Đề Xuất 11/2022 # Đánh Giá Thực Trạng Quy Định Của Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 2000 Qua Thực Tiễn Giải Quyết Các Vụ Việc Về Hôn Nhân Và Gia Định Của Ngành Tòa Án – Những Bất Cập, Hạn Chế Và Đề Xuất Sửa Đ� / 2023 # Top 12 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # Đánh Giá Thực Trạng Quy Định Của Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 2000 Qua Thực Tiễn Giải Quyết Các Vụ Việc Về Hôn Nhân Và Gia Định Của Ngành Tòa Án – Những Bất Cập, Hạn Chế Và Đề Xuất Sửa Đ� / 2023 # Top 12 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đánh Giá Thực Trạng Quy Định Của Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 2000 Qua Thực Tiễn Giải Quyết Các Vụ Việc Về Hôn Nhân Và Gia Định Của Ngành Tòa Án – Những Bất Cập, Hạn Chế Và Đề Xuất Sửa Đ� / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

(Tham luận của Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị toàn quốc tổng kết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 – 16/4/2013)

Tòa án với tư cách là cơ quan duy nhất trong hệ thống các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét xử, có vai trò quan trọng trong việc góp phần tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật. Từ việc áp dụng các quy định của pháp luật trong công tác xét xử các vụ việc thuộc nhiệm vụ của mình, Tòa án góp phần tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật của Nhà nước đến nhân dân,… Qua đó, đóng góp quan trọng đến công tác tổng kết thực tiễn, kinh nghiệm xét xử, tác động đến chất lượng công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Tòa án nói riêng và Nhà nước ta nói chung.

Luật Hôn nhân và Gia đình (sau đây viết tắt là Luật HNGĐ) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2001. Sau hơn mười hai năm thi hành, Luật HNGĐ đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Bảo đảm ổn định cuộc sống gia đình trong xã hội phát huy truyền thống phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam nâng cao vai trò trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc tôn trọng và chấp hành các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Tuy nhiên, qua quá trình giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình của ngành Tòa án cho thấy, một số quy định của Luật HNGĐ không phù hợp với thực tiễn, có những quy định mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác, có những quy định chưa phù hợp (hoặc không còn phù hợp), có những quy định chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng và còn có những cách hiểu khác nhau, có những quy định chưa bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, có những vấn đề mới phát sinh trong xã hội chưa được pháp luật về hôn nhân và gia đình điều chỉnh,…

Trong phạm vi chuyên đề này, chúng tôi xin đề cập những vướng mắc, bất cập của một số quy định của Luật HNGĐ. Những vướng mắc bất cập này được tổng hợp nghiên cứu qua quá trình tổng kết thực tiễn thi hành Luật HNGĐ năm 2000 trong công tác xét xử các vụ việc hôn nhân và gia đình của ngành Tòa án các cấp trên phạm vi toàn quốc. Qua đó đưa ra một số kiến nghị đề xuất sửa đổi, bổ sung đối với Luật HNGĐ.

I. Tình hình giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình của ngành Tòa án

Qua việc tổng hợp số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, từ ngày 01-9-2000 đến ngày 30-9-2011, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 3.143.746 vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính, hôn nhân và gia đình. Trong đó số vụ việc về hôn nhân và gia đình là 875.282 (chiếm khoảng 30% tổng số vụ việc dân sự đã thụ lý). Ngành Tòa án đã thực hiện tốt quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Cụ thể như sau[1]:

1.1. Về công tác giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình ở cấp sơ thẩm

 

Năm 2001

Năm 2002

Năm 2003

Năm 2004

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Tổng cộng

Tổng số vụ việc đã thụ lý

55082

60265

57138

63151

65238

68833

74484

77624

94710

103332

121848

841.705

Số vụ việc đã giải quyết

48878

(88%)

51461

(85%)

51618

90%

57272

(90%)

59791

( 91%)

64058

(93%)

70204

(94%)

66347

(85%)

89609

(94%)

97627

( 94%)

115331

( 94%)

772.201 (92%)

Qua bảng số liệu trên cho thấy việc giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình ở cấp sơ thẩm ngành Tòa án luôn đạt tỷ lệ cao (từ 88% – đến 94%), đặc biệt là 3 năm gần đây (năm 2009, 2010, 2011) đều giữ được tỷ lệ là 94% và đạt trung bình trong 11 năm qua (từ năm 2001-2011) là 92%, hoàn thành tốt nhiệm vụ mục tiêu đề ra trong toàn ngành. Tỷ lệ các vụ việc hôn nhân và gia đình bị kháng cáo, kháng nghị chiếm khoảng 9% số vụ việc đã giải quyết.

1.2. Về công tác giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình ở cấp phúc thẩm

 

Năm 2001

Năm 2002

Năm 2003

Năm 2004

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Tổng cộng

Tổng số vụ việc đã thụ lý

2698

2702

3781

2968

2969

2951

2936

2857

2782

2590

2781

32.012

Số vụ việc đã giải quyết

2576

(đạt tỷ lệ 95%)

2443

(đạt tỷ lệ 90%)

3714

(đạt tỷ lệ 98%)

2805

(đạt tỷ lệ 94%)

2833

(đạt tỷ lệ 95%)

2826

(đạt tỷ lệ 95%)

2840

(đạt tỷ lệ 96%)

2503

(đạt tỷ lệ 87%)

2704

(đạt tỷ lệ 97%)

2516

(đạt tỷ lệ 97%)

2666

(đạt tỷ lệ 95%)

30.426 (đạt tỷ lệ trung bình 95%)

Qua bảng số liệu trên cho thấy công tác xét xử các vụ việc hôn nhân và gia đình ở cấp phúc thẩm không ngừng được nâng cao và đạt kết quả cao (từ 87% – đến 98%), đặc biệt là 3 năm gần đây (năm 2009, 2010, 2011) đều giữ được tỷ lệ cao từ 95- 97% và đạt trung bình trong 11 năm qua (từ năm 2001-2011) là 95%. Tỷ lệ kháng nghị chiếm khoảng 5% số vụ việc đã giải quyết.

1.3. Về công tác giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

 

Năm 2001

Năm 2002

Năm 2003

Năm 2004

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Tổng cộng

Tổng số vụ việc đã thụ lý

129

138

71

131

326

81

141

107

128

149

161

1.562

Số vụ việc đã giải quyết

124

(đạt tỷ lệ 96%)

98

(đạt tỷ lệ 71%)

67

(đạt tỷ lệ 94%)

124

(đạt tỷ lệ 94%)

325

(đạt tỷ lệ 99%)

79

(đạt tỷ lệ 97%)

130

(đạt tỷ lệ 92%)

94

(đạt tỷ lệ 87%)

119

(đạt tỷ lệ 92%)

136

(đạt tỷ lệ 91%)

144

(đạt tỷ lệ 89%)

1.440 (đạt tỷ lệ trung bình 92%)

Qua bảng số liệu trên cho thấy, việc giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hàng năm không ngừng được quan tâm, chú trọng cao (từ 71% – đến 99%), đặc biệt là 3 năm gần đây (năm 2009, 2010, 2011) đều giữ được tỷ lệ cao từ 89- 92% và đạt trung bình trong 11 năm qua (từ năm 2001-2011) là 92%. Bên cạnh đó qua công tác giám đốc kiểm tra các hồ sơ vụ việc hôn nhân và gia đình đã giải quyết có hiệu lực pháp luật thi hành, phát hiện những sai sót cũng được chú ý, góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình nói riêng và công tác xét xử nói chung của ngành Tòa án.

1.4. Về số vụ việc hôn nhân và gia đình bị hủy, sửa

 

Năm

2001

Năm

2002

Năm

2003

Năm

2004

Năm

2005

Năm

2006

Năm

2007

Năm

2008

Năm

2009

Năm

2010

Năm

2011

Tổng cộng

Tổng số

vụ việc đã giải quyết

51578

54002

55399

60206

62949

66963

73174

68944

92432

100279

118141

804.067

Số vụ việc bị

hủy, sửa

1571

(chiếm tỷ lệ 3%)

1315

(chiếm tỷ lệ 2%)

1896

(chiếm tỷ lệ 3%)

1481

(chiếm tỷ lệ 2%)

1619

(chiếm tỷ lệ 2%)

1381

(chiếm tỷ lệ 2%)

1467

(chiếm tỷ lệ 2%)

1406

(chiếm tỷ lệ 2%)

1344

(chiếm tỷ lệ 1%)

1305

(chiếm tỷ lệ 1%)

1315

(chiếm tỷ lệ 1%)

16.100 (chiếm tỷ lệ trung bình 2%)

Qua bảng số liệu trên cho thấy, tỷ lệ án bị hủy, sửa so với tổng số vụ việc đã giải quyết trong 11 năm qua (từ năm 2001-2011) chiếm tỷ lệ trung bình là 2%. Cùng với sự nỗ lực phấn đấu của toàn bộ cán bộ ngành Tòa án thực hiện công tác xét xử ở các cấp, cũng như sự quan tâm giúp đỡ của các cấp lãnh đạo ngành Tòa án, cấp ủy, chính quyền địa phương, chất lượng xét xử các vụ việc hôn nhân và gia đình ngày một nâng lên, tỷ lệ án bị hủy, sửa đã giảm đáng kể, đặc biệt là 3 năm gần đây (năm 2009, 2010, 2011) tỷ lệ án bị hủy, sửa đã giảm đáng kể và ở mức 1%.

II. Những hạn chế, bất cập qua thực tiễn áp dụng Luật HNGĐ của ngành Tòa án và kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật HNGĐ

2.1. Về áp dụng phong tục tập quán về hôn nhân và gia đình (Điều 6 – Luật HNGĐ)

Để việc áp dụng phong tục tập quán trong quan hệ hôn nhân và gia đình đậm đà bản sắc dân tộc, hạn chế và bài trừ những hủ tục lạc hậu, không phù hợp, Luật HNGĐ cần xây dựng cụ thể việc áp dụng phong tục tập quán theo nguyên tắc cơ bản sau: Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng và bình đẳng, phong tục tập quán có nội dung không trái với nguyên tắc của Luật HNGĐ; chỉ áp dụng phong tục tập quán đã thông dụng, được đông đảo mọi người sinh sống trên địa bàn, cùng dân tộc đó, cùng tôn giáo thừa nhận và chỉ áp dụng trên địa bàn đó; phát huy vai trò của người đứng đầu cộng đồng, chức sắc tôn giáo và cần đưa nguyên tắc áp dụng án lệ trong trường hợp này. Cần quy định cụ thể hơn theo hướng mở, tức là nếu phong tục tập quán tốt đẹp, phù hợp với xã hội thì áp dụng phong tục tập quán đó.

2.2. Về điều kiện kết hôn về độ tuổi (Điều 9 Luật HNGĐ)

Điều 9 Luật HNGĐ quy định các điều kiện kết hôn, trong đó có điều kiện về độ tuổi kết hôn của nam là từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên. Tuy nhiên, khi giải quyết những vụ việc ly hôn mà người vợ chưa đủ 18 tuổi thì quy định về độ tuổi kết hôn của Luật HNGĐ mâu thuẫn với quy định của pháp luật tố tụng dân sự về khả năng tham gia tố tụng của người vợ chưa đủ 18 tuổi này.

Đồng thời, việc quy định nữ từ 18 tuổi trở lên được phép kết hôn, nhưng không có những quy định ngoại lệ về năng lực hành vi của người nữ từ 18 tuổi đã kết hôn trong việc tham gia các giao dịch, quan hệ xã hội,… dẫn đến sự không đồng bộ trong quy dịnh của Bộ luật dân sự về người đã thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Từ đó rất khó khăn cho việc người vợ tham gia các giao dịch dân sự đòi hỏi phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.

Về vấn đề này chúng tôi cho rằng: Quy định về độ tuổi kết hôn của Luật HNGĐ là phù hợp với điều kiện hiện nay ở Việt Nam. Tuy nhiên để thống nhất đồng bộ giữa các văn bản pháp luật và giải quyết các vấn đề vướng mắc nêu trên thì cần bổ sung quy định: Nữ từ đủ 18 tuổi trở lên được phép kết hôn.

2.3. Về các trường hợp cấm kết hôn (Điều 10 Luật HNGĐ)

Để hạn chế tình trạng nhiều người thực tế đã rơi vào tình trạng mất NLHVDS nhưng chưa bị Toà án tuyên bố mất NLHVDS vẫn được cho đăng ký kết hôn, dẫn đến những hậu quả xấu cho xã hội, Luật HNGĐ cần quy định chi tiết hơn về trường hợp này theo hướng: trong trường hợp có dấu hiệu bị mất NLHVDS… thì chính quyền địa phương phải có trách nhiệm kiểm tra, xem xét trước khi cho đăng ký kết hôn.

2.4. Về tài sản vợ chồng

Chế độ tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được Luật HNGĐ qua các thời kỳ quy định khác nhau. Luật HNGĐ năm 1959 (Điều 15) quy định vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới, Luật HNGĐ năm 1987 (Điều 16) quy định tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng, Luật HNGĐ năm 2000 (Điều 27 về tài sản chung vợ chồng) lại quy định:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.

2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”.

Thực tế giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình đã gặp nhiều khó khăn trong việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng. Tài sản riêng được đưa vào sử dụng chung nhưng không có thỏa thuận bằng văn bản còn có nhiều quan điểm khác nhau.

– Quan điểm thứ nhất cho rằng, tài sản vợ chồng đang quản lý chung mặc dù một người đứng tên, không có văn bản thỏa thuận đó là tài sản riêng thì vẫn là tài sản chung của vợ chồng.

– Quan điểm thứ hai cho rằng, tài sản có trước khi kết hôn hoặc được thừa kế, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân cho dù có đưa vào sử dụng chung, nhưng vẫn đứng tên người đó, không có văn bản xác nhận đó là tài sản chung thì tài sản đó được xác định là tài sản riêng của vợ hoặc chồng.

Điều 28 Luật HNGĐ quy định về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng, có sử dụng cụm từ “tài sản có giá trị lớn hoặc nguồn sống duy nhất của gia đình”. Tuy nhiên, hiện nay chưa có tiêu chí để xác định như thế nào là tài sản có giá trị lớn nên dẫn đến nhiều Toà án lúng túng trong việc giải quyết tranh chấp.

Đồng thời, trong thực tế, sau khi kết hôn một hoặc các bên sử dụng tài sản chung của vợ chồng để đầu tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khi ly hôn, việc chia tài sản chung của vợ chồng đối với phần tài sản đã đầu tư vào sản xuất kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Luật HNGĐ mới chỉ quy định nguyên tắc chung tại điểm c khoản 2 Điều 95 “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập”, chưa quy định cụ thể hậu quả việc chia tài sản chung trong góp vốn vào doanh nghiệp. Do đó, khi có vụ việc xảy ra, Tòa án lúng túng trong việc áp dụng pháp luật.

Để giải quyết được những khó khăn, bất cập nêu trên, cần phải sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể về việc xác lập, xác định và chia tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng trong Luật HNGĐ cho phù hợp với thực tiễn và có tính đặc thù, công nhận cả thỏa thuận bằng miệng, bằng văn bản không tuân thủ quy định về hình thức. Ví dụ: quy định rõ các bên có quyền thoả thuận về tài sản chung và tài sản riêng. Trong trường hợp không có thoả thuận thì tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng.

Đồng thời, cần mở rộng các quy định về tài sản nhằm đảm bảo bao hàm cả những loại tài sản mới xuất hiện trong xã hội như quyền sở hữu trí tuệ của vợ hoặc chồng làm phát sinh về tài sản có được coi tài sản chung của vợ chồng. Các giao dịch về chứng khoán, về góp vốn trong doanh nghiệp,… cũng cần được quy định cụ thể trong Luật HNGĐ.

2.5. Về cấp dưỡng

Điều 53 Luật HNGĐ quy định:

“1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết”.

Điều 56 của Luật HNGĐ quy định:

“Khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Mức cấp dưỡng cho con do cha, mẹ thoả thuận, nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết”.

Những quy định này còn quá chung chung, chưa có sự thống nhất. Thực tế hiện nay Tòa án ấn định mức cấp dưỡng thấp hơn rất nhiều so với nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Bởi nhu cầu thực tế đối với người được cấp dưỡng chưa có tiêu chí cụ thể để xác định như về ăn, mặc, đi lại, học tập, chữa bệnh,…

Mức cấp dưỡng hiện nay đã được quy định chi tiết và hướng dẫn tại Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03-10-2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình 2000: Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23-12-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Tuy nhiên trong quá trình thi hành, áp dụng các quy định này chưa có sự thống nhất, mức áp dụng trên thực tế còn thấp. Do đó cần quy định mức cấp dưỡng cụ thể vào Luật HNGĐ để thống nhất cách áp dụng trong mọi trường hợp. Mức cấp dưỡng cần được quy định ít nhất bằng 1/2 mức lương tối thiểu của từng thời điểm mà Nhà nước quy định để làm căn cứ tính mức cấp dưỡng, đồng thời đưa ra các tiêu chí làm căn cứ xác định mức cấp dưỡng (như thu nhập thực tế của người có nghĩa vụ phải cấp dưỡng, mức sống tại địa phương,…).

2.6. Về quyền yêu cầu ly hôn

Khoản 1 Điều 85 Luật HNGĐ quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn”. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay có rất nhiều trường hợp cha hoặc mẹ viết đơn gửi Tòa án với tư cách là người đại diện xin ly hôn cho con của mình bị mắc bệnh tâm thần. Trường hợp này, Tòa án nhân dân các cấp đã có cách giải quyết khác nhau. Có Tòa án không thụ lý vụ án, vì người yêu cầu không có quyền được yêu cầu ly hôn theo quy định của Luật HNGĐ, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy rằng sự việc trên có cả văn bản xác nhận của Hội liên hiệp phụ nữ, chính quyền địa phương về hành vi ngược đãi của người chồng, không chăm sóc cho người vợ bị mất NLHVDS, có quan hệ tình cảm với người khác,… Có Tòa án thụ lý nhưng lại gặp khó khăn vướng mắc về áp dụng pháp luật tố tụng dân sự, Bộ luật dân sự về vấn đề đại diện. Bởi trước khi yêu cầu ly hôn thì cần phải có tuyên bố của Toà án về việc người vợ/chồng bị mất NLHVDS. Theo quy định của Bộ luật dân sự, Luật HNGĐ vợ chồng có quyền đại diện cho nhau: Nhưng trong trường hợp này vợ chồng không thể thực hiện quyền đại diện cho nhau vì quyền lợi của họ đối lập nhau, tuy nhiên việc cử người thân của người mắc bệnh tâm thần làm đại diện cũng gặp khó khăn vì pháp luật không quy định cụ thể người thân của người mắc bệnh tâm thần làm đại diện hoặc được cử nhưng do không đồng ý, không tham gia tố tụng,… Các quy định này vô hình chung dẫn đến khó khăn cho Tòa án trong việc xác định người đại diện, cử người đại diện trong vụ án ly hôn với một bên mắc bệnh tâm thần.

Để giải quyết vướng mắc này, cần nghiên cứu, bổ sung quy định: người thân có quyền nộp đơn cho một người bị mất NLHVDS khi có căn cứ chứng minh được người vợ (hoặc chồng) có hành vi ngược đãi, không thương yêu chăm sóc người đó.

2.7. Về căn cứ cho ly hôn

Theo quy định của Điều 89 Luật HNGĐ thì căn cứ cho ly hôn gồm:

“1. Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn”.

Hiện nay, ngành Tòa án nhân dân nhận được nhiều đơn yêu cầu ly hôn của một bên đề nghị ly hôn với người đang bị truy nã do vi phạm pháp luật, nhưng Luật HNGĐ không có quy định cho ly hôn trong trường hợp này, nên Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ giải quyết vụ án. Điều đó đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người đề nghị giải quyết cho ly hôn.

Luật HNGĐ cần quy định cụ thể thế nào là tình trạng hôn nhân trầm trọng? Đồng thời, để phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, cần quy định các trường hợp bị truy nã, người mất NLHVDS là các căn cứ cho ly hôn.

2.8. Về quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ, chồng, các thành viên trong gia đình

Phần quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con còn quá chung chung, không cụ thể. Những quy định đó khó áp dụng trong thực tiễn xét xử. Hiện nay, Tòa án nhận được một số đơn đề nghị của đương sự (ông, bà) về yêu cầu vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con cái khi cả hai vợ chồng đều bỏ mặc không chăm sóc, nuôi dưỡng con của mình bị bại liệt bẩm sinh, vì Luật HNGĐ chỉ quy định chung chung, chưa cụ thể và thiếu chế tài, dẫn đến tình trạng đứa trẻ không được cha mẹ chăm sóc, quan tâm mà chưa có chế tài xử lý trường hợp thiếu trách nhiệm.

Để giải quyết vấn đề nêu trên, Luật HNGĐ cần bổ sung quy định về chế tài, trách nhiệm đối với vợ, chồng không thực hiện nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, hoặc thành niên nhưng bị tàn tật, mất NLHVDS. Đồng thời, cần bổ sung quy định trong trường hợp vợ chồng ly hôn mà con có đóng góp công sức trong khối tài sản chung thì phải tính chia tài sản cho con.

2.9. Về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Vấn đề quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài hiện nay cũng đã được hướng dẫn tại Thông tư số 07/2002/TT-BTP ngày 16-12-2002 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10-7-2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài: Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 15-9-2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật Tương trợ tư pháp”: Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình.

Trong thực tiễn công tác xét xử của ngành Toà án cho thấy có nhiều vướng mắc trong giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như: Trường hợp người Việt Nam đi lao động xuất khẩu ở nước ngoài, hết thời hạn hợp đồng lao động không về nước mà trốn ở lại sống lưu vong, khi người vợ/chồng ở Việt Nam muốn ly hôn với họ nhưng không biết họ ở đâu, không có liên lạc với gia đình; hoặc trường hợp người Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, sau một thời gian sinh sống với vợ/chồng ở nước ngoài trở về Việt Nam và có yêu cầu ly hôn với chồng/vợ đang ở nước ngoài,… Những trường hợp này Toà án đã thực hiện mọi biện pháp cần thiết như uỷ thác ra nước ngoài nhưng vẫn không có kết quả, dẫn đến vụ việc không được giải quyết ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự.

Để thống nhất và nâng cao hiệu lực áp dụng của văn bản, cần nghiên cứu pháp triển một số quy định chi tiết hoặc hướng dẫn mang tính quy phạm lớn đưa vào Luật HNGĐ. Đồng thời cần quy định rõ hơn về các vấn đề cụ thể của hôn nhân có yếu tố nước ngoài, đặc biệt là việc giải quyết ly hôn khi có tài sản ở nước ngoài.

2.10. Về các vấn đề cụ thể khác

Về thuật ngữ “xin ly hôn” ở khoản 2 Điều 85, khoản 2 Điều 89 Luật HNGĐ, có nhiều ý kiến cho rằng không nên dùng thuật ngữ này. Vì ly hôn là một trong những quyền về dân sự mà mỗi cá nhân được pháp luật ghi nhận. Đó là quyền của họ, họ không phải “đi xin” Tòa án. Mặt khác, để thống nhất cách sử dụng thuật ngữ này trong Luật HNGĐ, đề nghị nên sửa lại là “yêu cầu ly hôn”.

2.11. Về các quan hệ đã có trên thực tế chưa được Luật HNGĐ quy định hoặc quy định chưa cụ thể

· Thỏa thuận tài sản trước khi kết hôn-Hôn ước

Quyền về tài sản là quyền cơ bản được Hiến pháp, Bộ luật dân sự quy định cho mỗi cá nhân. Do đó, mỗi cá nhân có quyền định đoạt, chiếm hữu, sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của mình mà không bị pháp luật cấm. Để khắc phục những bất cập hiện nay về vấn đề tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng thì cần bổ sung quy định: Vợ chồng có quyền thỏa thuận về tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng trước khi kết hôn mà không trái pháp luật.

· Về ly thân

Hiện nay, Luật HNGĐ chưa quy định chế định về ly thân, nhưng trên thực tế hiện tượng này vẫn xảy ra. Vì nhiều nguyên nhân khác nhau nên có những cặp vợ chồng không lựa chọn việc chấm dứt mối quan hệ hôn nhân của mình là ly hôn (như do tuổi cao, danh dự, uy tín, sợ ảnh hưởng tâm lý của các con,…). Nhiều trường hợp vợ chồng có yêu cầu Toà án bảo đảm về pháp lý cho tình trạng ly thân của mình nhưng Toà án không có căn cứ để giải quyết. Do đó, vấn đề ly thân có nên được điều chỉnh trong Luật HNGĐ trong tình hình xã hội hiện nay hay không, ngành Tòa án nhân dân cũng còn nhiều quan điểm khác nhau:

– Quan điểm thứ nhất cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, Luật HNGĐ không nên quy định chế định ly thân, vì dưới góc độ pháp lý, Luật HNGĐ không có quy định nào về việc vợ chồng nhất thiết phải sống chung cùng nhau. Mặt khác bản chất của ly thân không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân và không phù hợp với thuần phong mỹ tục của gia đình Việt Nam.

– Quan điểm thứ hai cho rằng, đây là giải pháp chủ yếu được nhiều cặp vợ chồng lựa chọn để giải quyết mâu thuẫn ngoài biện pháp cuối cùng là ly hôn (đặc biệt trong Công giáo không được phép ly hôn), ly thân còn là một biện pháp hữu hiệu tránh tình trạng bạo lực gia đình, thời gian sống ly thân vợ chồng có thời gian cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đi tới quyết định cuối cùng về hôn nhân. Mặt khác, để giải quyết được vấn đề minh bạch trong việc các bên thực hiện giao dịch phát sinh quyền và nghĩa vụ khi ly thân, cũng như quyền lợi của các con, các thành viên khác trong gia đình được đảm bảo, đề nghị quy định cụ thể vấn đề này trong Luật HNGĐ (con cái, tài sản trong thời gian ly thân), vì vấn đề này là thực tiễn đã xảy ra và không thể cấm.

Về vấn đề này, tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án năm 1995, TANDTC đã có kết luận: “Luật hôn nhân và gia đình không quy định Tòa án thụ lý và giải quyết yêu cầu ly thân, nhưng Điều 18 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định “khi hôn nhân tồn tại, nếu một hoặc các bên yêu cầu và có lý do chính đáng thì có thể chia tài sản chung vợ chồng”. Trong trường hợp này thông thường quan hệ vợ chồng đã rạn nứt, các đương sự thực tế đã ly thân. Khi chia tài sản nếu họ đặt vấn đề Tòa án xác nhận tình trạng ly thân thì Tòa án có thể xác nhận. Nếu các đương sự chỉ đơn thuần xin ly thân thì Tòa án giải thích cho họ tự định đoạt mà không thụ lý giải quyết cho ly thân hay không”. Như vậy, vấn đề ly thân đã được TANDTC nhắc đến và hướng dẫn Tòa án nhân dân các cấp thực hiện ở những năm trước đây khi chưa có Luật HNGĐ năm 2000.

Chúng tôi cho rằng: Ly thân là vấn đề cần được nghiên cứu kỹ, trường hợp quy định về chế định này thì cần quy định cụ thể đảm bảo có căn cứ ly thân và việc giải quyết hậu quả của ly thân như vấn đề tài sản, con cái,… để Toà án có căn cứ hợp pháp giải quyết.

· Về quan hệ chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn

Đây là vấn đề đã được hướng dẫn khá cụ thể tại Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09-6-2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình: Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp ngày 03-01-2000 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9-6-2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình: Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23-12-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Tuy nhiên để có tính quy phạm áp dụng chung cho mọi đối tượng trong xã hội, hiện nay có hai quan điểm khác nhau.

– Quan điểm thứ nhất cho rằng, vấn đề này cần giữ như quy định hiện hành. Vì nếu thừa nhận dẫn đến tình trạng nhiều trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, gây khó khăn trong công tác quản lý, và cũng vô hình chung thừa nhận tình trạng “sống thử” trong giới trẻ hiện nay. Tuy nhiên, cần quy định cụ thể về quyền nhân thân, quyền về tài sản, quyền giữa cha mẹ và con giữa các bên có quan hệ chung sống như vợ chồng. Vì thực tế hiện nay xảy ra hiện tượng này là phổ biến, có phát sinh vấn đề con cái, tài sản. Tòa án đã thụ lý và giải quyết rất nhiều trường hợp.

– Quan điểm thứ hai cho rằng, pháp luật cần tôn trọng quyền tự do của công dân, không thể lấy điều kiện phải đăng ký kết hôn (vi phạm về hình thức) để xác lập các quyền khác (con chung, tài sản chung,…). Nếu có tranh chấp thì họ phải tự chịu hậu quả của việc sống chung đó. Đề nghị nên quy định chế định này trong Luật HNGĐ. Cụ thể, cần quy định các tiêu chí làm căn cứ công nhận như: không công nhận quan hệ vợ chồng; không cho phép đăng ký kết hôn với người thứ ba khi đang sống với người khác như vợ chồng và được xem là trường hợp cấm kết hôn. Về tài sản chung, cần quy định theo nguyên tắc không xác định tài sản chung của các bên, quan hệ tài sản ở đây là hình thức sở hữu chung theo phần: Về con chung, được thực hiện theo quy định của Luật HNGĐ.

· Về kết hôn giữa những người cùng giới tính

Kết hôn giữa những người cùng giới tính không phải là vấn đề mới trên thế giới và cũng đang là vấn đề nóng tại Việt Nam. Việc những người có cùng giới tính chung sống như vợ chồng, có các mối quan hệ về tình cảm, tài sản chung, con cái phát sinh đã xảy ra nhiều trên thực tế. Tuy nhiên, xã hội hiện nay còn có cái nhìn khác nhau về vấn đề này:

– Quan điểm thứ nhất cho rằng, đây là mối quan hệ không phù hợp với tập quán, văn hóa gia đình Việt Nam, không phải hôn nhân đích thực, trái với tự nhiên, trái phong tục tập quán. Đa số các nước trên thế giới đều không công nhận. Do vậy, không nên quy định vấn đề này trong Luật HNGĐ.

– Quan điểm thứ hai cho rằng, đây là vấn đề nhạy cảm, mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc. Hiện nay, đời sống được nâng lên, quan điểm sống “thoáng” hơn trước, do vậy, pháp luật cần công nhận hiện tượng này, nhưng cần có các quy định cụ thể, rõ ràng về các mối quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung,… Để khi có tranh chấp có cơ chế giải quyết phù hợp, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các bên.

Việc nghiên cứu và quy định về vấn đề này cần đảm bảo các quy định về quyền con người được pháp luật Việt Nam bảo vệ như quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử, quyền được mưu cầu hạnh phúc của mỗi cá nhân,…

· Về vấn đề mang thai hộ

Vấn đề này qua trao đổi, tập hợp ý kiến của Tòa án nhân dân các cấp cũng còn nhiều quan điểm khác nhau.

– Quan điểm thứ nhất cho rằng, đây là loại dịch vụ không thể cấm vì thực tế vẫn đang tồn tại. Từ sự kiện này có thể xác định được quan hệ cha mẹ con, quan hệ nuôi dưỡng, tài sản,… do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, đồng thời tạo điều kiện cho những cặp vợ chồng không có khả năng sinh con cũng có con như ý muốn cần quy định rõ trong Luật HNGĐ và lưu ý các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, cấm mang thai hộ vì mục đích thương mại.

Thứ hai,trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì cần xác định các tiêu chí cụ thể làm căn cứ xác định trường hợp được phép mang thai hộ.

Thứ ba, quy định cụ thể về việc giải quyết hậu quả. Xác định cha, mẹ, con, vấn đề cấp dưỡng, giải quyết vi phạm hợp đồng mang thai hộ, các trường hợp mang thai hộ vi phạm điều cấm của pháp luật.

Chúng tôi cho rằng, mang thai hộ là vấn đề mang tính nhu cầu thực tiễn trước hết là vì mục đích nhân đạo, mưu cầu hạnh phúc của các cá nhân, gia đình không có khả năng sinh con. Do đó mang thai hộ có thể được quy định cho phép vì mục đích nhân đạo. Đồng thời với quy định cho phép này cần đảm bảo có các quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của các bên và xác lập quan hệ cha mẹ, con cái, quyền nghĩa vụ giữa cha mẹ và đứa con được sinh ra bằng hình thức này để đảm bảo tránh tranh chấp xảy ra giữa các bên gây hiện tượng xấu trong xã hội. Đồng thời, cấm mang thai hộ vì mục đích thương mại có thể làm trầm trọng hơn tình trạng buôn bán người hiện nay.

2.4. Cần pháp triển hóa những văn bản hướng dẫn Luật HNGĐ, Nghị quyết của Quốc hội mà phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, không trái với những quy định khác của pháp luật.

[1] Số liệu thống kê hàng năm của ngành Tòa án – Vụ Thống kê tổng hợp TANDTC.

Một Số Bất Cập Của Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 2014 / 2023

(LSO) – Sau gần 04 năm Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đi vào đời sống đã có tác động tích cực đến việc đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Luật đã tiếp tục góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực, quan hệ cụ thể, hệ thống quy phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình còn chưa kịp thời hoàn thiện, chưa bảo đảm tính bao quát, tính đầy đủ về cơ sở pháp lý trong giải quyết những vấn đề pháp lý phát sinh từ thực tiễn.

Về tuổi kết hôn. Việc Luật Hôn nhân và gia đình quy định tuổi kết hôn của nữ là đủ 18 tuổi, tuổi kết hôn của nam là đủ 20 tuổi về cơ bản là sự kế thừa của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, góp phần làm cho việc kết hôn và quan hệ hôn nhân được lành mạnh, góp phần thực hiện tốt chức năng xã hội của hôn nhân.

Tuy nhiên, việc quy định tuổi kết hôn chênh lệch của nam và nữ cũng đặt ra vấn đề về bảo đảm bình đẳng giới, về sự đồng bộ với năng lực hành vi dân sự của người thành niên trong Bộ luật Dân sự. Thực tiễn áp dụng quy định về tuổi kết hôn cho thấy tình trạng tảo hôn vẫn diễn ra phổ biến ở khu vực miền núi, dân tộc thiểu số. Bà con vùng đồng bào dân tộc hiểu quy định của pháp luật về tuổi kết hôn nhưng do phong tục, tập quán đã đi vào cuộc sống của người dân từ rất lâu đời, các gia đình thường dựng vợ gả chồng cho con từ rất sớm, nên mặc dù việc kết hôn không được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng hai bên gia đình vẫn tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán, họ hàng hai bên, cộng đồng dân cư của cả bản vẫn mặc nhiên công nhận đó là một cặp vợ chồng.

Về kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời. Quy định về cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời khi áp dụng tại các vùng dân tộc thiểu số cho thấy tính khả thi còn chưa cao, vẫn còn tình trạng kết hôn cận huyết; có địa phương còn xảy ra tình trạng nam nữ chỉ kết hôn với những người cùng dòng họ…

Về vấn đề hôn nhân giữa những người cùng giới tính. Luật Hôn nhân và Gia đình không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính nhưng đồng thời không can thiệp vào việc sống chung giữa họ, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính cũng đã bãi bỏ việc xử lý vi phạm hành chính đối với những hành vi tổ chức lễ cưới, việc chung sống giữa những người cùng giới tính. Đây là sự tiến bộ lớn trong cả trong nhận thức và trong áp dụng pháp luật về tôn trọng quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của người đồng tính nói riêng, cộng đồng người yếu thế nói chung.

Vấn đề ly thân. Luật Hôn nhân và gia đình chưa quy định về chế định ly thân nhưng thực tế hiện tượng này vẫn xảy ra. Do đó, đề nghị nghiên cứu ghi nhận chế định ly thân trong Luật. Việc quy định chế định ly thân sẽ bảo đảm tốt hơn quyền lợi của các con, các thành viên khác trong gia đình; minh bạch hóa các giao dịch dân sự, kinh tế do một bên vợ, chồng thực hiện… Bên cạnh đó, ly thân còn là một biện pháp giúp các bên vợ, chồng tránh tình trạng bạo lực gia đình, tạo điều kiện cho vợ chồng có thời gian để cân nhắc kỹ lưỡng trước khi tiến tới quyết định ly hôn… Trường hợp chưa ghi nhận chế định độc lập về ly thân thì cần nghiên cứu bổ sung ly thân là một căn cứ cho ly hôn.

Về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là một bước tiến lớn, có tính nhân văn cao trong việc bảo đảm việc thực hiện quyền làm cha, làm mẹ của công dân, tạo cơ chế pháp lý minh bạch, rõ ràng hơn trong việc ngăn chặn các hành vi trục lợi của việc mang thai hộ.

Tuy nhiên, để mục đích tốt đẹp của việc mang thai hộ đạt hiệu quả cao hơn cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện thể chế hoặc hướng dẫn áp dụng đối với việc thực hiện quyền làm cha, làm mẹ của những cặp vợ chồng đã có con chung nhưng con bị khuyết tật hoặc bệnh về trí não, vợ chồng không thể sinh con tiếp nhưng không có quyền được nhờ người khác mang thai hộ, như vậy sẽ rất ảnh hưởng đến gia đình họ; nghiên cứu mở rộng đối tượng có thể mang thai hộ miễn sao họ có mục đích nhân đạo, hỗ trợ vợ chồng trong việc thực hiện quyền làm cha, làm mẹ; cơ chế pháp lý xử lý nghiêm những hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại; cơ chế giải quyết tranh chấp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; cụ thể hóa về đối tượng được hưởng chế độ thai sản trong trường hợp lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội là người chồng trong cặp vợ chồng vô sinh nhờ mang thai hộ có được hưởng chế độ thai sản không nếu ngay sau khi sinh con, người mang thai hộ giao ngay con cho cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ nuôi dưỡng.

Về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Tại một số nước, khi công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài tại nước ngoài bị yêu cầu thôi quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, trong trường hợp bị tước bỏ quốc tịch nước ngoài, công dân Việt Nam trở thành người không quốc tịch, thủ tục để được chấp nhận trở lại quốc tịch Việt Nam rất khó khăn; thực tế cho thấy cần quy định chặt chẽ các điều kiện kết hôn với người nước ngoài, bổ sung một số điều kiện cần thiết như điều kiện về trình độ ngôn ngữ, sức khỏe, chênh lệch về tuổi, đã trải qua lớp đào tạo về văn hóa hôn nhân, gia đình của nước ngoài…

Hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có những quy định xác lập thông tin về tình hình sinh sống của công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài và đang sinh sống ở nước ngoài (chẳng hạn pháp luật chưa có quy định việc bảo hộ cho công dân Việt Nam là phụ nữ sau khi kết hôn sang định cư ở Trung Quốc (Đài Loan), Hàn Quốc… nên việc giúp đỡ các cô dâu Việt Nam khi gặp hoàn cảnh khó khăn còn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân: trình độ thấp, không có thông tin về các cơ quan ngoại giao.

Bên cạnh đó, Luật chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn tình trạng kết hôn giả tạo nhằm mục đích khác. Luật Hộ tịch năm 2014 đã bỏ thủ tục phỏng vấn đối với bên nam và bên nữ khi đăng ký kết hôn tại UBND cấp huyện. Tuy nhiên, nhiều trường hợp đăng ký kết hôn với mục đích để được nhập cư ở nước ngoài đã lợi dụng việc đăng ký kết hôn này. Trong quá trình giải quyết, công chức làm công tác hộ tịch nếu không kiểm tra kỹ hồ sơ cũng như thực hiện việc thẩm tra, xác minh tại địa phương thì không thể phát hiện ra được. Nhưng nếu như thực hiện thẩm tra, xác minh thì sẽ không bảo đảm về thời gian giải quyết, làm ảnh hưởng đến việc giải quyết thủ tục hành chính.

Trong thực tiễn xét xử, tòa án cũng đã gặp nhiều vướng mắc khi giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Ví dụ, trường hợp người Việt Nam đi lao động xuất khẩu ở nước ngoài, hết thời hạn hợp đồng lao động không về nước mà trốn ở lại sống lưu vong ở nước đó, người vợ (chồng) ở Việt Nam muốn ly hôn với họ, nhưng không biết họ đang ở đâu, không có liên lạc với gia đình. Hoặc trường hợp người Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, sau một thời gian sinh sống với vợ (chồng) ở nước ngoài trở về Việt Nam và có yêu cầu ly hôn với chồng (vợ) của mình đang ở nước ngoài. Mặc dù các trường hợp trên, tòa án đã thực hiện mọi biện pháp cần thiết như ủy thác tư pháp ra nước ngoài nhưng vẫn không có kết quả, dẫn đến vụ việc không được giải quyết, ảnh hưởng rất lớn tới quyền lợi của đương sự…

ThS. NGUYỄN THỊ LIỄU

Cần Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hôn Nhân Và Gia Đình / 2023

Từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực đến nay đã tạo hành lang pháp lý quan trọng điều chỉnh các quan hệ trong hôn nhân, gia đình. Song luật cũng xuất hiện những vướng mắc, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tế.

Nhiều thay đổi quan trọng

Trên thực tiễn thi hành, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bám sát và cụ thể hóa những nội dung cơ bản về quyền con người. Đó là tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền con người, bình đẳng giới, bảo vệ trẻ em, người cao tuổi và những đối tượng yếu thế khác trong quan hệ hôn nhân, gia đình… Luật có những điểm tiến bộ như: tăng độ tuổi kết hôn; cho phép thỏa thuận về tài sản trước khi kết hôn; quy định về mang thai hộ nhằm mục đích nhân đạo… Các quy định này vừa đồng bộ với Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Dân sự…, vừa thể hiện những quan điểm chiến lược về nâng cao chất lượng, sự bền vững của hôn nhân và gia đình.

Theo bà Nguyễn Thị Lan Phương – Giám đốc Sở Tư pháp, luật và các văn bản quy định chi tiết đã có tác động tích cực trong đời sống xã hội, góp phần hình thành trong mỗi cá nhân ý thức chấp hành pháp luật; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, gia đình ấm no, bình đẳng và tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình và là cơ sở để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình…

Một buổi tuyên truyền những quy định Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 của phụ nữ huyện Diên Khánh.

Vẫn còn những bất cập phát sinh

Bên cạnh những tác động tích cực của luật đến đời sống xã hội, các quan hệ pháp lý về hôn nhân và gia đình được đảm bảo, nhận thức của người dân ngày càng được nâng lên, trong quá trình áp dụng luật cũng bộc lộ nhiều bất cập. Cụ thể, theo quy định, ngoài trường hợp “bạo lực gia đình” là căn cứ giải quyết cho ly hôn, đối với những hành vi khác, những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng… xảy ra, để được giải quyết cho ly hôn thì gặp nhiều khó khăn trong việc xác định cơ sở nhận định tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bên cạnh đó, hiện nay chưa có quy định cụ thể về việc cơ quan nào có thẩm quyền xác nhận cho người có nhu cầu mang thai hộ, việc xác nhận này được chứng thực trên loại giấy tờ nào, người ký xác nhận phải chịu trách nhiệm trước pháp luật như thế nào?…

Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho vợ hoặc chồng sau khi ly hôn, luật quy định người được cấp dưỡng phải là người khó khăn, túng thiếu và bản thân họ phải có yêu cầu chính đáng… Thế nhưng, thực tế, quy định này rất khó thực thi. Mặt khác, các quy định về cấp dưỡng chưa cụ thể và thiếu chế tài. Điều này khiến cho Tòa án khi giải quyết chỉ có căn cứ vào điều kiện thực tế của từng trường hợp, dẫn đến mức cấp dưỡng có sự khác nhau. Ngoài ra, các quy định về điều kiện kết hôn được áp dụng chung cho cả quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài mà chưa có những quy định riêng về điều kiện kết hôn với người nước ngoài. Song song đó, hệ thống pháp luật cũng không quy định xác lập thông tin về công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài và đang sinh sống ở nước ngoài khiến cho việc giúp đỡ người Việt Nam kết hôn ở nước ngoài gặp hoàn cảnh khó khăn còn nhiều hạn chế. Hệ thống pháp luật còn thiếu những quy định để giải quyết vướng mắc về hộ tịch cho trẻ em là con chung của phụ nữ Việt Nam và người nước ngoài khi theo mẹ về cư trú ở trong nước…

Được biết, những bất cập, tồn tại và phát sinh trong quá trình thực hiện luật đã được các cấp, ngành, địa phương của tỉnh tổng hợp và kiến nghị Trung ương có hướng sửa đổi, bổ sung phù hợp.

Theo báo cáo của UBND tỉnh, từ năm 2015 đến nay, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh đã thụ lý 16.732 vụ án về hôn nhân, gia đình. Cụ thể, cấp sơ thẩm thụ lý 16.279 vụ, đã giải quyết 15.966 vụ; cấp phúc thẩm thụ lý 93 vụ, đã giải quyết 92 vụ.Theo Báo Khánh Hòa

Bài 12. Công Dân Với Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình / 2023

GIÁO DỤC CÔNG DÂN KHỐI 10 LỚP 10 C 4CHÀO MỪNG QUÍ THẦY CÔ

WELCOME TO OUR CLASS !Thứ sáu , ngày 26 tháng 2 năm 2010Tình yêu là gì? Nêu một số điều nên tránh trong tình yêu của nam nữ thanh niên?Kiểm tra bài cũ2. Bài tập: Trong trường hợp sau đây, trường hợp nào là nên làm, không nên làm trong tình yêu?

3. Gia đình, chức năng của gia đình, các mối quan hệ gia đình và trách nhiệm của các thành viênBài 12: Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình(Tiết 2)2. Hôn nhân:Anh A và chị B tự ý sống chung với nhau. Sau một thời gian, giữa họ có một đứa con, mộtcăn nhà và một số tài sản khác. Quan hệ giữa họvề mặt pháp lí có được coi là vợ chồng hayKhông ? Tại sao ?2. Hôn nhâna. Hôn nhân là gì?Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hônỞ nước ta pháp luật quy định tuổi kết hôn là bao nhiêu?Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lênKhuyến khích nam từ 26 tuổi trở lên, nữ từ 22 tuổi trở lên * Cho HS nêu và trả lời tình huống trang 80b. Chế độ hôn nhân ở nước ta hiện nay-Hôn nhân tự nguyện và tiến bộ-Hôn nhân một vợ một chồng,vợ chồng bình đẳng.Thế nào là hôn nhân tự nguyện và tiến bộ? Là hôn nhân dựa trên tình yêu chân chính.Thứ nhất: hôn nhân tự nguyện và tiến bộ– Cá nhân được tự do kết hôn theo luật định.Theo em thanh niên nam nữ yêu nhau có nên cho cha mẹ biết hay không?– Bảo đảm về mặt pháp lí– Bảo đảm quyền tự do li hônLi hôn có tác hại gì??Em hiểu thế nào là hôn nhân một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng bình đẳng? Hôn nhân dựa trên tình yêu chân chính là hôn nhân một vợ một chồng. Vì tình yêu là không thể chia sẻ được

Bình đẳng trong quan hệ vợ chồng là vợ chồng có nghĩa vụ và quyền hạn ngang nhau trong mọi mặt của đời sống gia đìnhThứ hai: hôn nhân một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng3. Gia đình, chức năng của gia đình, các mối quan hệ gia đình và trách nhiệm của các thành viêna. Gia đình là gì? – Chức năng duy trì nòi giống.

b. Chức năng của gia đình

Gia đình có những chức năng gì?Em có suy nghĩ gì về đoạn phim vừa xem?Theo em gia đình Việt Nam hiện nay nên có mấy con? Vì sao?

Có người cho rằng, việc giáo dục trẻ em là việc của nhà trường. Em có nhận xét gì về ý kiến này?– Chức năng tổ chức đời sống gia đình– Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục con cáiHãy xem đoạn phim và trình bày suy nghĩ của mình ?c. Mối quan hệ gia đình và trách nhiệm của các thành viênTheo em gia đình có những mối quan hệ cơ bản nào?EM HÃY NÊU MỘT SỐ CÂU CA DAO, TỤC NGỮ NÓI VỀ QUAN HỆ GIỮA VỢ VÀ CHỒNG, CHA MẸ VÀ CON CÁI, GIỮA ÔNG BÀ VỚI CÁC CHÁU, GIỮA ANH CHỊ EM VỚI NHAU?Giúp đỡ nhauChung thủy Yêu thươngChăm sócQuan hệ giữa vợ và chồngNhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc……Những nạn nhân của bạo hành gia đình Tình trang bạo lực trong gia đình mà nạn nhân là phụ nữ, trẻ em. Nạn nhân của bạo lực gia đình Theo em, một gia đình vợ chồng luôn bất hòa sẽ ảnh hưởng như thế nào tới con cái?Lang thang Tệ nạn xã hộiCha mẹ phải có trách nhiệm yêu thương, nuôi dưỡng, dạy dỗ, giáo dục con cái trở thành người con hiếu thảo trong gia đình, là công dân có ích cho xã hộiCon cái có bổn phận yêu quý, kính trong, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, giữ gìn danh dự và truyền thống tốt đẹp của gia đìnhÔng bà có trách nhiệm yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giáo dục các cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho các cháuCháu có bổn phận yêu thương, kính trọng, hiếu thảo và có trách nhiệm phụng dưỡng ông bàQuan hệ giữa ông bà và các cháuQuan hệ giữa anh, chị em Yêu thươngTôn trọngĐùm bọcGiúp đỡ lẫn nhauChăm sócBài tậpBài 5 SGK trang 86:

Trước đây, quan niệm về một gia đình có phúc là “con đàn, cháu đống”. Em thấy quan niệm này còn phù hợp trong xã hội ngày nay không? Vì sao?Trong xã hội nông nghiệp trước kia, lao động nông nghiệp cần nhiều nhân công nên gia đình nhiều con sẽ có lợi trong sản xuất. Ngày nay, quan niệm này không còn phù hợp nữa. Mỗi gia đình chỉ nên có một hoặc hai con để nuôi dạy cho tốt.Dặn dòVề nhà học bài cũLàm bài tập 3, 4, 6Đọc tham khảo cuốn luật hôn nhân và gia đìnhHọc bài 9,10,11,12 tiết sau kiểm tra một tiết ( Trắc nghiệm : 3 điểm ; tự luận : 7 điểm )Chúc các em học tốt

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đánh Giá Thực Trạng Quy Định Của Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 2000 Qua Thực Tiễn Giải Quyết Các Vụ Việc Về Hôn Nhân Và Gia Định Của Ngành Tòa Án – Những Bất Cập, Hạn Chế Và Đề Xuất Sửa Đ� / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!