật bảo vệ môi trường”. Đồng thời Thủ Tướng chính phủ cũng đã phê duyệt đề án ” Đưa các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào hệ thống quốc dân. Đối với giáo dục mầm non cung cấp cho trẻ những hiểu biết ban đầu về môi trường sống của bản thân nói riêng và của con người nói chung. Biết cách sống tích cực với môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh về cơ thể và trí tuệ.

Thực hiện chỉ thị chung của nghành giáo dục mầm non, dựa vào tình hình thực tế của trường, của lớp, từ thực tế tôi thấy rằng trẻ chưa đạt được mục tiêu cơ bản, tỉ lệ trẻ có những hành vi, thái độ tham gia bảo vệ môi trường còn rất ít và không thường xuyên.

Ví dụ: Khi trẻ ăn bim bim, trẻ sẵn sàng cầm ngay vỏ bim bim ném xuống sân trường hoặc một nơi nào đó, mà không vứt vào thùng rác.

Từ ví dụ trên ta có thể nghĩ ngay rằng trẻ chưa có ý thức tự giác bảo vệ môi trường xung quang mình, do trẻ chưa được sự chú ý giáo dục thường xuyên và đúng phương pháp, trẻ chưa nắm được kiến thức cơ bản về môi trường, chưa hiểu được hành vi vứt rác bừa bãi ra sân trường làm cho trường học mất vệ sinh, cô và các cháu sẽ bị ảnh hưởng đến sức khoẻ và ảnh hưởng tới người khác.

Từ tình hình thực tế đó làm tôi suy nghĩ, làm thế nào để nâng cao giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ đem lại kết quả tốt hơn. Và tôi quyết định chọn đề tài

“Một số biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đề Tài Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ 5 / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!