Đề Xuất 11/2022 # Dấu Hiệu Stress Là Gì? Giải Pháp Giảm Stress Cho Người Bận Rộn / 2023 # Top 18 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # Dấu Hiệu Stress Là Gì? Giải Pháp Giảm Stress Cho Người Bận Rộn / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Dấu Hiệu Stress Là Gì? Giải Pháp Giảm Stress Cho Người Bận Rộn / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Căng thẳng mệt mỏi là trạng thái không ai mong muốn, tuy nhiên trong cuộc sống thì không phải lúc nào chúng ta cũng né tránh được điều này. Nhất là khi xã hội phát triển, áp lực của con người trong công việc mỗi lúc một tăng cao dẫn đến stress. Vậy bao gồm những gì và cách khắc phục như thế nào?

Tại sao nói stress là một căn bệnh nguy hiểm? Tuy rằng nó không giết chết bạn ngay lập tức nhưng nó sẽ khiến tinh thần và sức khỏe của bạn trở nên tồi tệ đi rất nhiều.

Dấu hiệu stress về mặt sức khỏe

Bạn thường xuyên gặp các vấn đề về sức khỏe như rụng tóc, các bệnh về da, ốm vặt, mất ngủ, đau đầu, chóng mặt,… Các dấu hiệu này thường xuyên lặp đi lặp lại và kéo dài khiến bạn mệt mỏi. Khi những căng thẳng tác động đến, hệ thần kinh trung ương sẽ không thể hoạt động bình thường. Nơi điều khiển toàn bộ hoạt động của cơ thể bị trục trặc thì toàn bộ hệ nội tiết, hệ hô hấp, tim mạch, hệ sinh hóa,…đều sẽ bị ảnh hưởng.

Dấu hiệu stress ảnh hưởng đến sức khỏe

Tùy vào thời gian phải gánh chịu những căng thẳng thì mức độ tác động lên các các cơ quan sẽ nặng hay nhẹ. Bấy nhiêu dấu hiệu đó thôi cũng đã chứng minh được rằng những hậu quả mà stress đem đến khinh khủng như thế nào.

Dấu hiệu stress về mặt tinh thần

Nguyên nhân dẫn đến stress bắt nguồn từ sự căng thẳng, chính vì vậy mà ảnh hưởng của nó lên hệ thần kinh là vô cùng lớn. Bạn sẽ không thể tập trung hoặc suy nghĩ bất cứ một việc gì dẫn đến hiệu quả công việc không như mong muốn. Chưa dừng lại ở đó, stress còn khiến bạn trở nên cáu bẩn và nhạy cảm hơn rất nhiều. Điều này làm ảnh hưởng trực tiếp đến những mối quan hệ và cuộc sống của bạn.

Căng thẳng là điều trong thể tránh khỏi trong cuộc sống. Sẽ có người vượt qua được và sớm trở lại với nhịp sống vui vẻ thường ngày. Nhưng sẽ có những người không thể tự mình dứt khỏi. Vậy câu hỏi được đặt ra “bị stress nặng phải làm sao?”

Giải pháp điều trị stress

Trước tiên những người bị stress nặng cần ý thức được căn bệnh của mình. Thay đổi thói quen sinh hoạt và ăn uống hợp lý sẽ giúp cải thiện được tình trạng này. Cụ thể là việc bổ sung axit béo Omega 3 có trong các loại cá. Chất dinh dưỡng này sẽ sản sinh ra các loại hormone tự nhiên có thể đánh bại căng thẳng.

Bên cạnh đó việc tránh xa các tác nhân gây nên căng thẳng cũng là phương pháp giảm stress hữu ích. Hãy nói lời tạm biệt với bia rượu và các chất kích thích, tập suy nghĩ đơn giản và chia sẻ những khó khăn với bạn bè, người thân. Hoặc đơn giản hơn là dành thời gian để nghỉ ngơi, làm những gì mà bạn muốn như xem một bộ phim, nghe một bản nhạc ưa thích. Tất cả những điều đó làm cho bạn quên đi những căng thẳng, phiền muộn.

Nếu căng thẳng của bạn là quá lớn và những giải pháp giảm stress này chưa thật sự bổ ích cho bạn.Hoặc là bạn quá mệt mỏi sau một ngày dài làm việc? Bạn không có thời gian để thực hiện những lời khuyên trên? sẽ gợi ý cho bạn một phương pháp khác, nhanh chóng và thuận tiện hơn, đó chính là Viên uống giảm căng thẳng Address Stress Dietary Supplement. Chỉ cần một viên uống giảm căng thẳng mỗi ngày là bạn đã có thể tự giúp mình phấn chấn, sảng khoái trở lại. Cơ thể khi đã được “sạc pin”, nguồn năng lượng đã dồi dào thì còn ngại gì công việc không thuận lợi, cuộc sống không vui vẻ nữa.

Viên uống giảm căng thẳng Address Stress Dietary Supplement

Làm Gì Để Giảm Stress ? / 2023

Trong cuộc sống hiện đại, chúng ta đều ít nhiều gặp phải stress là những áp lực công việc, vấn đề an ninh, những điều lo lắng về sức khỏe, kinh tế, chính trị… khiến bản thân phải căng thẳng, mệt mỏi. Nếu bạn không kiểm soát được những căng thẳng này, chúng sẽ ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của bạn. Vậy phải làm gì để giảm stress?

Massage vừa giúp thư giãn vừa giảm căng thẳng cơ bắp.

Stress có thể gây ra những bệnh nguy hiểm

Nghiên cứu của Trường đại học Tel Aviv (Israel) cho thấy: những người làm việc có mức độ căng thẳng cao, có nhiều khả năng phát triển bệnh tiểu đường typ 2. Còn nghiên cứu từ Đại học California (Hoa Kỳ) cũng cho thấy: các yếu tố gây ra sự căng thẳng có thể làm tăng hoặc thậm chí gây ra các rối loạn về da như bệnh vẩy nến, bệnh chàm. Trong khi nghiên cứu của Trường đại học Y khoa Rochester kết luận: những người bị căng thẳng trong công việc thường có chỉ số khối cơ thể (BMI) cao hơn so với nhân viên ở các vị trí ít căng thẳng. Như vậy, stress cũng gây khá nhiều vấn đề đối với sức khỏe. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để giảm stress? Các chuyên gia khuyên chúng ta nên thực hiện các biện pháp giảm stress như sau:

Ngủ đủ 8 giờ mỗi ngày

Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC – Hoa Kỳ) cho hay: ngủ đủ giấc có thể giúp cải thiện sức khỏe và giúp bạn ít căng thẳng hơn. Nếu ngủ không đủ giấc và căng thẳng có thể là một vòng luẩn quẩn. Sự căng thẳng, mệt mỏi suốt cả ngày dễ khiến bạn mất ngủ, và thiếu ngủ có thể làm bạn mệt mỏi, căng thẳng vào ngày hôm sau. Nghiên cứu của Học viện giấc ngủ Calyton cho thấy, những người bị stress mạn tính có thời gian ngủ ngắn hơn và chất lượng ngủ cũng rất thấp so với người bình thường cùng độ tuổi.

Trò chuyện

Trong liệu pháp trò chuyện, có nhiều phương pháp: liệu pháp hành vi nhận thức, liệu pháp hành vi biện chứng và liệu pháp nhóm, nhưng đều có điểm chung là nhằm mục đích giúp bệnh nhân đối phó với những suy nghĩ, cảm xúc tiêu cực và giúp họ thay đổi tích cực để đối phó tốt hơn với sự căng thẳng.

Tập thể dục đều đặn

Tập thể dục thể thao có thể giảm căng thẳng vì làm giảm mức cortisol. Chất này là một hormon được sản sinh từ tuyến thượng thận trong thời gian căng thẳng, khi bạn cảm thấy lo lắng, giận dữ hoặc sợ hãi. Nó có thể làm tăng huyết áp, tăng mức đường huyết và giảm khả năng miễn dịch của cơ thể, có thể gây tổn thương nhiều cơ quan.

Theo Debbie Mandel thì tập thể dục giúp đốt cháy cortisol, do đó làm cho chúng ta khỏe mạnh và hạnh phúc hơn. Tập thể dục cũng kích thích tuyến yên giải phóng endorphins – chất dẫn truyền thần kinh có hiệu quả cao, giúp cơ thể hạn chế được các tác động tiêu cực của stress. Cơ quan CDC khuyên: tăng cường vận động cơ bắp, nên để các nhóm cơ chính như chân, hông, lưng, bụng, ngực, vai và cánh tay vận động bằng các bài tập phù hợp. Đảm bảo tập thể dục ít nhất 2,5 giờ mỗi tuần, nghĩa là chỉ cần đi bộ nhanh 10 phút, 3 lần/ngày trong 5 ngày mỗi tuần là đã có 150 phút hoạt động với cường độ vừa phải, là có hiệu quả tốt.

Tập thiền

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy: lợi ích của thiền định là giúp giảm căng thẳng, giảm huyết áp, giảm bớt cảm giác đau đớn và thậm chí ngăn ngừa tái phát ở những bệnh nhân bị trầm cảm. Nghiên cứu tại Đại học Emory ở Atlanta cho thấy: thiền giúp ta nâng cao những nhận thức về tinh thần và kiểm soát suy nghĩ của bản thân trong khi tập trung vào hơi thở, có thể điều trị các rối loạn thiếu tập trung và hiếu động.

Có nhiều phương pháp thiền khác nhau. Một số phong cách thiền định tập trung vào việc làm thanh lọc tâm hồn, khuyến khích việc tăng cường những hình ảnh và suy nghĩ tích cực, đối xử tốt với bản thân và mọi người xung quanh. Người có vận động hạn chế cũng có thể thiền trong khi ngồi trên ghế hoặc nằm cũng thiền được.

Cười nhiều

Nghiên cứu của Đại học Loma Linda (Hoa Kỳ) phát hiện ra rằng: những người xem một đoạn video hài hước sẽ giảm hormon stress là cortisol và giảm epinephrin. Những người này cũng có sự gia tăng chất endorphins, tăng cường các cảm xúc hưng phấn, tăng miễn dịch và giảm trầm cảm. Tiếng cười vừa giúp chúng ta giảm sự căng thẳng hay nỗi đau tinh thần, vừa giúp hạn chế các cơn đau thể xác. Nghiên cứu tại Đại học Oxford ở Anh phát hiện ra rằng: tiếng cười có thể kích thích giải phóng các endorphin, có tác dụng giảm đau rất hiệu quả. Còn nhân dân ta thì nói: “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”. Lợi ích của cười rất lớn, chúng ta hãy tạo ra nhiều niềm vui và tiếng cười cho cuộc sống thêm vui.

Massage

Massage vừa giúp bạn thư giãn và giảm căng thẳng cơ bắp, vừa ảnh hưởng tích cực đến nồng độ hormon trong cơ thể. Nghiên cứu từ Trung tâm Y tế Cedars-Sinai ở Los Angeles (Hoa Kỳ) cho thấy: sau khi được massage 45 phút, giảm mức độ “hormon stress” là cortisol và giảm vasopressin – một loại hormon đóng một vai trò quan trọng trong các hành vi hung hăng, xung đột.

ThS. Nguyễn Hoàng Lan

Stress Ở Phụ Nữ Là Gì? Biện Pháp Giảm Căng Thẳng Hiệu Quả Nhanh Nhất / 2023

Stress ở phụ nữ là hậu quả từ những áp lực của cuộc sống khiến tâm lý luôn căng thẳng. Để ổn định tinh thần cần có biện pháp giảm thiểu căng thẳng hữu hiệu.

Stress ở phụ nữ hay còn gọi là căng thẳng tâm lý xảy ra khá phổ biến ở cuộc sống hiện đại. Stress là phản ứng của cơ thể khi đứng trước áp lực, tác động đe dọa đến sự ổn định thể chất và tinh thần của con người.

Phụ nữ thường có nhiều vấn đề phải xử lý và lo nghĩ cùng một lúc khiến họ rơi vào mệt mỏi. Với phụ nữ đã kết hôn thì khả năng căng thẳng tâm lý cao hơn phụ nữ độc thân bởi họ phải gánh vác lo toan rất nhiều việc. Khi phụ nữ thiếu sự đồng cảm của người thân, bạn bè cũng là nguyên nhân luôn cảm thấy áp lực, ảnh hưởng lớn đến tâm trí.

Triệu chứng nhận biết stress điển hình như: tự kỉ, thích một mình, dễ kích động, chán nản, thay đổi tâm trạng, tự ti, cô đơn, hay đau đầu, mất ngủ…

Cách giảm stress cho phụ nữ

Stress ở phụ nữ có thể giảm thiểu được nhờ một số cách tiêu biểu như: làm mới mình, thay đổi vị trí đồ đạc, yêu, đi du lịch, tìm đến bạn bè tâm sự…

Thử ngồi nhìn lại mình, bao lâu rồi bạn chưa thay đổi chút gì đó ở bản thân? Bạn đừng cố giữ khuôn khổ theo một phong cách quen thuộc. Hãy làm cho mình khác đi, đẹp hơn, mới hơn với một cách trang điểm ấn tượng, một kiểu đầu mới, bộ váy rất duyên dáng… Một chút thay đổi làm mới mình sẽ khiến bạn trở nên phất khởi và tự tin hơn rất nhiều.

Tránh nhàm chán trong công việc hãy thay đổi vị trí đồ đạc trong nhà hoặc tại công sở. Có thể thêm một tấm thảm dưới chân bàn để chân luôn được thoải mái. Bàn làm việc vốn ở góc khuất được di chuyển sang chỗ cửa sổ sẽ giúp bạn thoáng đãng hơn. Hãy thử thay đổi đồ đạc, đảm bảo mệt mỏi của bạn sẽ được xua tan.

Nếu có ban công, bạn có thể mua những cây cảnh yêu thích về chăm sóc. Nếu tự tay trồng được sẽ làm stress biến mất rất nhanh. Bạn sẽ thấy yên lòng, hạnh phúc khi hằng ngày được tự tay ngắm nhìn những cây mình trồng đang lớn dần.

Nếu bạn là người yêu thích sự sống động hãy chọn một vật cưng để nuôi. Có thể nuôi một chú cún, một con mèo con hay thậm chí môt chú lợn cảnh miễn sao bạn cảm thấy thích. Mỗi ngày đi làm mệt mỏi về có thú cưng bên cạnh sẽ giúp bạn giải tỏa căng thẳng rất nhiều.

Những chuyến du lịch có giá trị tinh thần rất lớn đối với những người bị stress. Khi đã vướng vào quá nhiều căng thẳng hãy ngưng ngay công việc lại. Bạn chỉ cần dành cho mình một vài ngày tham gia chuyến đi kỳ thú thì tâm trạng sẽ khác hẳn. Không gì bằng việc được hít thở không khí trong lành, được hòa mình vào thiên nhiên, tạm thời xa lánh những vướng bận. Sau khi đi du lịch về, tâm trạng hứng khởi sẽ giúp bạn giải quyết các vấn đề nhanh gọn.

Chụp ảnh – Phương pháp hạn chế stress ở phụ nữ

Chụp ảnh cũng là một cách để bạn giải tỏa stress. Bạn có thể lên ý tưởng chụp ảnh với bạn bè và đến ngay những nơi đó để tạo cho mình những bức ảnh đẹp. Thậm chí, bạn có thể tự sửa ảnh cho mình bằng cách chèn vào những hình đánh yêu, hài hước. Khi nhìn lại thành quả của mình sẽ khiến bạn cảm thấy cuộc đời đáng yêu hơn nhiều.

Nếu thích trầm lặng, bạn có thể sử dụng phương pháp giải tỏa stress bằng đọc sách. Hãy chọn những cuốn sách mang nội dung hài hước, vui vẻ, giải trí nhẹ nhàng. Khi bạn đọc sách mà bạn cười được sẽ cảm thấy cuộc đời thật thú vị.

Theo kết quả nghiên cứu tại Đại học Calgary (Canada) cho biết: phụ nữ cần nhiều bạn bè xung quanh hơn nam giới bởi phụ nữ dễ bị căng thẳng tâm lý khi ở một mình.

Khi bạn quá mệt mỏi, bạn sẽ cần một chỗ dựa để được khuyên nhủ, chia sẻ và cảm thông. Đừng ngại ngần, khi stress hãy mạnh dạn tìm cho mình một chỗ dựa để bạn có thể yên tâm tâm sự lòng mình. Bạn bè sẽ như một liều thuốc giúp bạn vượt qua khó khăn, áp lực. Bạn sẽ thấy cuộc đời vẫn còn rất đẹp khi có những người bạn luôn bên cạnh mình.

Đây là cách cuối cùng bạn nên làm khi đối mặt với stress. Bạn hãy tự an ủi chính mình và cố gắng vượt qua khó khăn mỗi khi thất bại. Không thể lúc nào cũng nản chí và trốn tránh bằng những chuyến du lịch được. Hãy tập vượt qua khó khăn bằng một phong thái bình thản. Nếu bạn tự mình vượt qua được thì những khó khăn sau bạn rất dễ dàng vượt qua.

Ngoài ra đừng suy nghĩ phức tạp, hãy đơn giản hóa mọi chuyện để nhẹ nhõm hơn. Phụ nữ thường được coi là chúa phức tạp hóa vấn đề. Khi suy nghĩ mọi chuyện càng nhiều chỉ làm bạn càng thêm khổ sở. Vì thế hãy ổn định tâm lý và đối mặt với vấn đề một cách thoải mái nhất.

Nấm lim xanh – “thần dược” giảm thiểu stress hiệu quả

Tác dụng của nấm lim xanh đối với căng thẳng thần kinh

Nấm lim xanh được coi như một vị thuốc thần kỳ tác dụng tăng cường sức khỏe toàn diện. Nấm lim xanh chứa những dược chất như: polysaccharides, triterpenes, germanium, ling zhi-8 protein có công dụng gỉam stress hiệu quả. Các dược chất giúp giảm đi tác nhân xấu của môi trường sống đến hệ thần kinh. Đồng thời nâng cao hệ thống miễn dịch, giảm thiểu căng thẳng mệt mỏi đối với phụ nữ bị stress. Không chỉ vậy, nấm lim xanh còn cải thiện các triệu chứng như: lo âu, mất ngủ, đau đầu, trầm cảm…

Cách nấu nấm lim xanh giúp giảm bớt stress

Mỗi ngày bạn chỉ cần lấy 20g nấm lim xanh đun với 1,5 lít nước là đủ. Đun đến khi vơi còn 1 lít thì dừng việc đun. Lấy nước đun được chia thành 5 phần uống hết trong ngày. Sử dụng kiên trì nước đun từ nấm lim xanh sẽ tạo cảm giác sảng khoái, ổn định tinh thần một cách hiệu quả.

Với phụ nữ, tình yêu sẽ làm cuộc sống của họ trở nên đầy sức sống hơn rất nhiều. Một người bạn trai, một người chồng ở cạnh bạn sẽ giúp bạn thoát khỏi stress dễ dàng. Tình yêu và người bạn yêu sẽ đưa bạn vào những điều kỳ diệu trong cuộc sống.

Luận Văn: Giải Pháp Giảm Thiểu Stress Cho Nhân Viên Y Tế, Hay / 2023

, ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận văn thạc sĩ ngành tâm lí học với đề tài: Giải pháp giảm thiểu stress cho nhân viên y tế tại bệnh viện tâm thần Tiền Giang, cho các bạn làm luận văn tham khảo

1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Trung Tần STRESS CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TIỀN GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Trung Tần STRESS CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TIỀN GIANG Chuyên ngành : Tâm Lý Học Mã số : 60 31 80 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐINH PHƯƠNG DUY Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực. NGUYỄN TRUNG TẦN

4. LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn các giảng viên Khoa tâm lý – giáo dục, trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy chúng tôi. Đặc biệt, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến Tiến sỹ Đinh Phương Duy, người đã hướng dẫn, góp ý, hỗ trợ và luôn động viên khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, lãnh đạo các Khoa, Phòng cũng như cán bộ, công nhân viên chức đang làm việc tại Bệnh viện Tâm thần Tiền Giang đã tạo điều kiện, nhiệt tình hợp tác, cung cấp những thông tin quý báu giúp cho tôi hoàn thành phiếu khảo sát. Xin cảm ơn cán bộ, nhân viên công tác tại phòng khoa học công nghê và sau đại học.

6. 1.2.7.1. Những ảnh hưởng của stress lên cơ thể ………………………………………52 1.2.7.2. Những phản ứng của cơ thể trước stress……………………………………..55 1.2.8. Những cách ứng phó với stress của NVYT…………………………………………58 Chương 2 : THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC GIẢM THIỂU STRESS CỦA NVYT TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TIỀN GIANG…………….65 2.1. Một số đặc điểm của Bệnh viện Tâm thần Tiền Giang…………………………………..65 2.2. Khái quát về tổ chức nghiên cứu thực trạng …………………………………………………66 2.2.1. Mục đích, yêu cầu……………………………………………………………………………66 2.2.2. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………………………………….66 2.2.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi ………………………………………….67 2.2.2.2. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình……………………………69 2.2.2.3. Phương pháp thống kê toán học…………………………………………………69 2.3. Kết quả nghiên cứu thực trạng ……………………………………………………………………69 2.3.1. Đặc điểm của khách thể nghiên cứu…………………………………………………..69 2.3.2. Thực trạng hiểu biết về stress của NVYT …………………………………………..72 2.3.2.1. Kết quả chung toàn mẫu …………………………………………………………..72 2.3.2.2. Mức độ hiểu biết stress đối với công việc hiện tại của NVYT……….73 2.3.2.3. Mức độ hiểu biết về stress giữa nam và nữ của NVYT…………………74 2.3.3. Thực trạng tự đánh giá mức độ stress của NVYT………………………………..75 2.3.3.1. Kết quả của toàn mẫu……………………………………………………………….75 2.3.3.2. Mức độ stress so với đặc điểm của mẫu khách thể nghiên cứu………76 2.3.4. Thực trạng biểu hiện stress của NVYT ………………………………………………80 2.3.4.1. Thứ bậc điểm trung bình của các mặt biểu hiện…………………………..80 2.3.4.2. Thực trạng biểu hiện stress về mặt cơ thề của NVYT tại BVTTTG .81 2.3.4.3. Thực trạng biểu hiện stress về mặt cảm xúc của NVYT tại BVTTTG..82 2.3.4.4. Thực trạng biểu hiện stress về mặt hành vi của NVYT tại BVTTTG84 2.3.5. Các nguyên nhân gây stress đối với NVYT tại BVTTTG……………………..85 2.3.5.1. Về thứ bậc của các nhóm nguyên nhân gây stress………………………86 2.3.5.2. Những nguyên nhân trong công việc gây stress cho NVYT. ……….87

7. 2.3.5.3. Nhóm nguyên nhân mối quan hệ tại nơi làm việc………………………89 2.3.5.4. Nhóm nguyên nhân do mối quan hệ với đồng nghiệp…………………91 2.3.5.5. Nhóm nguyên nhân do mối quan hệ với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân……………………………………………………………………………..92 2.3.5.6. Nhóm nguyên nhân tứ bên ngoài cơ quan …………………………………93 2.3.5.7. Nhóm nguyên nhân do môi trường làm việc ……………………………..94 2.3.6. Những cách ứng phó với stress của NVYT bệnh viện tâm thần Tiền Giang……………………………………………………………………………………95 2.3.8. Nghiên cứu trường hợp điển hình NVYT bị stress …………………………….98 2.3.9. Giải pháp khắc phục giảm thiểu stress đối với NVYT tại bệnh viện tâm thần Tiền Giang …………………………………………………………………………..105 2.3.9.1. Cơ sở đề xuất giải pháp ………………………………………………………..105 2.3.9.2. Một số giải pháp nhằm giảm thiểu stress đối với NVYT tại bệnh viện tâm thần Tiền Giang ……………………………………………………..108 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ………………………………………………………………………111 TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………………………115 PHỤ LỤC……………………………………………………………………………………………………123

8. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ BVTTTG Bệnh viện tâm thần Tiền Giang ĐTB Điểm trung bình NVYT Nhân viên y tế RTX Rất thường xuyên TX Thường xuyên TT Thỉnh thoảng HK Hiếm khi KC Không có ĐLC Độ lệch chuẩn SL Số lượng f Tần số % Tỉ lệ phần trăm

9. DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1. Đặc điểm của khách thể nghiên cứu………………………………………………70 Bảng 2.2. Sự hiểu biết của nhân viên y tế về stress………………………………………..72 Bảng 2.3. Mức độ hiểu biết stress so với công việc hiện tại của NVYT……………74 Bảng 2.4. Sự hiểu biết về stress giữa nam và nữ NVYT…………………………………74 Bảng 2.5. Mức độ stress của NVYT…………………………………………………………….75 Bảng 2.6. Mức độ tự đánh giá stress so với công việc hiện tại ………………………..76 Bảng 2.7. Mức độ tự đánh giá stress so với thời gian công tác ………………………..77 Bảng 2.8. Mức độ tự đánh giá stress so với tình trạng hôn nhân………………………78 Bảng 2.9. Mức độ tự đánh giá stress so với điều kiện kinh tế………………………….79 Bảng 2.10. Điểm trung bình các mặt biểu hiện stress của NVYT………………………80 Bảng 2.11. Thứ bậc các hiểu hiện stress về mặt cơ thể …………………………………….81 Bảng 2.12. Thứ bậc các biểu hiện stress về mặt cảm xúc………………………………….83 Bảng 2.13. Thứ bậc biểu hiện stress về mặt hành vi…………………………………………84 Bảng 2.14. Thứ bậc của các nhóm nguyên nhân gây stress……………………………….86 Bảng 2.15. Thứ bậc nhóm nguyên nhân trong công việc. …………………………………87 Bảng 2.16. Thứ bậc nguyên nhân do mối quan hệ tại nơi làm việc…………………….89 Bảng 2.17. Thứ bậc nguyên nhân do mối quan hệ với đồng nghiệp …………………..91 Bảng 2.18. Thứ bậc nguyên nhân do mối quan hệ với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân…………………………………………………………………………………..92 Bảng 2.19. Thứ bậc nguyên nhân từ bên ngoài cơ quan……………………………………94 Bảng 2.20. Thứ bậc nguyên nhân do môi trường làm việc………………………………..95 Bảng 2.21. Những cách ứng phó với stress của NVYT…………………………………….96 Bảng 2.22. Các biểu hiện của trường hợp 1 bị stress………………………………………..98 Bảng 2.23. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến stress của trường hợp 1………………..99 Bảng 2.24. Các biểu hiện của trường hợp 2 bị stress………………………………………102 Bảng 2.25. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến stress của trường hợp 2………………103

10. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), loài người đã trải qua “thời đại bệnh truyền nhiễm”, “thời đại bệnh thể xác” và đang chuyển sang “thời đại bệnh tinh thần” trong thế kỷ XXI [49]. Việc áp dụng nhiều thành tựu khoa học công nghệ trong sản xuất đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, năng suất và chất lượng của sản phẩm không ngừng được tăng lên. Nhưng đồng thời với hiệu quả trên, đặc điểm của nhiều quá trình lao động đang thay đổi nhanh chóng ở khắp mọi nơi trên thế giới, khiến cho nhiều người lao động, đặc biệt là người lao động ở các nước đang phát triển không kịp thích nghi và họ đã bị stress dưới nhiều dạng khác nhau. Những nghiên cứu mới nhất đã cho thấy hậu quả xấu của stress kéo dài liên tục ảnh hưởng tới tâm lý và sức khoẻ tâm thần, đồng thời ảnh hưởng cả trạng thái thực thể của người lao động như tăng nguy cơ cao huyết áp, các rối loạn và bệnh tim mạch, các rối loạn giấc ngủ v.v. Vì vậy vấn đề quan trọng ngày nay là phải nhận diện được các yếu tố nguy cơ gây stress, đánh giá được mức độ tác động xấu của stress đến sức khoẻ người lao động và nghiên cứu tìm kiếm chiến lược dự phòng [53] Stress là cách cơ thể thích nghi với các tình huống mới của môi trường. Trong quá trình thích nghi với môi trường mới, ở giai đoạn đầu, stress giúp người ta tăng khả năng cảnh giác, tạo sự tập trung, từ đó tăng năng lực phán đoán, ý chí và tính chiến đấu. Tuy nhiên, nếu môi trường liên tục thay đổi, hoặc mức độ thay đổi liên tục tăng, khi phải huy động các nguồn năng lượng dự trữ để đối mặt lâu dài với các tác nhân tấn công từ môi trường mới thì cơ thể sẽ dần giảm sự thích nghi. Tiếp tục kéo dài, nguồn năng lượng dự trữ sẽ bị cạn kiệt, việc phòng vệ bị khuất phục, cơ thể sẽ kiệt sức, sinh ra các bệnh tâm thế. Đó là tình trạng mệt mỏi, lo âu, mất tập trung, trí nhớ suy giảm, dễ bị kích động, thậm chí đau đầu, đau thắt ngực, tăng hoặc tụt huyết áp, loét dạ dày, béo phì, rối loạn tiêu hóa, nổi mề day, suyễn,…Tình trạng ấy không chỉ làm giảm chất lượng sống của chính bản thân người bệnh, mà còn ảnh hưởng đến những người xung quanh, nhất là những người sống kề cận như vợ/chồng, cha mẹ, con cái, đồng nghiệp…[49]

13. 4 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3.1 Khách thể nghiên cứu Khách thể nghiên cứu là 150 nhân viên y tế đang làm việc tại Bệnh viện Tâm thần Tiền Giang (bao gồm: bác sĩ, y sĩ, điều dưỡng, hộ lý và nhân viên làm việc gián tiếp) 3.2 Đối tượng nghiên cứu Stress của nhân viên y tế làm việc tại Bệnh viện Tâm thần Tiền Giang. 4. Phạm vi nghiên cứu Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những biểu hiện stress, mức độ stress, nguyên nhân stress, và cách ứng phó stress của nhân viên y tế tại Bệnh viện Tâm thần Tiền Giang 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của stress nói chung và stress của nhân viên y tế trực tiếp hoặc gián tiếp làm việc tại bệnh viện tâm thần Tiền Giang nói riêng 5.2 Nghiên cứu thực trạng stress của nhân viên y tế qua biểu hiện, mức độ, nguyên nhân gây stress và cách ứng phó với stress. 5.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu stress cho nhân viên y tế làm việc tại bệnh viện tâm thần Tiền Giang 6. Giả thuyết nghiên cứu Nhân viên y tế trực tiếp hoặc gián tiếp làm việc tại bệnh viện tâm thần Tiền Giang có biểu hiện bị stress ở các mức độ khác nhau, tập trung chủ yếu ở mức độ thỉnh thoảng. Có nhiều nguyên nhân gây ra stress, trong đó những nguyên nhân trong công việc, mối quan hệ với đồng nghiệp, với bệnh nhân, áp lực công việc, và môi trường làm việc thiếu trang thiết bị là những yếu tố ảnh hưởng nhiều tới mức độ stress của NVYT. Có sự khác biệt của khách thể nghiên cứu về sự tự đánh giá mức độ hiểu biết stress và mức độ stress.

24. 15 Trần Văn Cường, Vương Văn Tịnh và cs (1999). “Nghiên cứu thực trạng sức khỏe tâm thần của các nhân viên điều dưỡng phục vụ trực tiếp trong ngành tâm thần”. Nghiên cứu của các tác giả Trương Đình Chính, Cao Ngọc Nga, Nguyễn Đỗ Nguyên, Ngô Tích Linh với đề tài “Rối loạn tâm thần ở điều dưỡng và nữ hộ sinh tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu năm 2009” [7] Nghiên cứu về nhân viên y tế, trong đó có các điều dưỡng nữ hộ sinh, có những điều kiện lao động rất đặc thù, đó là trách nhiệm cao, thời gian lao động dài (trực 24/24 giờ, tua 3-4 ngày, trực 2 ca 3 kíp, hoặc 3 ca 4 kíp), làm việc vào cả những ngày nghỉ, ngày lễ, đối tượng phục vụ là những người bệnh, nguy cơ lây nhiễm (viêm gan B, viêm gan C, lao, tả, HIV/AIDS, v.v.), chế độ lương bổng chưa thỏa đáng, áp lực từ bệnh nhân, gia đình bệnh nhân, và cả lãnh đạo đơn vị. Trong bệnh viện, điều dưỡng và nữ hộ sinh là những người có thời gian tiếp xúc, trao đổi, chăm sóc bệnh nhân nhiều nhất. Với những điều kiện làm việc căng thẳng, sức khỏe tâm thần của điều dưỡng và nữ hộ sinh có thể bị ảnh hưởng, từ đó, ảnh hưởng đến thái độ tiếp xúc với bệnh nhân, và ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Cỡ mẫu thật của nghiên cứu là 382 đối tượng. Hơn 90% người được khảo sát là nữ, gần 50% trong lứa tuổi <30, khoảng 2/3 có gia đình, và 96% có trình độ trung cấp; 78% là điều dưỡng, khoảng 2/3 làm việc ở các bệnh viện tuyến tỉnh, 80% làm việc ở các khoa phòng đông bệnh nhân và có nhiều bệnh nhân nặng (như khoa hồi sức cấp cứu phòng khám, khoa ngoại phòng mổ, khoa sản kế hoạch hóa gia đình và khoa nội nhi nhiễm), hơn 2/3 phải tham gia trực (trực 24/24 giờ hoặc trực ca kíp), 65% có thâm niên công tác dưới 10 năm. Tỷ lệ có khả năng mắc rối loạn tâm thần của điều dưỡng nữ hộ sinh là 59% với KTC 95% (54% – 64%). Tỉ lệ rối loạn tâm thần tương đương ở nam và nữ, các nhóm tuổi, điều dưỡng và nữ hộ sinh, cơ quan công tác, chế độ làm việc, và thâm niên công tác. Tỉ lệ này là thấp ở nhóm ly thân ly hôn và goá, trình độ đại học; và trội ở nhóm làm việc tại các khoa cấp cứu hồi sức, phòng khám, ngoại, phòng mổ, sản, kế hoạch hóa gia đình, nội nhi nhiễm.

25. 16 Các điều kiện công việc có ảnh hưởng nhiều nhất tới sang chấn tâm lý được ghi nhận theo thứ tự là công việc đòi hỏi quan sát hoặc lựa chọn chính xác, có khả năng lây nhiễm, lương không thỏa đáng, công việc đơn điệu hoặc lặp đi lặp lại, công việc gây căng thẳng tâm lý, nguy cơ bị tai nạn trong công việc. Các yếu tố gia đình xã hội có ảnh hưởng tới sang chấn tâm lý được ghi nhận nhiều nhất là kinh tế khó khăn, khó khăn về nhà ở. Một nghiên cứu của tác giả Trần Thanh Hà, Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Bích Diệp – Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường với đề tài “Đánh giá căng thẳng chức năng tim mạch bằng chỉ số thống kê toán học nhịp tim ở nhân viên y tế”, nghiên cứu căng thẳng chức năng hệ tim mạch bằng các chỉ số thống kê toán học nhịp tim (TKTHNT) ở 113 cán bộ y tế (30 bác sĩ, 83 y tá và hộ lý) tại khoa hồi sức cấp cứu và khoa ngoại của 2 Bệnh viện Trung Ương ở Hà Nội (Việt Đức và Bạch Mai). Đo điện tâm đồ gồm 100 khoảng RR cho các đối tượng nghiên cứu. Các chỉ số TKTHNT được đánh giá ở trạng thái tĩnh vào đầu ca; Rối loạn chức năng thần kinh thực vật (TKTV) điều khiển nhịp tim theo các chỉ số TKTHNT được đánh giá trong quá trình lao động và đánh giá biến đổi chỉ số TKTHNT cuối ca mổ và cuối ngày làm việc so với đầu ca. Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ số TKTHNT trung bình và chỉ số căng thẳng (CSCT) của nhân viên y tế ở trạng thái tĩnh trước lao động đều ở mức quá căng thẳng – mức 3/4 theo phân loại của Baevxki 1984 (0,038 – 0,040; CSCT 235 – 274), tuy nhiên nhóm y tá và hộ lý có biểu hiện căng thẳng hơn so với nhóm bác sĩ ( thấp hơn 0,036″ – 0,039″ so với 0,041″ – 0,045″, CSCT cao hơn 261 -300 so với 193 – 188 và TSNT cao hơn 79,5 -82,5 so với 71,8 -75,7 tương ứng); đồng thời tỷ lệ các chỉ số TKTHNT ở mức quá căng thẳng với < 0,040″ và CSCT 200 của nhóm y tá và hộ lý cũng cao hơn so với nhóm bác sĩ (< 0,040″ là 53,8 – 62,3 % so với 37,5 – 38,1 % và CSCT 200 là 61,5 – 49,8 % so với 25,0 – 28,6 % tương ứng). Kết quả nghiên cứu chức năng TKTV nhịp tim trong ngày làm việc với các biểu hiện trội giao cảm, trội phó giao cảm, và rối loạn dạng trội giao cảm và dạng trội phó giao cảm theo các chỉ số TKTHNT ở cả 2 cơ sở của nhóm bác sĩ (50 – 58,6 %)

27. 18 1.2. Những lý luận chung về stress và stress của nhân viên y tế 1.2.1. Một số khái niệm cơ bản 1.2.1.1. Khái niệm stress Thuật ngữ stress hay căng thẳng xuất hiện rất nhiều trong đời sống thường ngày. Nó được hiểu như là những điều khó chịu và áp lực cho cá nhân. Tuy nhiên trong tâm lý học, một ngành khoa học có rất nhiều ứng dụng và nghiên cứu về hành vi và sức khỏe tâm thần lại hiểu stress dưới một góc độ khác. Walter Cannon (1927) là người đầu tiên đưa ra khái niệm về stress. Ông quan sát một loạt phản ứng bản năng trong giới tự nhiên gọi là phản ứng “Chống hoặc chạy”. Mỗi khi các loài vật đối mặt với kẻ săn mồi, chúng phải quyết định chống cự hay chạy chốn. Trong cả hai tình huống này, nhịp tim và huyết áp tăng cao, tăng nhịp thở, tăng hoạt động cơ bắp. Thị lực và thính lực hoạt động mạnh hơn để đạt được hiểu qua tốt hơn. Theo ông, đây là một phản ứng được “cài đặt sẵn” về mặt sinh học, cho phép mỗi cá nhân có thể ứng phó với những tác nhân gây đe dọa từ môi trường bên ngoài. [32, tr. 42] Định nghĩa của Walter Cannon tập trung nhiều vào khía cạnh sinh học của stress. Stress được hiểu đơn thuần là phản ứng “cài đặt sẵn” của cơ thể trước những nhân tố gây hại nhằm huy động sức mạnh của cơ thể để ứng phó [76]. Khái niệm “cài đặt sẵn” của Cannon gợi ý rằng chúng ta có thể dựa vào những biểu hiện của cơ thể để nhận ra mình đang trong tình trạng stress hay không vì những phản ứng của cơ thể này là có xu hướng lặp lại nên có thể dự đoán được đối với mỗi cá nhân. Phương pháp tiếp cận về mặt nhận thức – hành vi định nghĩa stress như một quá trình tương giao giữa con người và môi trường, trong đó đương sự nhận định sự kiện từ môi trường là có tính chất đe dọa và có hại, và đòi hỏi đương sự phải cố gắng sử dụng các tiềm năng thích ứng của mình (Lazarus, 1966; Lazarus, Folkman, 1984). Stress không chỉ trú ngụ trong sự kiện hoặc trong đáp ứng của đương sự, mà tồn tại trong cả hai yếu tố đó, cũng như trong các đáp ứng nhận thức-hành vi giữ vai trò điều hòa hai yếu tố đó. Cách nhìn này rõ ràng nhấn mạnh vào khía cạnh nhận thức – hành vi (thuộc về tâm lý) trong việc hiểu biết về stress, vì thế, nó đã bù đắp

31. 22 sự cân bằng nội tại hoặc đảm bảo sự sinh tồn”. [28] Bruce Singh và Sidney Bloch cho rằng: “Stress đề cập tới các hoạt động hoặc các tình huống, gây ra cho con người những yêu cầu về cơ thể và tâm lý quá mức và đe dọa gây mất thăng bằng” [36, tr.111]. Bên cạnh đó, khi đưa ra khái niệm stress đa số các tác giả Việt Nam dùng lại những khái niệm của các nhà nghiên cứu nước ngoài. Tuy nhiên một vài tác giả có ý kiến riêng, đáng lưu ý như: Theo Tô Như Khuê, “Stress tâm lý chính là những phản ứng không đặc hiệu xảy ra một cách chung khắp, do các yếu tố có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế mà con người chủ quan thấy là bất lợi hoặc rủi ro, ở đây vai trò quyết định không chủ yếu do tác nhân kích thích, mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó” [49, tr.33]. Định nghĩa này đã nêu được vai trò của yếu tố nhận thức và thái độ của con người trong stress. Các nhà tâm lý Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn đã nêu được thành phần quan trọng của stress đó là xúc cảm và một số nguyên nhân cơ bản gây ra stress ở con người, khi cho rằng: “stress là những xúc cảm nảy sinh trong những tình huống nguy hiểm, hẫng hụt, hay trong những tình huống phải chịu đựng những nặng nhọc về thể chất và tinh thần hoặc trong những điều kiện phải quyết định hành động nhanh chóng và trọng yếu” [49]. Theo Nguyễn Thành Khải, “dưới góc độ của tâm lý học có thể hiểu stress là trạng thái căng thẳng về tâm lý mà con người cảm nhận được trong quá trình hoạt động cũng như trong cuộc sống” [11, tr.20]. Theo Trần Anh Thụ, stress phải được hiểu một cách tổng hợp, vừa như một kích thích, vừa như một hậu quả kèm theo; đồng thời đề cập đến các yếu tố sinh học, xã hội và tâm lý trong ứng phó: stress là một tình trạng gây khó chịu hoặc gây thương tổn về cảm xúc và tinh thần, xảy ra khi cá nhân phản ứng lại những kích thích hoặc tình huống cực kỳ khó khăn, nhiều áp lực và căng thẳng do tác động từ bên ngoài; và có thể ảnh hưởng tới sức khoẻ, dễ nhận thấy qua dấu hiệu: nhịp tim tăng, huyết áp cao, cơ căng, cảm giác khó chịu, và ưu phiền. Nói cách khác, stress

32. 23 là quá trình tương tác giữa khả năng đáp ứng của một cá nhân với những đòi hỏi được đặt ra cho cá nhân đó trong môi trường của họ. [23] Quá trình tương tác đó có thể dẫn đến những hậu quả xấu về nhiều mặt tùy theo các yếu tố điều tiết của cá nhân. [49, tr.27] Theo Đào Duy Duyên, stress là một quá trình biến đổi trạng thái cân bằng hiện tại của con người gây ra sự căng thẳng về tâm lý; nảy sinh do con người phản ứng lại với những nhân tố tác động, trong đó một phần do bản chất của những kích thích đa dạng từ bên ngoài hoặc do chính bản thân gây ra, một phần do nhận thức của cá nhân lý giải về những kích thích đó, về khả năng, tiềm lực của bản thân, các nguồn lực sẵn có để ứng phó; quá trình này gây ra những ảnh hưởng cho con người biểu hiện ở các mặt sinh lý, tâm lý, xã hội” [11, tr 19] Tóm lại, hiện nay có nhiều cách hiểu về stress. Có người nói đến stress như một nguyên nhân, có người nói đến như hậu quả. Có người nhìn nhận thuần túy dưới góc độ sinh học, như là phản ứng mang tính sinh lý của cơ thể; số khác, thường là của các nhà tâm lý, đề cập đến cả yếu tố sinh học và tâm lý. Trong phạm vi nghiên cứu của mình, dưới góc độ tâm lý học chúng tôi hiểu: Stress là trạng thái căng thẳng về tâm lý xuất hiện ở con người trong quá trình hoạt động của đời sống thường ngày. Trong đó một phần là do sự tác động của những điều kiện khó khăn, phức tạp từ bên ngoài cũng như từ trong chính bản thân gây ra, một phần là do cách mà họ cảm nhận và giải thích những sự tác động đó, tùy thuộc vào khả năng “xử lý” của bản thân có thể ảnh ưởng đến con người trên các mặt sinh lý, tâm lý và xã hội. 1.2.1.2. Khái niệm NVYT và stress NVYT a) Khái niệm NVYT Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới thì “Nhân viên y tế là những người tham gia vào hành động có mục đích chính là để tăng cường sức khỏe. Chúng bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế như bác sĩ, y tá, nữ hộ sinh, dược sĩ, kỹ thuật viên phòng thí nghiệm – cũng như quản lý và công nhân hỗ trợ – chẳng hạn như quản lý bệnh viện, các quan chức tài chính, đầu bếp, bảo trì sửa chửa và nhân viên vệ sinh” [79]

33. 24 Một định nghĩa khác đối với người lao động chăm sóc sức khoẻ là: Lâm sàng và các nhân viên khác, bao gồm cả những người trong chăm sóc ban đầu, những người có tiếp xúc thường xuyên, lâm sàng với bệnh nhân. Điều này bao gồm nhân viên như bác sĩ, nha sĩ và y tá, các chuyên gia y tế chẳng hạn như trị liệu nghề nghiệp, vật lý trị liệu, công nhân xe cứu thương và khuân vác, và sinh viên trong những nguyên tắc này. [96] Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới năm 2006 thì nhân viên y tế là “tất cả mọi người tham gia vào hành động có mục đích chính là để tăng cường sức khỏe” (Báo cáo Y tế Thế giới 2006). [95] Trong giới hạn nghiên cứu của mình chúng tôi hiểu “Nhân viên y tế là tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực y tế, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân” b) Stress của NVYT Từ khái niệm về stress và khái niệm nhân viên y tế nêu trên, trong phạm vi nghiên cứu của mình chúng tôi định nghĩa stress của nhân viên y tế như sau: Stress của NVYT là trạng thái căng thẳng về tâm lý xuất hiện ở người NVYT trong quá trình hoạt động trong lĩnh vực y tế cũng như trong đời sống thường ngày. Trong đó một phần là do sự tác động của những điều kiện khó khăn, phức tạp từ hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân hoặc từ trong chính bản thân của mỗi người gây ra, một phần là do cách mà họ cảm nhận và giải thích những sự tác động đó, tùy thuộc vào khả năng “xử lý” của bản thân có thể ảnh ưởng đến NVYT trên các mặt sinh lý, tâm lý và xã hội. 1.2.2. Đặc điểm tâm lý của nhân viên y tế 1.2.2.1. Đặc điểm tâm lý của nhân viên y tế Trong xã hội Việt Nam truyền thống, người thầy thuốc thường được kỳ vọng là làm việc thiện, nhân đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng nói: “Lương y phải như từ mẫu”. Chúng ta cũng thường coi dịch vụ y tế là một loại dịch vụ đặc biệt, nhạy cảm và dễ tổn thương. Một thực tế rõ ràng là người thầy thuốc dù hoạt động trên bất cứ lĩnh vực nào cũng đều được xã hội coi trọng, nhưng có sự đòi hỏi cao.

36. 27 tính trung thực, lòng dũng cảm, tính nguyên tắc, tính khiêm tốn. Ham học hỏi nghiên cứu và cầu tiến; Phong thái bên ngoài: niềm nở, khiêm tốn, bình tĩnh; ăn mặc đàng hoàng, sạch sẽ đứng đắn, có sức khoẻ tâm hồn gây cảm tình và sự kính trọng đối với bệnh nhân. Đặc điểm tâm lý và trách nhiệm của nhân viên y tế bắt nguồn từ chức năng, nhiệm vụ của ngành y là chăm sóc sức khỏe con người. Chính vì vậy mà công việc có những đòi hỏi rất cao đối với hoạt động cá nhân, cũng như phẩm chất của người thầy thuốc. – Người thầy thuốc phải là người có trí thức và có năng lực Sự đào tạo của người thầy thuốc mang tính liên tục và thường gắn liền với tình trạng sức khỏe của con người cả trong trạng thái bình thường lẫn khi mắc bệnh. Nghĩa là, người thầy thuốc phải hiểu những đặc điểm tâm sinh lý, giải phẩu, những cấu trúc, chức năng, … của một người bình thường, trê cơ sở đó mới nắm vững những rối loạn bệnh lý và cách phòng chống. Mục đích đào tạo thầy thuốc là nhằm trang bị những kiến thức để nhằm phục vụ và chăm sóc sức khỏe cho con người. Người thầy thuốc phải thường xuyên trau dồi kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp. Ngoài ra, trong thời đại ngày nay, thời đại bùng nổ thông tin, người thầy thuốc cần phải nắm vững và cập nhật các thông tin y học trên thế giới và trong nước Ngoài kiến thức chuyên môn, người thầy thuốc còn phải hiểu biết những kiến thức về xã hội, các môn khoa học khác để làm tăng thêm khối kiến thức sâu rộng của mình – Tính đặc thù của thầy thuốc Người thầy thuốc có thể có quyền biết những gì bí mật về cơ thể lẫn những tâm tư thầm kính của người bệnh. Đối với thầy thuốc, người bệnh họ có thể tâm sự và kể hết mọi chuyện thầm kính của họ, nếu họ cảm giác tin tưởng vào thầy thuốc. Mặt khác, đứng trước yêu cầu được chăm sóc về sức khỏe và tính mạng của mình nên người bệnh họ sẳn sàng hợp tác với thầy thuốc và cho phép thầy thuốc thăm khám họ thậm chí cả những nơi kính đáo nhất. Về phía người thầy thuốc không được lợi dụng về mặt tình cảm cũng như vật chất trong khi thăm khám và điều trị cho người bệnh. Ngược lại,

37. 28 người thầy thuốc phải luôn giữ bí mật cho người bệnh, phải tôn trọng những tình cảm chân thành mà người bệnh họ đã đặt vào mình. – Tính phổ biến của những ứng xử của người thầy thuốc Người thầy thuốc phải điều trị tất cả các bệnh nhân cùng với sự tôn trọng và sự chăm sóc giống nhau. Trong mối quan hệ với bệnh nhân, người thầy thuốc phải là người có lương tâm cao đẹp. Lương tâm của người thầy thuốc được hiểu là năng lực tự kiểm tra mình, tự giám sát về mặt đạo đức, đòi hỏi mình luôn hoàn thành nhiệm vụ và tự đánh giá về hành vi của mình. Chính vì vậy lương tâm của người thầy thuốc được ví như lương tâm của ”người mẹ hiền” – Đạo đức nghề nghiệp Ngành y là một ngành hoạt động dựa trên nền tảng nhân đạo, vì vậy nhân viên y tế phải là những người có đạo đức. Phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc thể hiện trong những đức tính sau: luôn yêu nghề; thương người; nhân từ; khiêm tốn; tôn trọng và đoàn kết với đồng nghiệp; luôn tận tụy và có trách nhiệm với công việc; … – Trách nhiệm của người thầy thuốc Phải đem hết trình độ, khã năng và mọi phương tiện sẵn có để cứu chữa người bệnh. Trong những trường hợp như vậy, nếu tình trạng người bệnh vượt quá khã năng chuyên môn của người thầy thuốc và vượt quá khã năng về điều kiện trang thiết bị hiện có thì trách nhiệm lúc đó không thuộc về thầy thuốc. 1.2.2.2. Đăc điểm lao động của NVYT trong BVTT Chăm sóc người bệnh bình thường đã là một việc khó, chăm sóc cho những bệnh nhân tâm thần lại càng khó khăn hơn. Bởi những bệnh nhân tâm thần là những người đã bị hạn chế về năng lực hành vi cũng như khả năng nhận thức, nhiều bệnh nhân còn mắc các bệnh nan y, bệnh truyền nhiễm. Chính vì vậy mà các NVYT ở đây hằng ngày, hằng giờ phải tiếp xúc với nguy cơ lây nhiễm cao. Bệnh nhân vô thức khạc nhổ lung tung thậm chí khi các chị em cho họ ăn còn bị hất cơm vào người và nhổ thức ăn vào mặt… Tuy nhiên, với tinh thần và trách nhiệm của người thầy thuốc, các NVYT luôn quan tâm và giúp đỡ những bệnh nhân của mình, xem bệnh nhân tâm thần như người nhà.

38. 29 Một điều khó khăn của các bác sĩ là trong việc khám, phát hiện và điều trị kịp thời các bệnh kèm theo ở người bệnh tâm thần, bởi người bệnh không phản ánh được những bất ổn mình đang gặp phải, chẳng hạn như bệnh nhân bị ghẻ cũng không kêu ngứa, đau bụng có khi cũng không than phiền, có người bị ngã gãy tay mà không hề kêu đau. Thêm vào đó người bệnh thường không có thân nhân, hoặc gia đình không gần gũi để chăm sóc, nắm được tình hình sức khỏe nên bác sĩ chỉ có thể dựa vào sự tận tâm, kỹ càng khi thăm khám mới không bỏ sót bệnh. Khó khăn là vậy, lại không có thu nhập thêm từ các dịch vụ như nhiều chuyên khoa khác, cộng thêm bản thân mỗi người Thầy thuốc khi quyết định nhận công việc ở bệnh viện tâm thần cũng bị gia đình, bạn bè can ngăn vì sợ khổ, sợ bị hành hung, sợ bị ảnh hưởng bệnh nghề nghiệp Công việc của nhân viên y tế ở bệnh viện tâm thần nặng nhọc và chứa nhiều bất trắc hơn bất cứ chuyên khoa nào tại các bệnh viện khác. Với điều dưỡng viên bệnh viện tâm thần, việc phục vụ các sinh hoạt cá nhân cho người bệnh không hề nhẹ nhàng như ở các chuyên ngành khác, mà tiêu tốn rất nhiều công sức. Với những lời dỗ dành, nịnh nọt, răn bảo, cưỡng bức… không có cách nào không được các NVYT áp dụng với bệnh nhân. Việc bệnh nhân hất cả bát cơm, bát cháo vào mặt, hay vớ được gì phang ngay vào đầu nhân viên y tế… là chuyện nhỏ mà bất cứ y bác sĩ nào của bệnh viện Tâm thần cũng có thể gặp. Đơn giản khi những buổi thay đồ cho một người bệnh, có khi phải huy động 2-3 điều dưỡng, giữ chặt tay mới mặc được cái quần, sau đó lại giữ chân để thay cái áo. Khó nhọc nhất là chuyện tắm, đặc biệt là trong những hôm trời mưa rét, việc thuyết phục bệnh nhân tự tắm cực kỳ khó khăn dù là với bệnh nhân nam hay bệnh nhân nữ, nên các điều dưỡng phải tự tay tắm cho họ. Tuy điều dưỡng viên ở bệnh viện phần lớn là nữ nhưng không chị em nào tránh được công việc này, ngay cả những người chưa có chồng hay người yêu Nghề thầy thuốc là mơ ước của nhiều người, nhưng các bác sĩ chữa bệnh cho người tâm thần lại bị bạn bè nhìn với con mắt ái ngại. Thêm vào đó, làm việc nhiều năm tại bệnh viện tâm thần, không ít bác sĩ mắc bệnh… nghề nghiệp. Có người giọng nói “sang sảng” như quát, người đôi khi…thẫn thờ “bất bình thường”,

39. 30 các đồng nghiệp thường hay nói đùa với nhau rằng bác sĩ tâm thần khác với bệnh nhân tâm thần chỉ một tờ giấy (tấm bằng). Thậm chí tiếng gào khóc len lỏi, ám ảnh trong cả giấc ngủ của họ. Không ít người trong số họ mắc bệnh mất ngủ kinh niên vì thường xuyên bị đánh thức giữa đêm. Làm cái nghề luôn căng thẳng thần kinh và nhiều hy sinh nhưng có một động lực luôn thôi thúc họ đó là khi được nghe hai tiếng “cám ơn” của bệnh nhân. Tuy giản dị, nhưng hai tiếng cám ơn của người bệnh tâm thần thật chân thành, bởi nó xuất phát từ đáy lòng của những người bệnh đã khỏi và có đủ tỉnh táo. Do đó nó đã trở thành nguồn sức mạnh động viên người thầy thuốc vượt qua mọi khó khăn, áp lực trong công việc hàng ngày và những điều tiếng từ phía xã hội. Y đức, tình người, sự tin tưởng vào tương lai phục hồi của người bệnh tâm thần đã được những người Bác sĩ Tâm thần âm thầm nhẫn nại từng bước khẳng định được mình trong xã hội ngay nay. 1.2.3. Các mức độ stress Theo tác giả Nguyễn Đình Gấm, mức độ stress là mức độ đáp ứng của cơ thể với môi trường, tương ứng với các mức độ thích nghi của cơ thể ,bao gồm 3 mức độ là: Mức độ 1: Rất căng thẳng, ở mức này con người cảm nhận rõ sự căng thẳng về tâm lý; trạng thái khó chịu xuất hiện và có nhu cầu được giải thoát nó, mức độ này ảnh hưởng và làm giảm chất lượng hoạt động, có hại cho sức khỏe; Mức độ 2: Căng thẳng, ở mức này con người cảm nhân có sự căng thẳng cảm xúc nhất định và nó ít nhiều chi phối đến hành vi của họ; Mức độ 3: Ít căng thẳng, là trạng thái con người cảm nhận bình thường hoặc có yếu tố căng thẳng nhẹ trong khi mọi hoạt động vẩn diễn ra bình thường. [29, tr 311] Theo Tô Như Khuê, stress có 3 mức độ là: [9, tr.22-23] – Mức độ stress bình thường: là mức độ đảm bảo hoạt động sống bình thường, cho dù có chịu tác động bởi những tác nhân gây căng thẳng nhẹ hoặc vừa nhưng cá nhân vẩn giữ được trạng thái cân bằng, không có ảnh hưởng của yếu tố căng thẳng đáng kể, ở mức độ này hoạt động tâm sinh lý diễn ra bình thường. – Mức độ stress cao: Khi có các tác nhân gây căng thẳng đáng kể, cơ thể phải sử dụng thêm một số các năng lượng và cấu trúc lại hệ thống chức năng để thích

40. 31 nghi với những kích thích đó, các phản ứng thích nghi đạt tới mức giới hạn nếu yếu tố gây căng thẳng đến mức tới hạn. Ở mức độ này, mặc dù có những biến đổi của cơ thể nhưng nó sẽ được hồi phục lại sau khi tác nhân ngừng hoạt động. Tuy nhiên nếu mức độ này kéo dài, hoặc tác nhân kích thích quá mức hơn nữa thì phản ứng thích nghi sẽ không phản ứng được nữa, cơ thể sẽ chuyển sang trạng thái bệnh lý. – Mức độ stress bệnh lý: ở mức độ này, các phản ứng của cơ thể không còn hiệu quả mong muốn, các hệ thống chức năng mang tính mềm dẽo, môi trường bên trong có nhiều rối loạn và không trở lại bình thường khi kích thích ngưng tác động. Theo Bác sĩ Đặng Phương Kiệt, stress có 3 mức độ, trong đó stress ở mức độ nhẹ là mức độ làm cho chủ thể cảm nhận như một thách thức, có thể là một kích thích làm tăng thành tích. Stress ở mức độ vừa là mức độ phá vỡ ứng xử, có thể dẫn đến những hành động lặp đi lặp lại. Stress ở mức độ nặng là mức độ ngăn chặn ứng xử và gây ra những phản ứng lệch lạc [22, tr.422- 423] Nguyễn Thành Khải lại phân chia mức độ stress thành 3 mức độ dựa trên sự cảm nhận của chính chủ thể gồm mức độ rất căng thẳng khi chủ thể cảm nhận về mặt tâm lý là: Rất căng thẳng, khó chịu; Mức độ căng thẳng khi chủ thể cảm nhận có sự căng thẳng cảm xúc, nếu mức độ này kéo dài sẽ chuyển qua mức độ rất căng thẳng. Mức độ thứ 3 ít căng thẳng khi chủ thể cảm nhận bình thường hoặc có yếu tố căng thẳng nhẹ. Tuy nhiên việc phân chia này mang tính tương đối, không có tiêu chuẩn cụ thể để có thể phân biệt được sự khác nhau rỏ rệt giữa các mức độ [21, tr 32] Nguyễn Thị Hải lại phân chia mức độ stress thành 3 mức; ít trầm trọng khi stress chỉ biểu hiện ở một mặt, không kéo dài, chủ thể có thể tự khắc phục được; mức độ thứ hai là trầm trọng biểu hiện ở hai hay một số mặt, lặp đi lặp lại ở thời gian tương đối dài, phải khắc phục trong một thời gian nhất định; mức độ thứ ba là rất trầm trọng biểu hiện ở nhiều mặt, diễn ra trong thời gian dài, phải khắc phục trong thời gian dài.[16, tr 29] Đào Duy Duyên lại phân chia mức độ stress dựa trên tần số bị stress trong cuộc sống qua sự đánh giá chủ quan của cá nhân về tình trạng của mình với các

Bạn đang đọc nội dung bài viết Dấu Hiệu Stress Là Gì? Giải Pháp Giảm Stress Cho Người Bận Rộn / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!