Đề Xuất 2/2023 # Đặc Điểm Âm Học Của Phụ Âm Đầu Trong Tiếng Việt # Top 2 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Đặc Điểm Âm Học Của Phụ Âm Đầu Trong Tiếng Việt # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đặc Điểm Âm Học Của Phụ Âm Đầu Trong Tiếng Việt mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

ThS. NGUYỄN TRẦN QUÝ(Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM)

TÓM TẮT

     Trong nghiên cứu ngữ âm học, cần có số liệu làm minh chứng xác thực. Thủ pháp phân tích ngữ âm học có giá trị cho việc kiểm chứng các giả thuyết âm vị trước đây. Qua đó, nêu lên cơ sở khoa học để củng cố các quan niệm nghiên cứu ngữ âm, âm vị học chính thống. Nếu như các chỉ số của formant F1, F2, F3 được xem là cơ sở để đo đạc các nguyên âm thì đối với phụ âm, các chỉ số Voice onset time (VOT), độ dịch chuyển formant, tiền formant, tần số quỹ tích formant sẽ được chú ý. Trong bài viết này, chúng tôi mong muốn trình bày cơ sở để đo đạc các phụ âm đầu tiếng Việt như: phụ âm hữu thanh, phụ âm vô thanh, phụ âm tắc, phụ âm xát, phụ âm mũi. Các phụ âm hữu thanh sẽ có voice bar còn phụ âm vô thanh thì không có voice bar. Phụ âm xát luôn có tần số cao hơn phụ âm tắc. Dựa vào hình dạng ảnh phổ của một phụ âm, chúng ta có thể xác định được vị trí cấu âm của phụ âm đó. Nét âm học của phụ âm mũi và phụ âm bên gần giống với nét âm học của nguyên âm bởi vì khi cấu tạo các phụ âm này, dây thanh rung nhiều hơn.

     Từ khóa: VOT, sự dịch chuyển formant, xung, tiền formant, tần số quỹ tích, ảnh phổ, khoảng lặng, trường độ.

xx x

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     Cho đến hiện tại, trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm âm học của phụ âm. Tuy nhiên, ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về ngữ âm học âm học còn khá khiêm tốn. Về nghiên cứu thực nghiệm về phụ âm, có thể kể đến các tác giả sau:

     Công trình nghiên cứu ảnh phổ của Potter (1947) cho thấy F2 và F3 ở điểm bắt đầu của nguyên âm dường như gần nhau hơn về tần số tại điểm khởi đầu nguyên âm theo sau một âm tắc ngạc mềm hơn là âm tắc chân răng [1]. Từ thập niên 60 đến thập niên 80, các nhà khoa học như: Lehiste & Peterson (1961), Öhman (1966), Fant (1973), Kewley-Port (1982) khám phá một chứng cứ về quỹ tích F2 (locus F2) cho các phụ âm [2-4, 27]. Sự di chuyển của F3 có thể cho biết thông tin về chỗ tắc và đặc biệt là tách chân răng khỏi ngạc mềm (Öhman, 1966; Fant, 1973; Cassidy & Harrington, 1995) [2, 4, 5]. Sự dịch chuyển formant phản ánh ảnh phổ của phụ âm (Sussman, 1994; Sussman et al., 1993, 1995; Modarresi et al., 2005) [6-8, 28]. Tìm hiểu phụ âm xát, có thể kể đến Shadle và Johnson. Âm xát được tính toán dựa trên biểu đồ phổ (Forrest, 1988; Jongman, 2000; Tabain, 2001) [9-11].

     Về phụ âm tắc, có những vị trí khác nhau trong hình dạng phổ của âm tắc (Fant, 1960; Stevens, 1998) [12, 13]. Thông số về vị trí tắc (Smits, 1996a; Fischer-Jørgensen, 1972; Blumstein and Stevens 1979, 1980) [14-17]. Bàn về phụ âm mũi, có các nhà nghiên cứu như: Stevens (1985, 2002), Fant (1960), Flanagan (1972) [12, 18-20]. Phụ âm đầu mũi khác phụ âm cuối mũi như kết quả nghiên cứu của Repp và Svastikula (1988), Redford và Diehl (1999), Hajek (1997) [21-23]. 

     Đặc điểm âm học của phụ âm phức tạp hơn nguyên âm. Nhìn chung, phụ âm thường được miêu tả qua một số tính chất sau: giai đoạn đóng, giai đoạn mở, sự dịch chuyển, khoảng lặng (dây thanh không rung).

     Phụ âm tiếng Việt mang đặc trưng âm học như thế nào? Các tiêu chí dùng để phân biệt các nhóm phụ âm tiếng Việt là những gì? Việc trả lời những câu hỏi này sẽ giúp chúng tôi có những cơ sở để xác định đặc điểm âm học của phụ âm tiếng Việt. Việc phân biệt phụ âm vô thanh với hữu thanh vốn rất tinh tế nay có thể được minh chứng bằng các chỉ số rõ ràng.

2. PHƯƠNG PHÁP

     Âm thanh được ghi âm và lưu lại dạng *.wav. Có 10 cộng tác viên nói phương ngữ Nam bộ và phương ngữ Bắc bộ (5 nam, 5 nữ) được chọn thu âm với mục đích chọn được các mẫu âm thanh của phụ âm gần đúng với chuẩn tiếng Việt nhất. Sau khi so sánh kết quả phân tích thực nghiệm phụ âm của các cộng tác viên, chúng tôi chọn kết quả nghiên cứu của một giọng nam để dùng làm minh chứng cho bài viết này.

     Bảng từ dùng để thu âm dựa vào các tiêu chí sau:

     – Xác định rõ điểm đầu và cuối của một âm tố, trong thế đối lập âm vị. Chẳng hạn như: để khảo sát phụ âm, chúng tôi chọn từ có ngữ cảnh chẳng hạn như: tata, đa đa, mama… Cấu trúc âm tiết là CV. Chỉ sử dụng nguyên âm [a] cho tất cả các từ được thu âm.

     – Một từ được lặp lại ít nhất 2 lần để giúp cộng tác viên phát âm tự nhiên và rõ ràng. Thời gian, cao độ, cường độ được đo đạc dựa vào các đoạn âm đã được phân tích trong phần mềm Praat. Chúng tôi sử dụng phần mềm và công cụ phân tích sóng âm như sau: phần mềm ghi âm Cool edit pro phiên bản 2.1, phần mềm phân tích ngữ âm PRAAT phiên bản 5.2.28 [24], micrô ghi âm Shure SM 58-LC, Sound card Roland Tri Capture. Thủ pháp Spectral center of gravity và Dispersion được dùng để tính toán các phụ âm xát trên nền phần mềm Praat. Spectral center of gravity (Spectral COG) rất hữu dụng để đo đạc tần số không tuần hoàn của các âm xát. COG miêu tả một âm xát có tần số cao. Cách đo đạc này có thể dùng nghiên cứu điền dã ngôn ngữ, dùng để xác định vị trí cấu âm của từng loại âm xát khác nhau. 

     Dispersion (độ lệch chuẩn – standard deviation) cung cấp một cách đo năng lượng tập trung ở một dải hẹp quanh COG hoặc trải rộng trên dải tần số rộng.

3. CÁC TIÊU CHÍ DÙNG ĐỂ ĐO ĐẠC PHỤ ÂM

     Phụ âm có đặc điểm là có sự thay đổi nhanh ở các khí quan. Những biểu hiện trên ảnh phổ của phụ âm thường là: xát, bật hơi, tiếng thanh.

     Các phụ âm bao gồm những biến đổi nhanh chóng ở nguồn và bộ lọc. Phụ âm khác nguyên âm ở chỗ phần lớn không thể hiệntrên số liệu về formant 1, 2, 3, 4 cụ thể như nguyên âm. Có thể xác định phụ âm dựa vào một số đặc điểm về phổ trước và sau nguyên âm. Các thông tin về xung (burst), thời lượng khởi phát của âm (VOT), tắc (stop) và xát (fricative) là cơ sở để xác định các phụ âm. 

     Không giống như nguyên âm, các phụ âm không có ảnh phổ rõ rệt. Tuy nhiên, đối với phụ âm đầu hữu thanh, sẽ có sự ảnh hưởng lên formant của nguyên âm kế cận. Vị trí cấu âm của một số phụ âm có thể ảnh hưởng tới đoạn đầu formant F2 và F3 của nguyên âm.

     Phụ âm tắc, phụ âm xát và phụ âm mũi có một số tiêu chí chung trong khi đo đạc. Tuy vậy, tuỳ vào phương thức cấu âm mà cần thêm một số tiêu chí khác bổ sung cho việc kiểm tra đặc điểm âm học của phụ âm.

     Tiêu chí VOT không thể thiếu để tách bạch loạt phụ âm hữu thanh, vô thanh trong cả hai phương thức tắc, xát. Tiêu chí formant chuyển hoá (transition formant) giúp phân biệt từng loại phụ âm hữu thanh.

     3.1 Voice onset time

     VOT (Voice onset time) là thời lượng tính từ khởi âm (burst) đến điểm bắt đầu chu kỳ của nguyên âm và có tín hiệu âm học nổi bật để phân biệt âm hữu thanh với vô thanh, bật hơi trong tiếng Anh và nhiều ngôn ngữ khác (Lisker, 1967) [25]. VOT là một nét riêng của việc sản sinh phụ âm tắc. Không những vậy, đối với các phụ âm xát, VOT được biểu hiện như thanh âm (voice bar), giúp xác định phụ âm xát hữu thanh một cách dễ dàng trên ảnh phổ.

     VOT có thể cung cấp thông tin về vị trí phát âm của âm tắc hữu thanh: Âm tắc ngạc mềm có VOT dài hơn âm tắc chân răng. Âm tắc chân răng lại dài hơn âm tắc môi (Kewley-Port, 1982). 

     VOT có 3 loại:

     – VOT dương (positive): phụ âm bắt đầu sau burst.

     – VOT âm (negative): phụ âm bắt đầu trước burst.

     – VOT xấp xỉ zero: phụ âm và burst rất gần nhau.

     Phụ âm tắc vô thanh bắt đầu khoảng trên 50 ms (mili giây) sau burst. Âm này không xuất hiện trong giai đoạn đóng.

     Phụ âm tắc hữu thanh bắt đầu khoảng 30 ms trước burst. Âm có thể xuất hiện trong giai đoạn đóng. 

     Âm tắc vô thanh, không bật hơi (âm p) có VOT gần bằng 0.

     ÂM tắc hữu thanh không bật hơi có VOT nhỏ hơn 0, (VOT âm), nghĩa là dây thanh bắt đầu rung trước khi xuất hiện burst của phụ âm. Với một âm tắc hoàn toàn, VOT sẽ trùng với burst.

     Dựa vào thời lượng VOT, có thể xác định được phương thức phát âm của phụ âm là hữu thanh hay vô thanh của tiếng Việt cũng như một số ngôn ngữ

Ngôn ngữ Tắc vô thanh Tắc hữu thanh Anh Positive VOT Zero VOT Pháp Zero VOT Negative VOT Việt Zero VOT Negative VOT

     Các phụ âm tắc, hữu thanh và xát, hữu thanh sẽ có giá trị VOT là âm. Các phụ âm tắc, vô thanh của tiếng Việt có VOT dưới 30 ms, còn phụ âm xát có VOT trên 54 ms.

     Bảng 1. Thống kê VOT của phụ âm đầu tiếng Việt.

Negative

Zero

Positive

Tắc

xát

Tắc

xát

Tắc

xát

Môi

b -105

v -105

f- 54

Đầu lưỡi răng

d -85

z -195

t- 9

tʰ- 60

s-101

Đầu lưỡi ngạc

ʐ -81

ʈ-15

ʂ-182

Mặt lưỡi

c- 27

Gốc lưỡi

ɣ -145

k-29

χ-208

Thanh hầu

ʔ- 5

h- 69

     3.2 Sự dịch chuyển formant

     Thông thường, các formant: F1, F2, F3, F4… được sử dụng để thống kê về vị trí, phương thức của các nguyên âm. Tuy thế, trong một số bối cảnh phát âm chẳng hạn như CV, VC thì sẽ xuất hiện một đoạn ngắn chuyển tiếp formant của nguyên âm.

     Sự dịch chuyển của những formant là tín hiệu rất quan trọng đối với cách thức (F1) và vị trí (F2, F3) của phụ âm. Trong đoạn chuyển hoá formant, F1 thay đổi đối với phụ âm tắc, hữu thanh hoặc âm mũi. Đối với phụ âm tắc, vô thanh, F1 không thay đổi. Một điều quan trọng là hình dạng của những dịch chuyển formant sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào nguyên âm kế cận. Sự dịch chuyển formant phải bắt đầu tại điểm có tần số formant của nguyên âm trước nó hoặc phải kết thúc tại điểm có tần số formant của nguyên âm sau nó. Tuy vậy, sự dịch chuyển formant của một phụ âm tắc hữu thanh sẽ giống nhau mặc dù trong bối cảnh nguyên âm kế cận khác nhau.

     Đối với phụ âm tắc hữu thanh, chúng ta sẽ nhận ra sự ảnh hưởng từ formant của phụ âm này lên formant của nguyên âm trong âm tiết có cấu trúc CV. Các phụ âm vô thanh không thể hiện sự dịch chuyển formant rõ rệt như phụ âm hữu thanh.

     Sự chuyển hoá formant (formant transition) là sự thay đổi đột ngột tần số formant xảy ra ở đoạn đầu của formant nguyên âm trong cấu trúc âm tiết CV. Trong cấu trúc âm tiết VC, chuyển hoá formant xảy ra ở đoạn cuối của formant nguyên âm.

     Trong ảnh phổ của chuyển hoá formant (Hình 2), giá trị F2 thay đổi có ý nghĩa về mặt âm học rất quan trọng đối với vị trí cấu âm của phụ âm đang được xem xét. Tần số F1 thay đổi sẽ phản ánh phương thức cấu âm của phụ âm. (nguồn: http://blogjam.name/sid/?page_id=2465).

Hình 1. Sự dịch chuyển của formant trong các âm tiết: [ba], [da], [ga].Nguồn: http://www.indiana.edu/~p1013447/dictionary/vot.htm

     3.3 Phụ âm tắc

     Phụ âm tắc được xác định dựa vào các thông số sau: VOT, spectral pattern và sự chuyển hoá formant (formant transition). Phổ của phụ âm tắc gần giống với phổ của phụ âm xát ở cùng vị trí cấu âm. Chúng ta có thể dùng cách đo đạc phụ âm tắc để đo phụ âm xát. Các phụ âm tắc và xát sẽ có thông số khác nhau tuỳ vào vị trí cấu âm. Chỉ số F1 của phụ âm tắc luôn luôn thấp ở tất cả các vị trí cấu âm. Tuy vậy, chỉ số F2 và F3 của phụ âm tắc sẽ biến đổi tuỳ thuộc vào vị trí cấu âm. Tiếng Việt có 9 phụ âm tắc như sau: /t, tʰ, ʈ, c, k, ʔ, b, d/.

     Tắc môi

Hình 2. Ảnh phổ của phụ âm [b] trong từ ba

     Trong hình 2, VOT của phụ âm [b]: 0,082 giây

Hình 3. Đồ thị sóng âm của phụ âm [b] trong từ ba

     Có thể dựa vào hình dạng ảnh phổ và sóng âm để phân biệt các phụ âm. Phụ âm vô thanh không có voice bar (vệt màu đen ở chân) đối lập với phụ âm hữu thanh có voice bar. Sóng âm của phụ âm hữu thanh là những đường cong tuần hoàn, có chu kỳ, trong khi sóng âm của phụ âm vô thanh là những đường cong không tuần hoàn. (Hình 3)

     Phụ âm môi thường có có quỹ tích của formant F2 và F3 tương đối thấp.

     Tắc đầu lưỡi – răng

Hình 4. Ảnh phổ của phụ âm [tʰ] trong từ tha, [t] trong từ ta

     VOT của phụ âm [tʰ] luôn dài hơn vot của phụ âm [t]. Âm tắc vô thanh bật hơi (âm tʰ) có VOT (positive) lớn hơn âm tắc, vô thanh, không bật hơi. (Hình 4)

Hình 5. Ảnh phổ của phụ âm [t] trong từ ta, phụ âm [d] trong từ đa

     VOT của phụ âm [d] tuy lớn hơn vot của phụ âm [t], nhưng đó là vot âm (negative) (Hình 5). Tất cả các phụ hữu thanh nói chung, không phân biệt phương thức là tắc hay xát, đều có thể dễ dàng xác định nhờ voice bar trên ảnh phổ.

     Tắc đầu lưỡi – ngạc     /ʈ/

Hình 6. Ảnh phổ của phụ âm [ʈ] trong từ tra

     Tần số âm quặt lưỡi khoảng 3000 Hz thấp hơn âm đầu lưỡi răng (4000 Hz). F2 và F3 của âm quặt lưỡi thường nhập lại thành một. (Hình 6)

     Tắc mặt lưỡi

Hình 7. Ảnh phổ của phụ âm [c] trong từ cha

     Trong ảnh phổ trên (Hình 7), quỹ tích F1 của phụ âm [c] thấp hơn F1 của của nguyên âm nhưng quỹ tích F2, F3 lại cao hơn F2, F3 của nguyên âm [a].

     Tắc gốc lưỡi

Hình 8. Ảnh phổ của phụ âm [k] trong từ ca

     So sánh F2 và F3 của phụ âm [k] với phụ âm [c], chúng ta dễ dàng nhận ra sự khác biệt ở sự hội tụ hoặc phân tán formant. F2 và F3 của phụ âm [k] rất gần nhau trong khi F2 và F3 của phụ âm [c] cách xa.

     Tắc thanh hầu

Hình 9. Ảnh phổ của phụ âm [ʔ] trong từ a

     Bảng 2. Bảng tần số burst (xung) và tần số locus (quỹ tích) của các phụ âm đầu trong tiếng Việt

Môi răng

Đầu lưỡi răng

Đầu lưỡi ngạc

Mặt lưỡi

Cuối lưỡi

Thanh hầu

b

t

d

ʈ

c

k

ʔ

Burst CentreFrequency

151

511

4075

352

473

416

4446

140

F2 LocusFrequency

1154

1275

1728

1680

1691

2115

1967

1665

F3 LocusFrequency

2472

2659

2719

2643

2650

3094

2178

2464

     Trong bảng 2, tần số burst centre của phụ âm môi sẽ thấp hơn F2 của nguyên âm kế cận. Riêng phụ âm [tʰ] và [k] có tần số burst centre rất cao. Phụ âm tắc thanh hầu luôn có tần số F1 locus cao hơn F1 của nguyên âm.

     Qua khảo sát các phụ âm tắc tiếng Việt trên Praat, chúng tôi rút ra nhận định sau: Phụ âm tắc có khoảng trống trong ảnh phổ. Đối với phụ âm tắc vô thanh sẽ có burst, còn phụ âm tắc hữu thanh sẽ có voice bar.

     3.4 Phụ âm xát

     Nét âm học cốt lõi của phụ âm xát là sự di chuyển xuống dãy tần số thấp khi vị trí cấu âm lùi vào trong (từ môi đến cuối lưỡi). Cường độ của âm môi-răng thấp hơn âm răng. Cường độ của âm đầu lưỡi quặt thấp hơn âm đầu lưỡi bẹt.

     Các tiêu chí dùng để xác định phụ âm xát gồm: tần số của spectral peak và tần số amplitude peak. Chú ý F2 của phụ âm xát hữu thanh.

     Đặc điểm âm học của âm xát:

     – Âm ở phía trước khoang âm có tần số cao. Ngược lại âm ở phía sau khoang âm có tần số thấp.

     – Âm trước khoang âm có dãy sóng rộng hơn.

     – Âm sau khoang âm có nhiều cấu trúc formant.

     Sự dịch chuyển formant F2, F3 có thể dùng để phân biệt âm [f] và âm [θ] (Tabain, 1998)[11]. F2 di chuyển có thể dùng phân biệt âm [s] với âm [ʃ] (Soli, 1981) [26].

     Các phụ âm xát của tiếng Việt gồm có 9 âm vị:

     /f, v, s, z, ʂ, ʐ, χ, ɣ, h, l/

     Âm xát hữu thanh được đánh dấu bằng voice bar. Âm xát vô thanh sẽ không có voice bar. Trên ảnh phổ, âm xát được đánh dấu ở sự dịch chuyển formant.

     Âm /f, v/ có điểm khác với âm /s, z/ nhờ đặc điểm: hạ thấp F2 so với F2 của nguyên âm kế cận. 

     Âm /s/ có tần số vào khoảng trên 5 kHz, còn âm /z/ có tần số 6 kHz.

     Bảng 3. Tương ứng vị trí và đặc trưng âm học của phụ âm xát

h χ, ɣ ʂ, ʐ, s, z, f, v Vị trí cấu âm Thanh hầu Ngạc mềm Đầu lưỡi ngạc Đầu lưỡi răng Môi răng Hình dạng burst Rãnh dọc Rãnh ngang Rãnh dọc Rãnh ngang Rãnh dọc Cản trở Răng trên Tần số Giống với nguyên âm 1,5-7 kHz 2-8 kHz 4 kHz -9 kHz 2kHz-8kHz

     Bảng 4. Tần số và cường độ của phụ âm xát

Âm xát Peak frequency (Hz) Amplitude of peak frequency (dB) f 111 7v23931s 9084 11z196 30 ʂ 3908 32 ʐ 9018 x 1575 7 ɣ 9025 h 13220

     Dựa vào bảng trên (bảng 4), ta thấy âm xát [s] có tần số peak cao nhất nhưng không phải là âm lớn nhất. Âm [ʂ] có cường độ cao nhất nên phát âm lớn nhất. Hai âm xát [ʐ], [ɣ] có tần số peak thấp nhất. 

     Xát môi

Hình 10. Ảnh phổ của phụ âm [f] trong từ pha, [v] trong từ va

     Trong hình trên (Hình 10), so sánh phổ của /f/ và /v/, chúng ta dễ dàng nhận ra voice bar (vệt màu đen ở chân ảnh phổ) của âm /v/ và vệt phổ có tần số lớn hơn 2 kHz của âm /f/. Tất cả các phụ âm xát sẽ có sự xuất hiện của vệt phổ, không phải formant. Phụ âm xát, vô thanh đối lập với phụ âm xát hữu thanh vì không có voice bar.

     Xát đầu lưỡi – răng

Hình 11. Ảnh phổ của phụ â [s] trong từ xa, [z] trong từ từ gia.

     Phụ âm /s/ và /z/ có cùng vị trí cấu âm nhưng khác nhau về phương thức dẫn đến có đặc điểm ảnh phổ khác nhau. Phụ âm /z/ có các tiền formant và sự dịch chuyển formant. Tần số F1 và F2 của phụ âm /z/ thấp hơn tần số F1 và F2 của nguyên âm /a/.

     Xát đầu lưỡi – ngạc

Hình 12. Ảnh phổ của phụ âm [ʂ] trong từ sa, [ʐ] trong từ ra.

     Quan sát kỹ, chúng ta sẽ thấy phổ của phụ âm /ʂ/ tập trung (vệt đậm) ở mức 4 kHz, còn phổ của phụ âm /s/ tập trung ở mức 8 kHz. Chiều hướng tập trung năng lượng sẽ giảm dần theo vị trí cấu âm từ môi đến thanh hầu.

     Xát gốc lưỡi

Hình 13. Ảnh phổ của phụ âm [χ] trong từ kha, [ɣ] trong từ ga.

     Phụ âm /χ/ có điểm gần giống với phụ âm bật hơi, kèm thêm nét tiền formant khá nhạt. Đối với âm /ɣ/ thì tiền formant hiện rõ hơn (Hình 13)

     Xát thanh hầu

Hình 14. Ảnh phổ của phụ âm [h] trong từ ha

     Âm [h] có vệt phổ rất yếu (Hình 14).

     Bảng 5. Tương ứng vị trí cấu âm với một số thông số của phụ âm xát

Môi răng

Đầu lưỡi răng

Đầu lưỡi ngạc

Cuối lưỡi

Thanh hầu

f

v

s

z

ʂ

ʐ

χ

ɣ

h

Cường độ (dB)

56

65

47

67

60

55

55

58

54

Centre ofgravity (Hz)

93

164

902

181

2004

292

404

157

346

Dispersion (Hz)

329

181

2393

162

1864

761

1131

139

855

Trường độ

0,055

0,105

0,102

0,195

0,182

0,082

0,209

0,145

0,082

     Bảng 5 cho kết quả về sự tập trung (Centre of gravity) và độ lệch chuẩn (Dispersion) của phổ phụ âm xát. Phổ hình có tỉ lệ Dispersion đối với Centre of gravity lớn thì đó là phổ loãng, ngược lại là phổ đặc. Ví dụ như: phổ hình của âm /f/ là phổ loãng, phổ hình của âm /ʂ/ là phổ đặc. Các phụ âm xát, vô thanh thường có phổ loãng, trừ phụ âm [ʂ]. Hầu hết các phụ âm xát, hữu thanh có phổ đặc, trừ phụ âm [ʐ].

     Điểm nổi bật nhất của phụ âm xát ở việc xuất hiện với tần số cao và tuỳ thuộc vào vị trí cấu âm.

     3.5 Phụ âm mũi

     Điểm bắt đầu và kết thúc của âm mũi có thể dễ dàng nhận ra bởi ảnh phổ gián đoạn đột ngột, điều này lệ thuộc vào sự kết hợp hạ thấp hay nâng cao ngạc mềm và đóng hoặc mở khoang miệng ở điểm khởi đầu hoặc kết thúc của âm mũi (Stevens, 1985, 2002) [19, 20]. Trong tiếng Anh và nhiều ngôn ngữ, sự gián đoạn đột ngột này đánh dấu phụ âm đầu mũi hơn là phụ âm cuối mũi (e.g., Repp & Svastikula, 1988; Redford and Diehl, 1999) [22, 23].

     Phụ âm mũi gồm thanh âm (voice bar) và các anti-formant (formant có màu nhạt hơn formant nguyên âm). Phụ âm mũi cũng được thể hiện qua dải sóng âm tuần hoàn.Vị trí của âm mũi được xác định nhờ các formant và sóng âm của nguyên âm lân cận. Trong Praat, chúng ta có thể xác định được ranh giới của phụ âm mũi bằng cách kiểm tra đoạn tiếp nối giữa sóng âm của âm mũi với sóng âm của phụ âm như sau:

Hình 15. Đồ thị sóng âm của âm mũi [m]

     Trong hình trên (Hình 15), vị trí diễn ra sự thay đổi chu kỳ dao động sóng âm chính là ranh giới của phụ âm mũi /m/ với nguyên âm /a/. Các âm mũi /m, n, ɲ, ŋ/ có formant tương tự formant các nguyên âm. 

     Các formant âm mũi nhạt hơn của nguyên âm và được gọi là tiền formant (anti- formant). Trên ảnh phổ, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra sự đứt quãng giữa formant của âm mũi và các formant của nguyên âm lân cận. Toàn bộ biên độ của âm mũi đều thấp và năng lượng tập trung chủ yếu ở dãy tần số thấp. Phụ âm mũi giống với phụ âm tắc ở sự dịch chuyển formant.

Hình 16. Ảnh phổ của phụ âm mũi [m], [n] trong từ ma, na

     Ảnh phổ chuyển hoá phụ âm [m] cho thấy F1 và F2 đều hạ thấp, còn sự chuyển hoá formant của âm [n] cho thấy F1 cần bằngtrong khi F2 hạ thấp (Hình 16). Điểm chung của cặp âm môi [m, n] là hướng của F2 đi xuống.

Hình 17. Ảnh phổ của phụ âm [ɲ] trong từ nha, [ŋ] trong từ nga

     Cặp âm mũi [ɲ, ŋ] có điểm chùng là F2 đều hướng lên (Hình 17). Tuy vậy, vẫn có sự khác biệt ở F3. Đối với âm [ɲ], F3 hướng lên, còn âm [ŋ] có F3 hạ thấp. F3 được biết đến như một đường formant tiêu biểu cho nét tròn môi của nguyên âm.

     Xét ở sự chuyển hoá formant phụ âm, khi phần cuối lưỡi nâng lên để tạo âm mũi có vị trí cấu âm cuối lưỡi thì F3 buộc phải hạ thấp. Có thể nói, vị trí cấu âm của phụ âm mũi càng lùi vào trong thì chỉ số F2 của formant chuyển hoá càng tăng cao.

     Bảng 6. Liệt kê F1 và các tiền formant của phụ âm mũi

[m] [n] [ɲ] [ŋ] F1 440 429 294301 Tiền formant A1 A2 A3 23410702334 24414862566 30121143041 1869332496

     Trong bảng trên (bảng 6), A1 là tiền formant của F1, A2 là tiền formant của F2 và A3 là tiền formant của F3. Qua bảng thống kê trên, các tiền formant của âm mũi [m, n, ɲ] sẽ tăng dần theo vị trí cấu âm từ môi đến mặt lưỡi. Ngược lại, âm cuối lưỡi [ŋ] có chỉ số các tiền formant thấp đồng loạt A2 và A3 tăng cao ở phụ âm [ɲ] và thấp nhất ở phụ âm [m].

     3.6 Phụ âm bên

     Bảng 7. So sánh chỉ số âm học của phụ âm bên [l] với nguyên âm [a].

Formants 1a F1 F2F3 364 1512 2512 775 1683 2505

     Trong bảng 7, các formant F1 và F2 của phụ âm [l] đều thấp hơn formant F1, F2 của nguyên âm [a]. Tuy vậy, formant F3 của âm [l] lại xấp xỉ với nguyên âm [a].

Hình 18. Ảnh phổ của phụ âm [l] trong từ la

     Sau khi khảo sát đặc điểm âm học của phụ âm [l] khi đứng trước các nguyên âm khác (Hình 18), chúng tôi có nhận định, F1 của [l] khoảng 200 – 400 Hz, F1 hướng lên trước hầu hết các nguyên âm ngoại trừ nguyên âm hàng trước [i]. F2 khoảng từ 800 đến 2400 Hz, thấp nhất khi đứng trước nguyên âm hàng sau tròn môi [u]. F3 từ 2600 Hz đến 3200 Hz. Cường độ phụ âm [l] cao hơn so với các phụ âm khác từ 66 dB đến 75 dB.

4. KẾT LUẬN

     Các cứ liệu âm học về phụ âm giúp chúng ta có cái nhìn khoa học và cụ thể về các âm thanh phụ âm tiếng Việt. Tuỳ vào phương thức và vị trí cấu âm mà phần mềm Praat sẽ có các thông số và cách đo đạc hợp lí. Các phụ âm hữu thanh sẽ có voice bar còn phụ âm vô thanh thì không có voice bar. Phụ âm xát luôn có tần số cao hơn phụ âm tắc. Dựa vào hình dạng ảnh phổ của một phụ âm, chúng ta có thể xác định được vị trí cấu âm của phụ âm đó. Nét âm học của phụ âm mũi và phụ âm bên gần giống với nét âm học của nguyên âm bởi vì khi cấu tạo các phụ âm này, dây thanh rung nhiều hơn.

     Bên trên là những ghi nhận ban đầu về đặc trưng âm học của phụ âm đầu trong tiếng Việt. Cần thêm nhiều công trình nghiên cứu về âm học để góp phần làm sáng tỏ nét âm học của phụ âm tiếng Việt.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]R.-K. POTTER, G. Kopp, and G. H, Visible Speech. New York: Dover Publications, 1947.

[2]G. Fant, Speech sounds and features. Cambridge, MA: MIT Press, 1973.

[3]I. Lehiste and G. E. Peterson, “Transitions, glides, and diphthongs,” The journal of the acoustical society of America, vol. 33, no. 3, pp. 268-277, 1961.

[4]S. E. G. Öhman, “Coarticulation in VCV utterances: Spectrographicmeasurements,” Journal of the AcousticalSociety of America, vol. 39, pp. 151-168, 1966.

[5]S. Cassidy and J. Harrington, “The place of articulation distinction in voiced oral stops: evidence from burst spectra and formant transitions,” Phonetica, vol. 52, no. 4, pp. 263-284, 1995.

[6]G. Modarresi, H. Sussman, B. Lindblom, and E. Burlingame, “Locus equation encoding of stop place: Revisiting the voicing/VOT issue,” Journal of Phonetics, vol. 33, pp. 101-113, 2005.

[7]H. M. Sussman, D. Fruchter, and A. Cable, “Locus equations derived from compensatory articulation,” The Journal of the Acoustical Society of America, vol. 97, no. 5, pp. 3112-3124, 1995.

[8]H. M. Sussman, K. A. Hoemeke, and F. S. Ahmed, “A cross‐linguistic investigation of locus equations as a phonetic descriptor for place of articulation,” The Journal of the Acoustical Society of America, vol. 94, no. 3, pp. 1256-1268, 1993.

[9]K. Forrest, G. Weismer, P. Milenkovic, and R. N. Dougall, “Statistical analysis of word-initial voiceless obstruents: Preliminary data,” Journal of the Acoustical Society of America, vol. 84, pp. 115-124, 1988.

[10] A. R. Jongman, S. Wayland, and S. Wong, “Acoustic characteristics of English fricatives,” Journal of the Acoustical Society of America, vol. 108, pp. 1252-1263, 2000.

[11] M. Tabain, “Variability in fricative production and spectra: Implications for the hyper-and hypo-and quantal theories of speech production,” Language speech, vol. 44, no. 1, pp. 57-93, 2001.

[12] G. Fant, “Acoustic theory of speech production,” ed: The Hague Mouton, 1960.

[13] K. N. Stevens, Acoustic Phonetics. Cambridge, MA: MIT Press, 1998.

[14] E. Fischer-Jørgensen, “Acoustic analysis of stop consonants,” Miscellanea Phonetica, vol. 2, pp. 42-59, 1954.

[15] R. Smits, L. T. Bosch, and R. Collier, “Evaluation of various sets of acoustic cues for the perception of prevocalic stop consonants, I: Perception experiment,” The Journal of the Acoustical Society of America, vol. 100, no. 6, pp. 3852-3864, 1996a.

[16] S. E. Blumstein and K. N. Stevens, “Acoustic invariance in speech production: Evidence from measurements of the spectral characteristics of stop consonants,” The Journal of the Acoustical Society of America, vol. 66, no. 4, pp. 1001-1017, 1979.

[17] S. E. Blumstein and K. N. Stevens, “Perceptual invariance and onset spectra for stop consonants in different vowel environments,” The Journal of the Acoustical Society of America, vol. 67, no. 2, pp. 648-662, 1980.

[18]J. L. Flanagan, Speech synthesis, analysis and perception. New York: Springer-Verlag, 1972.

[19] K. N. Stevens, “Evidence for the role of acoustic boundaries in the perception of speech sounds,” in Phonetic Linguistics, V. A. Fromkin, Ed. New York: AcademicPress, 1985, pp. 243-255.

[20] K. N. Stevens, “Toward a model for lexical access based on acoustic landmarks and distinctive features,” The Journal of the Acoustical Society of America, vol. 111, no. 4, pp. 1872-1891, 2002.

[21]J. Hajek, Universals of Sound Change in Nasalization. Oxford: Blackwell, 1997.

[22] M. Redford and R. Diehl, “The relative perceptual distinctiveness of initial and final consonants in CVC syllables,” Journal of the Acoustical Society of America, vol. 106, pp. 1555-1565, 1999.

[23] B. H. Repp and K. Svastikula, “Perception of the [m]–[n] distinction in VC syllables,” Journal of the Acoustical Society of America, vol. 83, pp. 237-247, 1988.

[24] P. Boersma and D. Weenink, “Praat: doing phonetics by computer (Version 5.3. 23) http://www. praat. org,” ed: Accessed, 2012.

[25] L. Lisker and A. S. Abramson, “A cross-language study of voicing in initial stops: Acoustical measurements,” Word, vol. 20, no. 3, pp. 384-422, 1964.

[26] S. D. Soli, “Second formants in fricatives: Acoustic consequences of fricative‐vowel coarticulation,” The Journal of the Acoustical Society of America, vol. 70, no. 4, pp. 976-984, 1981.

[27] D. Kewley-Port, “Measurement of formant transitions in naturally produced stop consonant-vowel syllables”, Journal of the Acoustical Society of America, vol. 72, no. 2,pp. 379-389, 1982.

[28] H. M. Sussman, “Thephonological reality of locus equations across manner class distinctions: Preliminary observations”, Phonetica, vol. 51, pp. 119–31, 1994.

Tài liệu từ website:

[29]Cox’s acoustics website: http://clas.mq.edu.au/speech/acoustics/consonants/approxweb.html

[30]Prof Stonham’s lecture notes:http://stonham.dyndns.org/phonetics/handouts/eng_obs_hndt.pdf

[31] http://en.wikipedia.org/wiki/Voice_onset_time

[32] ww.ling.ohio-state.edu/~swinters/371/VOTdifferences.pdf

[33]http://www.lel.ed.ac.uk/~jkirby/hanoi/slides/lecture15-hanoi-4up.pdf

[34] http://home.cc.umanitoba.ca/~krussll/phonetics/acoustic/spectrogram-sounds.html

[35]http://ec-concord.ied.edu.hk/phonetics_and_phonology/wordpress/learning_website/chapter_3_consonants_new.htm

[36] http://www.phon.ox.ac.uk/jcoleman/consonant_acoustics.htm

[37] http://www.cog.jhu.edu/courses/325-f2004/ladefoged/course/chapter8/figure8.html.

xx x

Acoustic properties of Vietnamese initial consonants

Nguyen Tran Quy(University of Social Sciences and Humanities, VNU-HCM, Viet Nam)

ABSTRACT

     In acoustic phonetic research, phonetic data is needed to prove authenticity. The acoustic phonetic analysis method is valid for verifying previous phonetic hypotheses. Thereby, lay the foundations of science to reinforce the notion of phonetic or phonetic study. The formant frequencies F1, F2, F3 are considered as the basis for measuring vowels. According to consonants, the length of VOT, formant transitions, antiformants, and locus frequencies will be noted. In this article, we present the basis to measure Vietnamese initial consonants such as: voiced consonants, voiceless consonants, stop consonants, fricative consonants, nasal consonants. The voiced consonants will have a voice bar and voiceless consonants will have no voice bar. Fricative consonants always have higher frequencies than stop consonants. Based on the spectral image of a consonant, we can determine the articulation of consonants. The acoustic properties of the nasal consonant and lateral consonant are nearly identical to the acoustic properties of the vowels, because in the construction of these consonants, the vocal cords are more vibrating.

     Index Terms: voice onset time (VOT), formant transition, burst, anti-formant, locus frequency, spectrogram, silence, length.

Nguồn: Tạp chí Phát Triển Khoa Học & Công Nghệ: 75 chuyên san Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, tập 1, số 4, 2017

Ảnh đại diện: Ban Tu Thư chúng tôi thiết lập.Ảnh chỉ mang tính chất tô điểm. Tone màu ảnh: NocturnalBan Tu Thư (https://vietnamhoc.net)

(Visited 1.058 times, 1 visits today)

Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm Trong Tiếng Việt Học Sinh Cần Lưu Ý

– Nhóm thứ nhất: Các biện pháp tu từ ngữ âm bao gồm: hài thanh, tượng thanh, điệp phụ âm đầu, điệp vần, điệp thanh…

– Nhóm thứ hai: Là các biện pháp tut từ từ vựng – ngữ nghĩa: so sánh tu từ, ẩn dụ tu từ, nhân hóa, hoán dụ tu từ, phúng dụ, tượng trưng, đột giáng, chơi chữ…

– Nhóm thứ ba: Các biện pháp tu từ cú pháp: điệp ngữ, đảo ngữ, câu hỏi tu từ, im lặng…

Lý thuyết về một số phép tu từ ngữ âm

Khái niệm: Một số phép tu từ ngữ âm là các phương tiện ngữ âm (âm vị, âm tiết) được xem là những đơn vị mang tính một mặt – khách với những đơn vị mang tính hai mặt (hình vị, từ, câu). Là vỏ âm thanh – cơ sở vật chất để biểu đạt ý nghĩa nào đó của ngôn ngữ. Vì đặc điểm đó mà bản thân các ngữ âm phương tiện ngữ âm chưa thể hiện rõ màu sắc tu từ.

Đôi nét về hệ thống âm tiết tiếng Việt

Trong một số phép tu từ ngữ âm của tiếng Việt thì không thể thiếu các yếu tố như: Hệ thống thanh điệu, hệ thống nguyên âm, hệ thống phụ âm. Chi tiết hơn như sau:

* Hệ thống thanh điệu:

Giá trị của độ cao thể hiện ở trên hai mặt đối lập: độ cao (âm vực) và âm điệu, có thể lấy một vài ví dụ như sau để làm rõ

+ Về độ cao (âm vực):

Bống = ngang – ngã – sắc

Trầm = huyền – hỏi – nặng

+ Về âm điệu:

Bằng (không gãy) = ngang – huyền

Trắc (gãy) = sắc – nặng – hỏi – ngã

Sự đối lập giữa âm vực và âm điệu giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong sáng tác thơ văn, có thể thấy, trong các thể thơ của Việt Nam, những sự đối lập nêu trên của thanh điệu đã chi phối ảnh hưởng và hầu như tất cả vào yếu tố vận luật.

* Hệ thống nguyên âm:

Trong tiếng Việt, nguyên âm bao giờ cũng là hạt nhân chính của âm tiết, do đó không bao giờ vắng mặt ở âm tiết. Các nguyên âm tiếng Việt có hai mặt đối lập:

– Đối lập về âm vực:

+ Loại bổng: gồm các nguyên âm hàng trước không tròn môi khi đọc đó là: i, e, ê, iê

+ Loại trầm: Gồm các nguyên âm hàng sau tròn môi khi đọc là: u, ô, o, uô ( Các nguyên âm hàng giữa: ư, ơ, â, a, ă, ươ là loại trầm vừa hoặc tính trung hòa)

– Đối lập về âm lượng:

Dựa theo độ mở của miệng dễ dàng nhận thấy có hai mặt đối lập

+ Bậc lớn (sáng) gồm nguyên âm rộng, hơi rộng là: e, a, ă, o.

+ Bậc nhỏ (tối) gồm các nguyên âm hẹp là: I, ư, u

(Các nguyên âm hơi hẹp là những nguyên âm trung hòa về lượng)

* Hệ thống phụ âm:

Các phụ âm tiếng việt không làm thành một hệ thống có những thể đối lập rõ rệt như hệ thống nguyên âm. Tuy vậy, nó cùng với phần vần tạo nên một sức gợi tả nhất định, các nhà thơ thường dùng biện pháp phụ âm đầu để tạo nên biểu tượng về một sức mạnh.

Giá trị gợi cảm của âm thanh là một nội dung khách quan, tùy thuộc tồn tại vào phẩm chất ngữ âm của từng ngôn ngữ. Hiệu quả gợi cảm của âm thanh đối với nội dung biểu đạt phong phú, tinh tế đến mức nào là phụ thuộc vào khả năng vận động của người nói. Bên cạnh đó một số biện pháp tu từ ngữ âm trong tiếng Việt cũng đem lại những giá trị gợi cảm rất riêng biệt của tiếng Việt khi đưa ra những cách diễn đạt vô cùng uyển chuyển.

Có thể nói rằng, về mặt từ vựng học, ngữ âm học của tiếng Việt đều đã phân loại rõ ràng cũng như thể hiện đặc trưng cấu tạo từ và âm thanh của mỗi loại biểu đạt, thể hiện từ ngôn ngữ.

Một số biện pháp tu từ ngữ âm trong Việt chính là phương thức diễn đạt vô cùng tinh tế đem đến cho con người những cảm nhận phong phú, đa dạng một cách vô cùng uyển chuyển, linh hoạt và đầy tính nghệ thuật. Việc hiểu và nắm bắt những biện pháp tu từ ngữ âm này đều nằm trong các chương trình học phổ thông trung học. Tuy vậy, chắc chắn một điều rằng, có rất nhiều em học sinh không hiểu rõ thế nào là tu từ ngữ âm cũng như bản chất của nó. Các bậc phụ huynh có thể tìm người kèm cặp để phụ đạo thêm cho các em học sinh hoàn thiện những kỹ năng cơ bản một cách chi tiết hơn. Gia sư Hà Nội chúng tôi luôn có đội ngũ gia sư môn văn chất lượng và tận tâm giúp các em học sinh củng cố lại kiến thức căn bản và giúp các em có cái nhìn tổng quát hơn về các môn học, đặc biệt là môn Văn

Ưu Điểm Và Hạn Chế Của Máy Siêu Âm Trong Chẩn Đoán Hình Ảnh

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Tôn Nữ Trà My – Khoa Chẩn đoán hình ảnh – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park.

Siêu âm là phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện đại được thực hiện trong các khâu thăm khám, chẩn đoán, phục vụ công tác điều trị bệnh tại các cơ sở y tế, bệnh viện. Vì thế, hiện nay có nhiều loại máy siêu âm ra đời để đáp ứng nhu cầu đó. Bên cạnh những ưu điểm siêu âm thì cũng tồn tại những mặt hạn chế siêu âm nhất định.

1. Những ưu điểm của máy siêu âm trong chẩn đoán hình ảnh

Siêu âm là một phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn giúp cho các bác sĩ có thể chẩn đoán và điều trị bệnh. Siêu âm quy ước tạo ra những hình ảnh các lát cắt mỏng và phẳng của cơ thể. Những tiến bộ trong kỹ thuật siêu âm hiện đại ngày nay, bao gồm siêu âm 3 chiều (siêu âm 3D) có khả năng tái tạo lại dữ liệu thu nhận được từ sóng âm thành hình ảnh 3 chiều. Siêu âm 4 chiều (siêu âm 4D) là siêu âm 3 chiều có ghi nhận sự chuyển động. Theo đó, một số ưu điểm của máy siêu âm có thể kể đến như:

Giúp các bác sĩ thực hiện thăm khám các bệnh lý như: u, viêm, dị dạng,… tại nhiều vị trí trên cơ thể như ổ bụng, tiểu khung, gan, mật, thận, vú, cổ, tử cung, thai nhi

Siêu âm có thể đánh giá được sự phát triển của thai nhi, đặc biệt với siêu âm 3D, 4D, các bác sĩ có thể đánh giá được các dị tật về hình thái của thai nhi từ sớm.

Siêu âm đánh giá được kích thước và vị trí của sỏi như sỏi thận, sỏi bàng quang, sỏi niệu đạo…

Siêu âm là phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn, không gây đau, có thể kiểm tra nhiều lần không gây tổn hại đến người sử dụng.

Siêu âm sử dụng sóng siêu âm, không dùng tia phóng xạ ion hóa như chụp X-quang, nên không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của thai nhi.

Siêu âm có tác dụng to lớn trong sản khoa, đối với siêu âm 4D có thể giúp bậc cha mẹ thấy được mặt mũi con khi còn trong bào thai.

Những hình ảnh được máy siêu âm cung cấp trong thời gian thực giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh lý chính xác, hiệu quả.

2. Những hạn chế của máy siêu âm

Bên cạnh những ưu điểm siêu âm thì phương pháp chẩn đoán hình ảnh này cũng có những hạn chế nhất định. Cụ thể:

Siêu âm không thể chẩn đoán chính xác cho ruột và những bộ phận bị ruột che khuất do sóng âm bị cản trở bởi không khí và hơi. Lúc này các phương pháp như CT scan và MRI có thể được các bác sĩ cân nhắc.

Siêu âm không thể truyền qua được không khí. Do đó, các bộ phận như dạ dày, tụy, động mạch chủ thường cần kết hợp với các phương pháp hình ảnh khác để chẩn đoán.

Với siêu âm bác sĩ chỉ thấy được bề mặt ngoài của xương, không thể nhìn thấy bên trong xương.

Ngoài ra, siêu âm còn hạn chế khảo sát ở người thừa cân béo phì,

3. Các bước thực hiện siêu âm

Để siêu âm cho kết quả chẩn đoán chính xác nhất thì người bệnh cần nghiêm túc thực hiện theo chỉ dẫn của các bác sĩ siêu âm. Theo đó, các bước siêu âm được thực hiện với quy trình như sau:

Bước 1. Chuẩn bị bệnh nhân

Người bệnh nên mặc đồ thoải mái, quần áo rộng rãi khi đi siêu âm. Trong một số trường hợp bác sĩ có thể chỉ định người bệnh cởi bỏ quần áo, trang sức trong các vị trí cơ thể cần khám xét. Một số thủ thuật có thể yêu cầu người bệnh mặc áo choàng để tiện cho việc thăm khám.

Ngoài ra, những sự chuẩn bị khác sẽ tùy thuộc vào người bệnh sẽ thực hiện siêu âm gì, ví dụ có những loại siêu âm yêu cầu người bệnh nhịn ăn trước đó 6-8 giờ, hoặc một số loại siêu âm có thể yêu cầu người bệnh uống một vài ly nước trong vòng 2 giờ, đồng thời nhịn đi tiểu để bàng quang chứa đầy nước khi khám.

Bước 2. Cách thực hiện một ca siêu âm

Trong hầu hết các cuộc khám siêu âm, bệnh nhân sẽ được yêu cầu nằm ngửa trên bàn khám. Bác sĩ sẽ sử dụng một chất gel trong suốt, vô trùng và bôi lên phần cơ thể, hạn chế không khí chen vào giữa đầu dò và da bệnh nhân. Sau đó bác sĩ siêu âm sẽ ấn đầu dò vào da bệnh nhân và quét về phía sau, ra trước trên những vùng cơ thể được khám.

Thông thường, các bác sĩ siêu âm có thể chẩn đoán bệnh dựa trên các hình ảnh siêu âm ngay trong thời gian thực hiện và bệnh nhân có thể nhận kết quả ra về ngay sau đó.

Trong một số kiểu siêu âm, đầu dò sẽ được đưa vào các lỗ tự nhiên của cơ thể. Những khảo sát này bao gồm:

Siêu âm tim qua ngả thực quản: Đầu dò sẽ được đưa vào thực quản để khảo sát hình ảnh của tim.

Siêu âm qua ngả trực tràng: đầu dò sẽ được đưa vào trực tràng của bệnh nhân nam để quan sát tiền liệt tuyến.

Siêu âm qua ngả âm đạo: đầu dò sẽ được đưa và âm đạo của bệnh nhân nữ để quan sát tử cung và buồng trứng. Quy trình này chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của bệnh nhân. Bệnh nhân đã có gia đình hoặc bệnh nhân đã quan hệ tình dục

Hầu hết siêu âm được thực hiện trong khoảng từ 10 phút đến 30 phút.

Siêu âm là một trong những phương pháp chẩn đoán hình ảnh hữu hiệu giúp bác sĩ chẩn đoán, xác định giai đoạn bệnh để có phác đồ điều trị hiệu quả. Ngoài ra, siêu âm còn mang lại rất nhiều ứng dụng khác như siêu âm trị liệu hay siêu âm thai kỳ để theo dõi sự phát triển của thai nhi. Bên cạnh một số ưu điểm thì siêu âm cũng có một số hạn chế nhất định. Vì thế việc lựa chọn cơ sở y tế uy tín, có hệ thống trang thiết bị y tế hiện đại là rất cần thiết.

Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec sử dụng các thế hệ máy siêu âm màu hiện đại nhất hiện nay trong thăm khám và điều trị cho bệnh nhân. Một trong số đó là máy siêu âm Logig E9 của GE Healthcar có đầy đủ options, các đầu dò có độ phân giải HD cho hình ảnh rõ nét, đánh giá chính xác tổn thương. Bên cạnh đó, đội ngũ các y, bác sĩ giàu kinh nghiệm sẽ hỗ trợ phần nhiều trong việc chẩn đoán và phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường của cơ thể nhằm đưa ra phương pháp điều trị kịp thời.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 12 Nắm Vững Trọng Âm Từ Trong Tiếng Anh

Phát handouts về qui tắc đánh dấu trọng âm

1. Đa số các danh từ và tính từ 2 âm tiết thì trọng âm chính nhấn vào âm tiết thứ nhất.

Example : ‘mountain ‘evening ‘butcher ‘carpet ‘busy ‘village ‘summer ‘birthday ‘porter ‘pretty ‘morning ‘winter ‘beggar ‘table ‘handsome .

Ngoại trừ : ma’chine mis’take , ho’tel, re’spone .

MỤC LỤC Trang PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ..................................................................................3 I. Lý do chọn đề tài.......................................................................................3 Cơ sở lý luận.........................................................................................3 Cơ sở thực tiễn.......................................................................................3 II. Mục đích chuyên đề................................................................................3 III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu....................................................... .4 IV. Kế hoạch thực hiện.................................................................. ........... 4 PHẦN 2. NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ.............................................................. 5 I. Nội dung lý luận.................................................................................... ..5 1. Trọng âm là gì?...................................................................................... 5 2. Vì sao cần nắm vững trọng âm?.............................................................5 3. Học trọng âm như thế nào?.................................................................. ..5 II. Thực trạng vấn đề nghiên cứu................................................................6 Khảo sát thứ nhất................................................................................ ..6 Khảo sát thứ hai.................................................................................. ..6 III. Những biện pháp đã thực hiện........................................................... ..7 Trong các giờ học Tiếng Anh ......................................................................7 Phát handouts về qui tắc đánh dấu trọng âm ...........................................7,8,9 10 Bài tập thực hành.10,11 IV. Kết quả thực hiện có so sánh đối chứng...............................................12 PHẦN 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................13 I. Những đánh giá cơ bản về chuyên đề....................................................13 II. Các đề xuất và kiến nghị...........................................................................13 PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI : Cơ sở lý luận: Trọng âm là chìa khoá kỳ diệu để hiểu được tiếng Anh .Những người bản xứ sử dụng trọng âm rất tự nhiên, đến mức thậm chí bản thân họ cũng không biết là mình đang dùng chúng. Người học tiếng Anh, trong đó có người Việt Nam, nếu không phát âm đúng trọng âm, khi giao tiếp bằng tiếng Anh với người bản xứ, thường gặp phải 2 vấn đề sau: Rất khó để hiểu người ta đang nói gì, đặc biệt là người nước ngoài nói rất nhanh,và ngược lại, người nước ngoài đó cũng cảm thấy rất khó để hiểu mình. Tiếng Anh hiện nay đang được dạy theo đường hướng giao tiếp và đường hướng lấy người học làm trung tâm. Để có thể giao tiếp được bằng Tiếng Anh, học sinh phải sử dụng được hai kỹ năng nghe và nói tốt. Vậy giáo viên và học sinh phải làm gì để đạt được mục tiêu này? Điều này đòi hỏi nhiều yếu tố, trong đó giúp học sinh nắm vững được trọng âm các từ trong Tiếng Anh là rất quan trọng. 2. Cơ sở thực tiễn: Từ thực tế giảng dạy Tiếng Anh nhiều năm, tôi nhận thấy rằng các kiến thức về trọng âm Tiếng Anh chưa được trú trọng, đi sâu trong chương trình THPT. Học sinh chỉ nghe qua đài hoặc giáo viên và nhắc lại cho đúng một số từ cho sẵn. Nội dung về trọng âm Tiếng Anh 12 chỉ được giới thiệu ở phần Language focus của các bài là Unit 3, Unit 4 và Unit 5 lớp 12. Học sinh chỉ được nghe băng về cách đọc trọng âm một số từ và sau đó nhắc lại. Tuy nhiên, trong các bài kiểm tra và các đề thi tốt nghiệp THPT hoặc thi tuyển sinh vào đại học, cao đẳng lại thường có phần câu hỏi về trọng âm. Qua kết quả các bài kiểm tra của học sinh, tôi nhận thấy học sinh thường làm đúng rất ít các câu hỏi thuộc phần kiến thức về trọng âm, hơn nữa học sinh có vẻ ngại làm về dạng bài tập này, đặc biệt hầu hết học sinh khi nói Tiếng Anh đều không chú ý đến trọng âm của các từ mà chỉ nói một cách đều đều, điều này làm giảm đi hiệu quả của việc sử dụng Tiếng Anh. II. MỤC ĐÍCH CỦA CHUYÊN ĐỀ: Từ các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nói trên, tôi đã quyết định thực hiện đề tài có tên gọi " Một số biện pháp giúp học sinh lớp 12 nắm vững trọng âm từ trong Tiếng Anh". Mục đích của đề tài này là: Thứ nhất: làm cho học sinh nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng đúng trọng âm Tiếng Anh để cải thiện kỹ năng giao tiếp của mình. Thứ hai: giúp học sinh giải quyết được phần câu hỏi về kiến thức trọng âm trong các bài kiểm tra hoặc các bài thi tốt ngiệp và đại học. III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: Đề tài này được nghiên cứu và thực hiện với học sinh lớp 12A2 trường THPT DTNT Vĩnh Phúc trong năm học 2015-2016. IV. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN: thời gian 5 tiết Dạy quy tắc về cách đánh trọng âm cho học sinh và có bài tập thực h ành PHẦN II. NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ I. NỘI DUNG LÝ LUẬN: 1. Trọng âm là gì? Theo Peter Roach trong " English phonetics and phonology", trọng âm của một từ là âm được phát âm nổi bật hơn so với các âm còn lại. Âm có trọng âm có ít nhất bốn đặc điểm khác biệt sau: Độ lớn (loudness): các âm tiết mang trọng âm được phát âm lớn hơn các âm tiết không mang trọng âm. Độ dài (length): các âm tiết mang trọng âm được kéo dài hơn khi phát âm hơn các âm tiết không mang trọng âm. Độ cao (pitch): các âm tiết mang trọng âm được phát âm ở độ cao hơn. Độ khác biệt (quality): các âm tiết mang trọng âm chứa đựng một nguyên âm khác biệt về chất với các nguyên âm trong các âm tiết không mang trọng âm còn lại. Ví dụ : canal [kə'næl] disagree [,disə'gri:] indication [,indi'kei∫n] Thông thường bốn yếu tố trên thường xuất hiện cùng nhau trong một âm có trọng âm. Tuy nhiên, đôi khi chỉ một hoặc hai yếu tố cũng làm nên trọng âm của một từ. Các yếu tố trên có tầm quan trọng không giống nhau, trong đó cao độ và trường độ là hai yếu tố quan trọng nhất, giúp người nghe dễ dàng nhận ra trọng âm của một từ. Âm có trọng âm được đọc nhấn hơn các âm khác khoảng nửa âm và đọc gần như âm kéo dài. 2. Vì sao cần nắm vững trọng âm? Trọng âm là một bộ phận cấu thành nên Tiếng Anh. Việc nắm vững trọng âm giúp người học tiếng gần hơn tới khả năng sử dụng Tiếng Anh một cách lưu loát, giúp cho quá trình giao tiếp diễn ra một cách tự nhiên hơn, tránh được những hiểu lầm và sai sót trong giao tiếp. Ngoài ra, với học sinh trung học phổ thông, việc thành thạo trong phát âm đúng trọng âm còn giúp các em làm đúng các câu hỏi về kiến thức trọng âm trong các bài kiểm tra, bài thi học kì, thi tốt nghiệp hoặc thi đại học. 3. Học trọng âm như thế nào? Giống như mọi kiến thức ngôn ngữ, trọng âm cũng có những quy tắc riêng của nó. Người học có thể tìm mua những cuốn sách viết về trọng âm và học theo các quy tắc trong đó. Với các quy tắc cố định, người học chỉ cần học thuộc lòng và làm thật nhiều bài tập. Tuy nhiên các quy tắc đều có ngoại lệ. Người học cần chú ý hơn tới các ngoại lệ này. Ngoài ra, người học có thể học trọng âm bằng nhiều cách khác nhau như: học trong quá trình giao tiếp, học khi lắng nghe giáo viên giảng bài, nghe đĩa Tiếng Anh, hoặc bằng cách tra từ điển. Và chỉ có luyện tập thường xuyên mới giúp cho người học thành công trên con đường chinh phục ngôn ngữ. II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ Qua thăm dò ý kiến của nhiều đồng ngiệp và học sinh, đồng thời qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh khi học Tiếng Anh từ bậc trung học cơ sở đến hết lớp 11 của bậc THPT hầu như không được học về trọng âm Tiếng Anh. Hầu hết giáo viên không có thời gian hoặc không chú ý hướng dẫn cho học sinh về vấn đề này. Học sinh có thể biết về trọng âm khi xem phần ''Glossary'' ở cuối sách giáo khoa. Tuy nhiên rất nhiều học sinh không xem đến phần này hoặc có xem nhưng chỉ chú ý nghĩa của từ mà không để ý đến cách phát âm hay trọng âm của từ. Trước khi thực hiện đề tài, tôi đã thực hiện 2 khảo sát về sự hiểu biết về trọng âm của học sinh và thực trạng dạy học phần trọng âm. 1. Khảo sát thứ nhất: khảo sát về khả năng đánh dấu trọng âm Tiếng Anh của học sinh lớp 12A2 của trường THPT DTNT Vĩnh Phúc tôi đã phát cho mỗi học sinh một phiếu gồm 5 câu hỏi về trọng âm Tiếng Anh và yêu cầu các em làm trong vòng 5 phút. Phiếu câu hỏi có nội dung như sau: Choose the word whose stress pattern is different from that of the rest. a. hospital b. mischievous c. supportive d. special a. family b. whenever c. obedient d. solution a. biologist b. generally c. responsible d. security a. confident b. important c. together d. exciting a. possible b. university c. secondary d. suitable Kết quả số học sinh làm đúng số lượng câu hỏi ở lớp như sau ( có kèm theo tỉ lệ phần trăm): Lớp Sĩ số Đúng 5 câu Đúng 4 câu Đúng 3 câu Đúng 2 câu Đúng 1 câu Sai 5câu 12A2 30 7hs 23% 4 hs 13 % 4 hs 13 % 3 hs 10 % 2hs 6,7% 10 hs 33 % Từ kết quả trên có thể thấy rằng chỉ khoảng 50% học sinh đạt mức trung bình trở lên với phần kiến thức về trọng âm và khoảng 33% học sinh không làm đúng câu hỏi nào về trọng âm. 2. Khảo sát thứ hai: Tôi đã dự giờ một số tiết dạy của đồng nghiệp tại trường và thấy rằng giáo viên đã có nhắc tới trọng âm từ khi dạy từ mới nhưng không thường xuyên. Ở phần Language focus của Unit 3, Unit 4 và Unit 5 lớp 12, giáo viên chỉ cho học sinh nhắc lại những từ có trong sách giáo khoa, không có thêm bài tập về trọng âm, do thời lượng cho phần này là quá ít trong 45' trên lớp cho một tiết dạy. III. NHỮNG BIỆN PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN: Phát handouts về qui tắc đánh dấu trọng âm 1. Đa số các danh từ và tính từ 2 âm tiết thì trọng âm chính nhấn vào âm tiết thứ nhất. Example : 'mountain 'evening 'butcher 'carpet 'busy 'village 'summer 'birthday 'porter 'pretty 'morning 'winter 'beggar 'table 'handsome ..... Ngoại trừ : ma'chine mis'take , ho'tel, re'spone .............................. 2. Đa số các động từ 2 âm tiết thì trọng âm chính nhấn vào âm tiết thứ hai. Example: En'joy co'llect es'cape de'stroy en'joy re'peat A'llow re'lax Ex'plain for'get main'tain ..... Ngoại trừ: 'offer, 'happen , 'answer , 'enter , 'listen , 'open, 'study, 'follow, 'narrow, 'import , travel, 'courage .............. 3. Các từ 2 âm tiết bắt đầu bằng 'a' thì trọng âm thường nhấn vào âm tiết thứ hai as'sist, ac'cept, a'ttract, a'bout, a'bove, a'gain , a'lone, a'chieve, a'like, a'live, a'go , a'sleep a'broad , a'side , a'fraid..... Ngoại trừ: apple...... 4. Danh từ ghép thường có trọng âm chính nhấn vào âm tiết 1 Example: 'bedroom,'typewriter,airport,'dishwasher, 'bathroom,'sunrise, 'raincoat, 'bookshop,'footpath, 'airline, + động từ ghép có trọng âm chính nhấn vào từ thứ 2 under'stand, well - 'dressed ill - 'treated 5. Các từ kết thúc bằng các đuôi how, what, where, .... thì trọng âm chính nhấn vào vần 1 'anywhere 'somehow 'somewhere .... 6. Các từ tận cùng bằng các đuôi : - ety, - ity, - ion ,- sion, - cial,- ically, - ious, -eous, - ian, - ior, - iar, iasm - ience, - iency, - ient, - ier, - ic, - ics, -ial, -ical, -ible, -uous, ium, - logy, - sophy,- graphy - ular, - ulum - ish thì trọng âm nhấn vào âm tiết ngay trước nó : de'cision dic'tation libra'rian ex'perience 'premier so'ciety arti'ficial su'perior ef'ficiency re'public mathe'matics cou'rageous fa'miliar con'venient 'regular con'tinuous 'rubbish, 'finish pho'tography bi'ology phy'losophy, s'tadium Ngoại trừ: 'catholic ['kæθəlik] ( thiên chúa giáo), 'lunatic ['lu:nətik] 'arabic ['ærəbik] (ả rập) , 'politics ['pɔlətiks] (chính trị học) a'rithmetic [ə'riθmətik] (số học), 'television ['teliviʒn]....... 7. Các từ kết thúc bằng - ate, - cy, -ty, -phy, -gy nếu 2 vần thì trọng âm nhấn vào từ thứ 1. nếu 3 vần hoặc trên 3 vần thì trọng âm nhấn vào vần thứ 3 từ cuối lên 'Senate Com'municate 'regulate 'playmate cong'ratulate 'concentrate 'activate 'complicate, tech'nology, e`mergency, 'certainty 'biology phi'losophy Ngoại trừ: 'Accuracy, 'difficulty........ 8. Các từ tận cùng bằng các đuôi : - ade, - ee, - ese, - eer, - ette, - oo, -oon , - ain (chỉ động từ), -esque,- ique, -aire ,-mental, -ever, - self ,end thì trọng âm nhấn ở chính các đuôi này : Lemo'nade Chi'nese deg'ree pion'eer ciga'rette kanga'roo sa'loon Japa'nese pictur'esque un'ique engi'neer bam'boo ty'phoon ba'lloon Vietna'mese refu'gee guaran'tee ta'boo after'noon ty'phoon when'ever environ'mental my'self recom'mend compre'hend con'tain Ngoại trừ: 'coffee (cà phê), com'mitee (ủy ban)... 9. Các từ chỉ số lượng nhấn trọng âm ở từ cuối kết thúc bằng đuôi - teen ngược lại sẽ nhấn trọng âm ở từ đầu tiên nếu kết thúc bằng đuôi - y Thir'teen four'teen............ 'twenty , 'thirty , 'fifty ..... 10. Các tiền tố và hậu tố không bao giờ mang trọng âm, mà thường nhấn mạnh ở từ gốc Example: im'portant un im'portant 'perfect im 'perfect Re'spective ir re'spective en'joy en'joyable 'danger 'dangerous Ngoại trừ: 'Understatement: lời nói nhẹ đi (n) 'Underground:ngầm (adj) 11. Từ có 3 âm tiết: Trọng âm sẽ rơi vào âm tiết thứ nhất + Nếu âm tiết thứ 3 là nguyên âm dài hay nguyên âm đôi hay kết thúc bằng 2 phụ âm trở lên: exercise / 'eksəsaiz/, compromise/ ['kɔmprəmaiz] socialize ['sou∫əlaiz] , architect ['ɑ:kitekt] , attitude ['ætitju:d] , interview ['intəvju:] + Nếu âm tiết thứ 3 và âm tiết thứ 2 là âm tiết yếu Eg: emperor / `empərə/ cinema / `sinəmə/ `contrary `factory Trọng âm sẽ rơi vào âm tiết thứ hai Nếu âm tiết thứ 3 là âm tiết yếu (er, el, ow ) hoặc kết thúc bằng 1 phụ âm Eg: encounter [in'kauntə], determine /di't3:min/, potato /pə`teitəu/, disaster / di`za:stə/ Lưu ý: Đây chỉ là một số những quy tắc nhỏ được rút ra trong quá trình làm bài tập về trọng âm và những qui tắc này không phải là luôn luôn đúng mà còn có rất nhiều các trường hợp ngoại lệ, do vậy người học cần phải vận dụng một cách rất linh hoạt trong quá trình làm bài tập. Practical Exercise Choose the word that has a different stress pattern from the others. 1.a. hospital b. mischievous c. supportive d. special 2.a. family b. whenever c. obedient d. solution 4.a. biologist b. generally c. responsible d. security 5.a. confident b. important c. together d. exciting 6.a. possible b. university c. secondary d. suitable 7.a. partnership b. romantic c. actually d. attitude 8.a. believe b. marriage c. response d. maintain 9.a. summary b. different c. physical d. decision 10.a. attractiveness b. traditional c. generation d. American 11.a. certain b. couple c. decide d. equal 12.a. attract b. person c. signal d. instance 13.a. verbal b. suppose c. even d. either 14.a. example b. consider c. several d. attention 15.a. situation b. appropriate c. informality d. entertainment 16.a. across b. simply c. common d. brother 17.a. social b. meter c. notice d. begin 18.a. whistle b. table c. someone d. receive 19.a. discuss b. waving c. airport d. often 20.a. sentence b. pointing c. verbal d. attract 21.a. problem b. minute c. suppose d. dinner 22.a. noisy b. party c. social d. polite 23.a. restaurant b. assistance c. usually d. compliment 24.a. impolite b. exciting c. attention d. attracting 25.a. obvious b. probably c. finally d. approaching 26.a. waiter b. teacher c. slightly d. toward 27.a. general b. applicant c. usually d. October 28.a. parallel b. dependent c. educate d. primary 29.a. physical b. achievement c. government d. national 30.a. eleven b. history c. nursery d. different 31.a. expression b. easily c. depression d. disruptive 32.a. algebra b. musical c. politics d. apartment 33.a. mechanic b. chemistry c. cinema d. finally 34.a. typical b. favorite c. division d. organize 35.a. computer b. establish c. business d. remember 36.a. conference b. lecturer c. reference d. researcher 37.a. powerful b. interesting c. exciting d. difficult 38.a. memory b. exactly c. radio d. management 39.a. requirement b. condition c. example d. previous 40.a. library b. entertain c. understand d. referee 41.a. university b. application c. technology d. entertainment 42.a. mathematics b. engineering c. scientific d. laboratory 43.a. certificate b. necessary c. economy d. geography 44.a. interviewer b. preparation c. economics d. education 45.a. considerable b. information c. librarian d. technician 46.a. maximum b. decision c. requirement d. admission 47.a. institution b. university c. preferential d. indicative 48.a. available b. majority c. tutorial d. differently 49.a. graduation b. understanding c. international d. accommodation 50.a. interview b. impression c. company d. formally 51,a. stressful b. pressure c. prepare d. future 52.a. employment b. remember c. concentrate d. position 56.a. experience b. certificate c. interviewer d. enthusiasm 57.a. addition b. suitable c. shortcoming d. honestly 58.a. qualification b. disappointedly c. responsibility d. recommendation 59.a. answer b. question c. polite d. keenness 60.a. economic b. experience c. entertainment d. introduction IV. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÓ SO SÁNH ĐỐI CHỨNG: Để đánh giá kết quả của quá trình thực hiện đề tài và có sự so sánh, tôi đã tiến hành kiểm tra khả năng đánh dấu trọng âm và phát âm đúng ở lớp 12A2 (lớp được thực hiện đề tài ) Phiếu câu hỏi có nội dung như sau: Choose the word whose stress pattern is different from that of the rest. 1. attractiveness b. traditional c. generation d. American 2. a. certain b. couple c. decide d. equal 3. a. attract b. person c. signal d. instance 4. a. verbal b. suppose c. even d. either 5. a. example b. consider c. several d. attention Kết quả được thống kê ở bảng sau: _______THE END_______

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đặc Điểm Âm Học Của Phụ Âm Đầu Trong Tiếng Việt trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!