Đề Xuất 2/2023 # Chuyên Đề: Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Chưa Ngoan # Top 4 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Chuyên Đề: Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Chưa Ngoan # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Chuyên Đề: Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Chưa Ngoan mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1/ Lí do chọn đề tài:

*Như chúng ta đã biết, công cuộc đổi mới kinh tế xã hội đang diễn ra từng ngày, từng giờ trên khắp đất nước. Nó đòi hỏi phải có những lớp người lao động mới, có bản lĩnh, có năng lực, chủ động sáng tạo. Dám nghĩ dám làm thích ứng được với thực tiễn xã hội luôn thay đổi và phát triển. Nhu cầu này đòi hỏi ngành giáo dục phải có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình đất nước. Và thực sự ngành giáo dục đã từng bước thay đổi, thể hiện qua việc xác định mục đích giáo dục đào tạo, hay nói đúng hơn là phát triển toàn diện về nhân cách con người thể hiện qua hai mặt là : “Tài và Đức”.

Dù ở xã hội nào thì cái đức vẫn luôn được coi trọng vì: Cái đức là gốc, cái tài là sự biểu hiện của cái đức. Vì vậy việc giáo dục cái đức cho học sinh là một yêu cầu quan trọng, đang trở thành một vấn đề bức xúc mà xã hội quan tâm. Tình trạng này không chỉ xuất hiện ngoài xã hội mà còn len lỏi vào trong cả trường học. Biểu hiện rõ nhất là trong các lớp học vẫn còn có những học sinh chưa ngoan, yếu kém về đạo đức. Cũng chính vì sự chưa ngoan đó mà dẫn đến tình trạng học lực yếu, học lực kém, làm ảnh hưởng không ít đến những thành viên khác trong lớp học.

Là người làm công tác giáo dục có nhiệm vụ nâng đỡ và uốn nắn để giúp học sinh có sự phát triển đúng đắn về nhân cách, về đạo đức nhằm giúp các em có điều kiện gần gũi nhau, thường xuyên trao đổi động viên uốn nắn kịp thời tiến bộ qua từng ngày.

-Mặt khác trong những năm qua các mặt hoạt động Đội và phong trào Thanh thiếu nhi của Liên Đội Trường TH&THCS Sơn Lĩnh luôn đạt được những thành tích rất đáng ghi nhận. Bên cạnh việc đạt được thứ hạng cao trong các hội thi do Hội đồng Đội huyện và Hội đồng Đội xã tổ chức thì việc thực hiện nội qui, nề nếp của học sinh từng bước được thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn. Các em học sinh đã ngày càng ý thức hơn, chấp hành tốt hơn các nội qui, qui định của nhà trường cũng như Liên đội.

-Trong việc thực hiện các nề nếp, việc tham gia thực hiện các phong trào do Liên đội cũng như nhà trường phát động trong học sinh, nhà trường và Liên đội luôn quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh chưa ngoan từ những việc làm đơn giản như: Đi thưa về trình, biết chào hỏi lễ phép với ông bà, cha mẹ, với thầy cô và người lớn…

-Qua công tác giáo dục tư tưởng, tổ chức tổ chức các hoạt động theo chủ điểm như: Nhớ ơn thầy cô giáo, yêu quí mẹ và cô, giữ gìn văn hoá dân tộc…, Nhà trường và Liên đội thường xuyên tổ chức kiểm tra đánh giá tuyên dương-phê bình. Từng ngày các em sẽ ý thức được việc biết vâng lời ông bà, cha mẹ, thầy cô

-Tuy nhiên vẫn còn một số học sinh cá biệt, thiếu ý thức, thiếu sự quan tâm của cha mẹ, lại thường hay giao du với các phần tử xấu ngoài xã hội dẫn đến việc các em thiếu lễ phép với người lớn, không vâng lới thầy cô, cha mẹ…v..v. Nhằm khắc phục tình trạng trên tôi chọn đề tài: ” Tìm hiểu việc giáo dục đạo đức cho học sinh chưa ngoan” để nghiên cứu thực hiện trong năm học này.

2/Đối tượng nghiên cứu:

-Đội viên khối 4 và khối 5

-Hướng dẫn học sinh có thói quen đi thưa về trình, biết lễ phép với người lớn, biết vâng lời ông bà, cha mẹ, thầy cô. Không nói tục, chửi thề…

3/Phạm vi nghiên cứu:

-Vì đây là đề tài khá nhạy cảm, gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện, sử dụng các phương pháp nghiên cứu và được thực hiện lần đầu tiên tại đơn vị. Nên việc nghiên cứu đề tài ” Tìm hiểu việc giáo dục đạo đức cho học sinh chưa ngoan ” chỉ giới hạn trong phạm vi khối 5.

4/Phương pháp nghiên cứu:

-Phương pháp khảo sát-quan sát.

-Phương pháp kiểm tra-đánh giá.

-Phương pháp trò chuyện.

-Tổ chức các hoạt động thi đua, tuyên dương, khen thưởng.

a/Giáo dục là gì:

– Theo nghĩa rộng, giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài: Từ nhà trường, gia đình , xã hội, từ môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo.

b/Đạo đức là gì:

Đạo đức là một bộ phận của hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những qui tắc, nguyên tắc chuẩn mực xã hội. Nhờ đó con người tự giác điều chỉnh các hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, với hạnh phúc của bản thân của cộng đồng và sự tiến bộ xã hội trong mới quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội.

c/Thế nào là học sinh chưa ngoan và dấu hiệu của học sinh chưa ngoan:

-Học sinh chưa ngoan là hậu quả của sự phá vỡ những mối liên hệ bình thường của học sinh với gia đình, nhà trường và xã hội. Trong ngôn ngữ thường ngày trẻ chưa ngoan còn được gọi là trẻ ” khó dạy“, ” Chậm tiến”…

*Những dấu hiệu của học sinh chưa ngoan:

– Tính mâu thuẩn trong hành vi do những mâu thuẩn trong sự phát triển nhân cách tạo nên. Trí tuệ phát triển nhưng tình cảm hầu như không phát triển, hoặc ngược lại. Hay tầm hiểu biết rất hạn chế nhưng kinh nghiệm xấu trong cuộc sống hàng ngày lại phong phú.

– Thái độ xung đột kéo dài đối với những người xung quanh.

– Lập trường sống ít kỹ.

– Tính không ổn định của các hứng thú, nguyện vọng lúc thế này, lúc thế khác.

– Luôn chống đối các tác động giáo dục.

2/Cơ sở thực tiễn:

-Đối với học sinh trong quá trình hình thành thì trường học chính là nơi các em chính thức được học tập và rèn luyện một cách nghiêm túc nhất. Bước vào trường học mỗi học sinh được tạo ra cơ hội để tiếp thu giáo dục, ý thức đầy đủ về nghĩa vụ, trách nhiệm đối với toàn bộ các hoạt động học tập rèn luyện của mình.

-Trong môi trường, mới các em tiếp thu và hình thành các quan hệ xã hội đa dạng, nhất là với bạn bè xung quanh và được phát triển có định hướng rõ ràng. Song, bên cạnh đó các em hầu như chưa thật sự nổ lực, phấn đấu để trở thành người học sinh toàn diện, mà bên cạnh những cái hay, cái đẹp, vẫn còn tồn tại những cái xấu, cái chưa hoàn hảo. Hay nói cách khác học sinh khá giỏi về học lực, tốt về đạo đức rất nhiều nhưng học sinh yếu về học lực, có đạo đức chưa tốt vẫn còn. Hầu như các em có đạo đức không tốt là những học sinh có hành vi đạo đức xuất phát từ những động cơ xấu, không theo một chuẩn mực đạo đức nào.

-Như đã nói ở trên, những học sinh cá biệt chưa ngoan có tầm hiểu biết hạn chế nhưng kinh nghiệm ” xấu ” trong cuộc sống hàng ngày lại rất phong phú, có thái độ xung đột kéo dài đối với những người xung quanh, lập trường sống ít kỷ, luôn chống đối các tác động giáo dục. Các em thường lập thành một nhóm riêng không thích hoà đồng với mọi người, dửng dưng trước mọi hoạt động của lớp, của trường. Nhìn chung những học sinh này thường có những hành vi không tốt với mọi người như: Quậy phá, chọc ghẹo bạn bè, hổn hào với thầy cô, thích nghỉ học, không tuân theo nội qui của trường, của lớp, thậm chí đánh nhau với bạn bè…và còn rất nhiều những thói hư tật xấu khác.

-Theo tôi những hành động trên là những hành động có ý thức, nhưng do nhận thức bị sai lệch. Vì thế trách nhiệm của người thầy không kém

phần quan trọng, nên xem việc giáo dục đạo đức cho học sinh cá biệt chưa ngoan là công việc quan trọng. Muốn thực hiện tốt việc này đòi hỏi

người thầy phải kiên trì, bền bỉ, khéo léo để từng bước uốn nắn giúp đỡ cho các em trở thành một học sinh ngoan, có tư cách, có đạo đức tốt.

Vì vậy điểm tựa vững chắt nhất của các em là gia đình và nhà trường, trong đó đặc biệt quan trọng là giáo viên chủ nhiệm.

3/Nội dung vấn đề:

a/Vấn đề đặt ra: Những nguyên nhân dẫn đến học sinh chưa ngoan và tác hại.

*Nguyên nhân:

-Do tính hiếu động, sự lôi kéo của bạn bè xấu, sự thiếu quan tâm của gia đình, nhà trường và xã hội. Vô tình đã thu hút các em vào những việc làm không tốt, các em thường tỏ ra chai lì, không cảm thấy xấu hổ khi bị phê bình, có phản ứng gay gắt, không lành mạnh… Những học sinh này thường biện hộ cho hành vi sai lệch của mình. Các em thường lừa dối cha mẹ, thầy cô, các em thường đánh nhau trong và ngoài nhà trường. Bắt chước những thói hư tật xấu của bạn bè xấu. Do đó sẽ dẫn đến tình trạng phạm pháp ở lứa tuổi thanh thiếu niên ngày càng tăng.

Việc học sinh chưa ngoan sẽ gây nhiều tác hại:

-Đối với xã hội: Làm xã hội chậm phát triển, mất trật tự xã hội.

-Đối với gia đình: Những học sinh này là mối lo ngại lớn, ảnh hưởng đến các thành viên còn lại trong gia đình. Nói chung những em này luôn mang đến cho gia đình nhiều phiền toái.

-Đối với nhà trường: Gây trở ngại lớn đến nề nếp, chất lượng, nội qui của lớp. Làm ảnh hưởng đến phong trào thi đua của lớp, thậm chí còn để lại tai tiếng cho trường, cho lớp.

-Đối với tập thể bạn bè: Các em này thường lôi kéo bạn bè tiêm nhiễm những thói hư tật xấu của mình, gây ảnh hưởng lớn đến gia đình, nhà trường và xã hội.

-Đối vời giáo viên: Luôn phải bận tâm với những phần tử hư hỏng này, phải luôn tìm ra biện pháp phù hợp để hướng thiện cho các em, nó còn gây ảnh hưởng đến việc đánh giá xếp loại thi đua của giáo viên.

-Đối với bản thân: Các em này sẽ bị ảnh hưởng lớn đến việc học tập, sự tiến thân của các em sau này.

b/Tiến trình thực hiện

*Khái quát về thành tích học tập và các hoạt động hàng ngày của khối 5 thông qua việc sử dụng các phương pháp đã nêu ở phần I để tiến hành nghiên cứu.

+Đọc tài liệu, tham khảo sách báo. Cụ thể:

-Giáo trình tâm lí học Đại cương ( Huế 2001).

-Giáo trình giáo dục học tiểu học I ( NXB Đà Nẵng ) và các tài liệu đề cương bài giảng tâm lí học, giáo dục học của trường Cao đẳng sư phạm Tây Ninh.

+Phương pháp trao đổi-trò chuyện:

-Tìm hiểu trực tiếp 3 học sinh được nghiên cứu để nắm bắt được những thông tin cần thiết phục vụ cho nghiên cứu.

-Tiếp xúc gia đình của các em để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những biểu hiện chưa ngoan ở các em, từ đó có hướng giúp đỡ các em vươn lên.

+Phương pháp quan sát:

-Thông qua hoạt động học tập, vui chơi. Người giáo viên nắm rõ hơn những biểu hiện hành vi đạo đức của các em. Qua đó làm cơ sở phục vụ cho việc nghiên cứu.

*Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc có những biểu hiện chưa ngoan về đạo đức ở các em, sau khi tìm hiểu:

+Đối với gia đình:

-Do mãi lo việc kinh tế không chú trọng đến việc giáo dục con em, bỏ phế cho nhà trường.

-Gia đình thường có những xung đột, ảnh hưởng đến việc phát triển cân bằng về tâm sinh lí ở các em.

+Đối với nhà trường:

-Chú trọng nhiều hơn việc cung cấp những tri thức về chuẩn mực đạo đức giúp học sinh hiểu rỏ thế nào là hành vi đạo đức tốt, thế nào là chưa tốt.

+Đối với xã hội:

-Còn tồn tại nhiều điều xấu ảnh hưởng đến hành vi đạo đức của các em.

-Văn hoá phẩm đồi truỵ, phim bạo lực, trò chơi bạo lực trên các bộ phim nước ngoài, các trò chơi trên vi tính…ảnh hưởng rất nhiều đến việc phát triển và hình thành nhân cách, hành vi đạo đức xấu ở các em.

c/Biệnpháp khắc phục:

-Về phía nhà trường: Cần có những biện pháp giáo dục áp dụng với từng đối tượng học sinh. Phối hợp với Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh tạo nhiều sân chơi lành mạnh, hình thành thói quen ở các em “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Giáo dục các em tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái thông qua các hoạt động từ thiện, các hoạt động giúp đở bạn nghèo… do nhà trường và Liên đội phát động. Qua đó có thể giáo dục các em tinh thần ” Lá lành đùm lá rách” ” Một miếng khi đói bằng một gói khi no”…

-Đối với giáo viên chủ nhiệm: Cần phải thường xuyên làm tốt công tác chủ nhiệm lớp, thường xuyên thăm hỏi gia đình các em. Mỗi giáo viên phải có lòng vị tha, thương yêu học sinh như chính người thân của mình. Công bằng trong thưởng phạt, giáo dục các em tinh thần tương thân tương ái, động viên kịp thời trong mọi hoạt động, giúp các em không mặc cảm, tự ti và vươn lên. Ngoài ra giáo viên cần phải chịu khó lắng nghe tâm tư, tình cảm của các em, qua đó phân tích lí giải những ý kiến của các em, tạo cơ hội cho các em tâm sự những gút mắc trong các em.

-Về phía gia đình: Cần phải luôn là chỗ dựa vững chắt cho các em, giúp các em không cảm thấy cô đơn, lẽ loi, hụt hẩng. Gia đình cần nhận thức đúng đắn về vai trò, trách nhiệm của mình trong việc giáo dục con cái. Không nên quá lo về kinh tế mà bỏ quên việc giáo dục con em mình, phải thường xuyên liên lạc với nhà trường, nắm tình hình học tập của con em mình. Những thành viên trong gia đình cần luôn noi gương tốt cho các em noi theo.

-Đối với xã hội: Cần quan tâm đến ngành giáo dục nhiều hơn nữa, phối kết hợp với ban ngành địa phương làm lành mạnh, trong lành môi trường sống, không còn những tệ nạn, những thói hư tật xấu…làm ảnh hưởng đến thế hệ trẻ mai sau.

*Tự đánh giá kết quả:

-Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, nghiên cứu cơ sở lí luận, tìm ra biện pháp khắc phục và áp dụng thực hiện trong phạm vi khối 5. Tôi thật sự hài lòng về kết quả thu được, các em đã gần gũi hơn với bạn bè trong lớp, cởi mở hơn với thầy cô, không còn hằn học, không nói tục, chửi thề. Các em ngày càng lễ phép hơn với người lớn, với thầy cô… Bên cạnh đó, đề tài này còn giúp cho người giáo viên nắm rõ những nguyên nhân dẫn đến việc các em chưa ngoan và đề tài còn đề ra những phương pháp giải quyết hữu hiệu giúp người giáo viên có thể từng ngày uốn nắn, giúp đở, hướng dẫn các em trở người học sinh tốt, xứng đáng là con ngoan trò giỏi-Đội viên tốt-Cháu ngoan Bác Hồ.

-Muốn cho học sinh tránh những hành vi đạo đức sai lệch, chưa ngoan thì người thầy phải biết kết hợp các phương pháp một cách nhuần nhuyễn, phải nghiên cứu từng đối tượng một cách chính xác để sử dụng các phương pháp giáo dục đạo đức thích hợp cho từng cá nhân nhằm làm thay đổi suy nghĩ sai lệch ở từng đối tượng.

-Mặc khác, nhà trường, gia đình và xã hội cần phối hợp chặt chẽ nhằm hổ trợ cho nhau để hoàn thành nhiệm vụ là giáo dục học sinh trở thành một con người đầy đủ cả tài lẫn đức, xứng đáng là con ngoan trò giỏi- Đội viên tốt-cháu ngoan Bác Hồ mà cả xã hội đang mong chờ.

-Trong thời gian tới tôi sẽ tiếp tục mạnh dạn dựa vào những nghiên cứu trong đề tài này để thực hiện đề tài Phương pháp ” Giáo dục đạo đức cho học sinh chưa ngoan trong trường TH&THCS Sơn Lĩnh “.

Phạm Thị Nhụy @ 22:18 25/11/2019 Số lượt xem: 747

Luận Văn Đề Tài Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Chưa Ngoan Trong Công Tác Chủ Nhiệm

Giáo dục học sinh và giáo dục học sinh chưa ngoan nói riêng là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên , liên tục của giáo viên và tập thể HĐSP nhà trường. Giáo dục học sinh chưa ngoan là một phần quan trọng trong nội dung giáo dục đạo đức là điều mà các nhà giáo dục tâm huyết luôn quan tâm. Ở bậc trung học cơ sở ( THCS ), ảnh hưởng và tác dụng của giáo viên chủ nhiệm ( GVCN ) đối với học sinh rất lớn, đặc biệt là học sinh chưa ngoan. GVCN có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục nhân cách học sinh . Giáo dục học sinh chưa ngoan trong công tác chủ nhiệm là nhiệm vụ rất quan trọng ở trường học . Khi tham gia công việc này, mỗi giáo viên sẽ trưởng thành và vững vàng hơn trong sự nghiệp “trồng người” của mình. Giáo dục học sinh chưa ngoan trong công tác chủ nhiệm lớp đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian và công sức, lòng tâm huyết, sự nhiệt tình ; nhưng đây thực sự là một công việc đem lại nhiều lợi ích cho giáo viên nhà trưòng và xã hội. Đồng thời, đây cũng là một công việc đầy hứng thú . Trong thực tế, giáo dục học sinh chưa ngoan có ý nghĩa sâu sắc, góp phần thực hiện thành công mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh và kế hoạch năm học của các nhà trường. Giờ đây, chương trình – phương pháp giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng đã và đang có những thay đổi căn bản thì công tác giáo dục học sinh chưa ngoan cần phải có những thay đổi tích cực. Được nhà trường phân công chủ nhiệm ở một lớp có nhiều học sinh chưa ngoan trong một địa phương vùng nông thôn đã có nhiều thay đổi về nền kinh tế. Trong quá trình tham gia công tác chủ nhiệm, tôi có nhiều day dứt và trăn trở : làm thế nào để giáo dục học sinh chưa ngoan có hiệu quả ? Từ những lý do trên đã thôi thúc tôi nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp giáo dục học sinh chưa ngoan trong công tác chủ nhiệm” để phần nào giảm bớt khó khăn trong giáo dục đạo đức của nhà trường và giảm bớt tệ nạn ngoài xã hội.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Chuyên Đề Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Tiên học lễ, hậu học văn luôn là điều mà nền giáo dục dân tộc ở mọi thời đại luôn quan tâm. Bàn về vấn đề này, Bác Hồ cho rằng: Có tài mà không có đức là người vô dụng Vì vậy, giáo dục đạo đức là hoạt động thiết yếu trong nhà trường. Chúng tôi nghĩ rằng một thân cây khỏe mạnh phải bắt đầu từ một hạt giống tốt và một mảnh đất thích hợp. Cũng như vậy, một nhân cách đẹp khởi đầu từ một ý thức vững vàng và một môi trường lành mạnh. Trong bối cảnh xã hội hiện nay, trước sự rạn vỡ của các giá trị đạo đức, vấn đề trên cần được quan tâm nhiều hơn nữa. Thỉnh thoảng ta vẫn nghe ở đâu đó nạn bạo hành giữa các học sinh; tình trạng học sinh hành hung thầy cô giáo; học sinh bỏ nhà đi hoang Đau lòng nhất là những trường hợp mà đến lúc chúng ta nhận ra thì không thể vãn hồi được nữa, vì các em đã phải ở bên kia cuộc đời hay ngăn cách lâu dài với chúng ta đằng sau song sắt

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Tiên học lễ, hậu học văn luôn là điều mà nền giáo dục dân tộc ở mọi thời đại luôn quan tâm. Bàn về vấn đề này, Bác Hồ cho rằng: Có tài mà không có đức là người vô dụng Vì vậy, giáo dục đạo đức là hoạt động thiết yếu trong nhà trường. Chúng tôi nghĩ rằng một thân cây khỏe mạnh phải bắt đầu từ một hạt giống tốt và một mảnh đất thích hợp. Cũng như vậy, một nhân cách đẹp khởi đầu từ một ý thức vững vàng và một môi trường lành mạnh. Trong bối cảnh xã hội hiện nay, trước sự rạn vỡ của các giá trị đạo đức, vấn đề trên cần được quan tâm nhiều hơn nữa. Thỉnh thoảng ta vẫn nghe ở đâu đó nạn bạo hành giữa các học sinh; tình trạng học sinh hành hung thầy cô giáo; học sinh bỏ nhà đi hoang Đau lòng nhất là những trường hợp mà đến lúc chúng ta nhận ra thì không thể vãn hồi được nữa, vì các em đã phải ở bên kia cuộc đời hay ngăn cách lâu dài với chúng ta đằng sau song sắt Trường THPT Hàm Giang là một ngôi trường thuộc địa bàn vùng sâu, phần lớn học sinh ở đây chất phát và ngoan hiền. Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp cá biệt trong các em. Vài em học sinh bỏ nhà lên thành phố làm mướn một thời gian rồi về học lại, mang theo cả những điều hoàn toàn không phù hợp với học đường. Mặt khác, trường lại nằm trên địa bàn có nhiều công trình đang xây dựng nên những cái tiêu cực trong cách sống, trong lời ăn tiếng nói của những công nhân ở đây đã ảnh hưởng đến các em học sinh rất nhiều Bên cạnh đó, còn có các trường hợp cá biệt do nhiều nhân tố khác tác động vào, biểu hiện của những hiện tượng này cũng khá phong phú và mức độ tác hại của nó cũng không nhỏ, đủ để làm đau lòng những trái tim có lương tâm và thiết tha với sự nghiệp trồng người. Nhằm hạn chế một phần nhỏ nào đó những trường hợp đáng tiếc nói trên, chúng tôi chọn Một số biện pháp giáo dục học sinh cá biệt làm đề tài cho chuyên đề của mình. Rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của quý thầy cô giáo. 2. NỘI DUNG ĐỀ TI: 2.1. THỰC TRẠNG: Trong phạm vi hạn hẹp của chuyên đề, chúng tôi chỉ xin nêu ra thực trạng tình hình đạo đức của một bộ phận học sinh ở trường THPT Hàm Giang trong bốn năm học vừa qua. Đây không phải là tình hình đạo đức chung của toàn trường mà chỉ là vấn đề tồn tại trong một bộ phận nhỏ. Cũng như phần lớn các trường THPT khác trên cả nước nói chung và trong khu vực nói riêng, bên cạnh các học sinh ngoan hiền, chăm chỉ, mẫu mực, trường vẫn còn một số học sinh chưa ngoan, hay vi phạm nội quy Qua quá trình trao đổi với một số GVCN của trường, chúng tôi ghi nhận một số trường hợp sau: Năm học 2006 - 2007: Ở lớp 10A3, một lớp khá đặc biệt có tới 13, 14 trường hợp cá biệt, chúng tôi xin được đơn cử những trường hợp điển hình sau: Em Tăng Văn Toàn, em Kiên Sa Kinh, em Nhan Thanh Huyền, em Kim Quảng thường xuyên cúp cua, vắng không phép, không thuộc bài, chở ba, bốn, bỏ tiết nhiều lần, đi học nhưng không đến lớp, vô lễ với thầy cô. Gặp gỡ GVCN lớp 10A4, chúng tôi ghi nhận được một số trường hợp sau: Em Ngô Văn Trư, em Lữ Thiện Chí nhiều lần nghỉ học không phép, gia đình cho hay em có đến trường nhưng không vào lớp, mất trật tự trong hầu hết các giờ học. Ở lớp 11A2 cũng có một số trường hợp đáng kể: * Em Trần Quốc Toản nghỉ học thường xuyên, nhiều lần đang học thì viện lý do xin về; nhiều nguồn tin cho biết em này còn uống rượu trong giờ học. * Em Kiên Chính thường xuyên đang học thì kêu nhức đầu, đau bụng để xin về. Ở những lớp cuối cấp cũng tồn tại những trường hợp vi phạm tương tự. Cụ thể là ở các lớp 12A1, 12A2, 12B2. Lớp đầu khối 12A1 có những trường hợp sau: Em Trần Minh Hiếu, em Thạch Rănsây, em Trần Văn Bảy để tóc dài, mất trật tự trong các giờ học, không thuộc bài, thường xuyên bỏ tiết, đi học nhưng không vào lớp. Lớp 12B2, một trong hai lớp bổ túc của trường cũng có những trường hợp cá biệt, chúng tôi xin đưa ra một vài trường hợp: * Em Hứa Ngọc Long thường xuyên không thuộc bài, nghỉ học không phép, một vài lần có thái độ không tốt với thầy cô đứng lớp. * Em Kiều Văn Hoàng, em Kiên Thị Ngà nghỉ học không phép, bỏ tiết ngồi quán, thường xuyên không thuộc bài, chở ba, bốn. Trường hợp cá biệt còn tồn tại ở lớp 12A2: * Em Trầm Văn Đủ thường xuyên mất trật tự ở các tiết Anh văn, Hoá học, Địa lý, không đeo phù hiệu, bảng tên * Em Kim Ngọc Biển đi trễ, không thuộc bài, mất trật tự Năm học 2007 - 2008: * Em Thạch Ngọc Quợt lớp 10A3 luôn luôn không thuộc bài khi đến lớp. * Em Trầm Phú Sang lớp 10A4, em Kim Tấn Lộc lớp 10A3 thường xuyên không thuộc bài, nghỉ học không phép, đánh bạn, cúp tiết Năm học 2008 - 2009: Chúng tôi ghi nhận được một số trường hợp sau: * Em Sơn Vũ Phương lớp 10A2, em Trần Văn Hận lớp 10A1: thường xuyên không đồng phục, nghỉ học không phép, không thuộc bài, bỏ học, đánh bạn, vô lễ với thầy cô * Em Lâm Thanh Vũ Linh, em Ngô Minh lớp 10A1: thường xuyên không thuộc bài, cúp tiết, phát biểu linh tinh trong giờ học Năm học 2009 - 2010: Có một số trường hợp cá biệt như: * Em Sơn Sơphe lớp 11A2: đánh bạn trong giờ học. * Em Dương Văn Nghỉ, em Lâm Mâm lớp 12B, em Thạch Mẹn, em Nhan Quốc Cường lớp 11B: thường xuyên nghỉ học, ít chú ý theo di bi trong giờ học, khơng thuộc bi. Tất cả các trường hợp nói trên đều được GVCN ghi nhận và cố gắng khắc phục bằng nhiều biện pháp nhưng nhìn chung hiệu quả giáo dục vẫn chưa cao. Từ đó ta có thể kết luận giáo dục học sinh cá biệt là vấn đề không đơn giản. Công việc này sẽ rất khó thành công khi chúng ta hành động đơn độc. Mặt khác, điều mang tính tiên quyết là chúng ta cần phải xác định rõ vướng mắc mà chúng ta và các em đang gặp phải có nguyên nhân từ đâu, để từ đó đưa ra hướng giải quyết đúng đắn nhất. Tìm ra nguyên nhân và biết cách tạo nên sự phối hợp chặt chẽ giữa 3 môi trường: gia đình, nhà trường và xã hội, theo chúng tôi, là việc làm cần thiết để đạt được thành công trong công việc khó khăn này. 2.2. NHỮNG NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU Người xưa cho rằng "Nhân chi sơ tính bản thiện". Bác Hồ - người thầy giáo vĩ đại Nguyễn Tất Thnh cũng từng nĩi: Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do gio dục m nn Để giáo dục tốt các em, ta nên tin rằng bản chất của các em là tốt đẹp, những gì mà ta nhìn thấy ở các em phần nhiều là do ảnh hưởng của môi trường, của hoàn cảnh Có như vậy, chúng ta mới có đủ tấm lòng và niềm tin trong công việc khó khăn này. Sau khi nghiên cứu, phân tích một số trường hợp tiêu biểu, chúng tôi cho rằng có một số nguyên nhân chủ yếu sau: 2.2.1. Nguyên nhân từ phía gia đình Gia đình là một trong ba yếu tố ngoại cảnh có tính quyết định trong việc hình thành nhân cách học sinh. Về phương diện này, chúng ta có thể kể đến những vấn đề sau đây. - Ở một số gia đình, chúng ta thường thấy có hiện tượng bất hoà giữa người cha và người mẹ hoặc giữa các anh chị em. Điều này sẽ gây ra những hậu quả không tốt trong tâm lý các em. Những giá trị đạo đức và tình cảm sẽ bị các em nghi ngờ, những ý nghĩ tiêu cực sẽ dần được hình thành trong đầu các em. Từ đó, các em sẽ có tư tưởng bốc đồng, chán ghét mọi thứ, mà biểu hiện rõ nét nhất là chán học, đạo đức sa sút. - Một vấn đề khác từ phía gia đình là tình trạng cuộc sống vật chất của các em quá thiếu thốn, thời gian đầu tư vào việc học không có. Phần lớn trong các em ngoài thời gian lên lớp, cả ngày đều phải làm việc phụ giúp gia đình. Với điều kiện như vậy, các em trở nên học yếu và chán học cũng là điều dễ hiểu. - Bên cạnh đó còn có những gia đình tình trạng cuộc sống vật chất khá đầy đủ nhưng lại không quan tâm, không kiểm tra việc học của các em, cũng không động viên, khuyến khích các em trong học tập. Lâu dần các em sẽ hình thành tâm lý: học hay không, không quan trọng lắm. Mà thông thường tư tưởng trên sẽ đi kèm với thái độ học tập không tốt và các hiện tượng vi phạm nội quy khác. - Ngoài các hiện tượng trên chúng ta còn thấy hậu quả xấu từ việc cưng chiều con quá đáng ở một số gia đình. Khi con em mình có vấn đề, được thầy cô mời đến trường, việc đầu tiên của các phụ huynh này là bênh vực và bào chữa. Điều đó sẽ dẫn đến tâm lý ỷ lại, coi thường kỷ luật trong các em. 2.2.2.Nguyên nhân từ phía nhà trường, thầy cô giáo Song song với môi trường gia đình, nhà trường đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giáo dục nhân cách học sinh. Trường THPT Hàm Giang là ngôi trường mới thành lập, tuy vậy lãnh đạo nhà trường đã kịp thời xây dựng những nội quy khá chặt chẽ, những quy định vừa mềm dẻo, vừa có tính kỷ luật cao. - Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan mà cho đến nay nhà trường vẫn chưa thành lập tổ Giám thị để theo dõi và điều chỉnh những vấn đề vi phạm đạo đức trong các em. Phần lớn hoạt động đều do Đoàn trường và GVCN đảm trách, điều này là phù hợp và đúng nguyên tắc, nhưng đôi khi lại dễ dẫn đến tình trạng "lo không xuể", không theo sát thực tế, nhiều trường hợp vi phạm sẽ bị "lọt lưới" do Đoàn trường thường phải phụ trách một phạm vi hoạt động khá rộng lớn. Về phía GVCN, một tuần chỉ lên lớp vài buổi, mà thời gian dành để giảng dạy kiến thức là chủ yếu nên cũng khá khó khăn trong việc uốn nắn thật kịp thời các hành vi vi phạm của các em. Do vậy, chúng tôi nghĩ rằng thành lập tổ Giám thị là việc làm cần thiết trong tình hình hiện nay. - Bên cạnh việc khó khăn vì nhà trường chưa có tổ Giám thị, một vấn đề khác cũng nổi lên ở đây. Đó là trong cái nhìn của các em, vẫn còn một số thầy cô chưa thật sự công bằng, gương mẫu, điều này sẽ dẫn đến tâm lý chán nản, thậm chí ghét bỏ một vài môn học trong các em. Đây là vấn đề khá tế nhị, vì thật ra công bằng mang một ý nghĩa tương đối, đôi khi tuỳ thuộc rất nhiều vào cảm nhận của các em. Mà mỗi người có một lối sống, một cách suy nghĩ khác nhau, chúng ta không thể kiểm tra, áp đặt những suy nghĩ của học sinh Tuy nhiên, điều quan trọng là dường như một bộ phận nhỏ thầy cô giáo vẫn chưa làm cho các em thấy được sự trung thực, công bằng và ý thức tránh nhiệm cũng như lương tâm nhà giáo của mình? 2.2.3. Nguyên nhân từ phía xã hội Xã hội giữ một vai trò khá quan trọng trong việc hình thành nhân cách học sinh. Theo chúng tôi có những nguyên nhân chủ yếu sau đây đã tác động tiêu cực lên thái độ học tập và ý thức kỉ luật của các em. - Trước hết điều chúng ta dễ nhận thấy là thời gian gần đây cùng với sự xuất hiện của tranh ảnh, phim truyện, sách báo nước ngoài một lối sống xa lạ ở một bộ phận thanh thiếu niên cũng được hình thành. Trong các trường học, trang phục Hàn Quốc, kiểu tóc Hàn Quốc, nhuộm đầu Hàn Quốc hay những mẩu đối thoại kiểu phương Tây được hình thành và phát triển rộng khắp. Đành rằng giao lưu văn hoá là hoạt động cần thiết của thời đại, nhưng cái mà các em cần học hỏi là những cái hay, cái đẹp chứ không phải là những điều phù phiếm, lai căng như đã nêu ở trên. - Bên cạnh đó, thời gian gần đây, nhiều tụ điểm vui chơi giải trí không phù hợp đã mọc lên khá mạnh mẽ ở các địa phương. Hậu quả là một bộ phận học sinh đã mất đi phần lớn thời gian - đúng ra phải được dành để học tập - cho những nơi này. Đó là chưa kể đến những ảnh hưởng tiêu cực mà các em nhiễm phải từ đây. - Một nhn tố khc cũng khơng km phần quan trọng tác động lên việc hình thnh nhn cch cc em l sự ảnh hưởng lối sống tiêu cực của các thanh thiếu niên hư hỏng trong vùng, gây ra hiện tượng cúp tiết, trốn học, không thuộc bài, chử ... tật xấu sẽ giảm đi rất nhiều. Bên cạnh việc giáo dục tư tưởng cho các em chúng ta còn phải biết phối hợp sức mạnh của ba môi trường: gia đình, nhà trường, xã hội để cảm hoá, răn đe các em. Công việc này sẽ khó thành công nếu không có sự ra quân đồng bộ giữa ba lực lượng nói trên. Ở đây vai trò của người thầy cũng rất quan trọng. Nếu chúng ta làm mất đi niềm tin trong lòng các em từ lối sống thiếu gương mẫu thì chắc rằng những lời dạy của chúng ta đối với các em sẽ trở nên phản tác dụng. 2.3.2. Một số biện pháp cụ thể: Từ lý thuyết chung trên, chúng tôi xin đưa ra những biện pháp cụ thể trong việc giáo dục học sinh cá biệt ở lớp chủ nhiệm. Ở đây, vai trò của GVCN được đặt lên hàng đầu, bởi vì họ chính là những người có sức ảnh hưởng to lớn đến việc hình thành nhân cách của các em. Chúng ta có thể phối hợp ở các phương diện: kiểm tra; động viên, khuyến khích và răn đe, kĩ luật. 2.3.2.1. Các biện pháp kiểm tra: Đầu năm học, GVCN yêu cầu mỗi HS tự trang bị cho mình một túi đựng bài kiểm tra. Tất cả những bài kiểm tra của mỗi HS sẽ được lưu trữ ở đây. Hằng tháng, HS sẽ điền vào Phiếu theo dõi bài kiểm tra những số liệu cụ thể: số lượng bài kiểm tra trong tháng, điểm trên 5, dưới 5, số điểm cụ thể của từng môn Sau đó mang về cho phụ huynh xem để phụ huynh nêu ý kiến và kí tên, rồi nộp lại cho GVCN. Thao tác này sẽ giúp cho phụ huynh và GVCN luôn nắm được số điểm cụ thể của mỗi HS trong tháng để kịp thời chấn chỉnh những trường hợp yếu kém. Mặt khác, nó còn tạo nên mối liên hệ thường xuyên và khá chặt chẽ giữa GVCN và gia đình HS. Phiếu theo dõi bài kiểm tra( Mẫu tham khảo): PHIẾU THEO DÕI BÀI KIỂM TRA THÁNG NĂM HỌC:.. HỌ VÀ TÊN HS Lớp: MÔN SỐ BÀI ĐIỂM SỐ BÀI THIẾU GHI CHÚ TRÊN 5 DƯỚI 5 TOÁN LÝ HOÁ SINH VĂN SỬ ĐỊA A.VĂN C.NGHỆ TIN GDCD T.DỤC GDQP NGHỀ PT T.SỐ Hàm Giang, ngày tháng năm Cha( mẹ) học sinh: Giáo viên chủ nhiệm: (Xin vui lòng nêu ý kiến và kí tên) 2.3.2.2. Các biện pháp động viên: - Phát phiếu khen thưởng: Hàng tuần, GVCN sẽ phát phiếu khen thưởng (PKT) cho những học sinh có điểm tốt, không vi phạm trong tuần và có những biểu hiện tích cực. Cuối mỗi học kì, GVCN yêu cầu các em nộp lại PKT, HS có số phiếu cao nhất sẽ nhận được một phần quà từ GVCN. Hình thức này sẽ giúp cho các em phấn đấu nhiều hơn trong học tập, tạo nên sự cạnh tranh trong sáng và tích cực trong các em. Mặt khác, các em có thể mang PKT về khoe với cha mẹ, gia đình, người thân về thành tích của mình, từ đó, ý thức về vinh dự và giá trị bản thân của các em được hình thành, nuôi dưỡng và phát huy. Điều này sẽ tác động rất lớn đến thái độ học tập và việc hình thành nhân cách của các em sau này. PHIẾU KHEN THƯỞNG GVCN lớp 11A1 Khen tặng em: LƯ THỊ ĐIỆP Đã hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập trong tuần - Ngoài ra, chúng ta còn kết hợp với các biện pháp động viên khen thưởng truyền thống như: biểu dương trước lớp, tặng viết, tập cho các trường hợp có sự nỗ lực vượt bậc vào các buổi sinh hoạt cuối tuần Nhằm tạo cho các em niềm tin vào bản thân và tin rằng sự cố gắng của mình luôn được thầy cô và tập thể ghi nhận. 2.3.2.3. Các biện pháp răn đe, cảnh cáo, kỉ luật: Có thể sử dụng các biện pháp sau tuỳ theo từng mức độ. - Ở mức độ nhẹ: Gặp riêng HS vi phạm để nghe các em trình bày lý do và khuyên giải các em; nhắc nhở trước lớp, nghe các em giải thích trước lớp; phạt trực nhật vào một, hoặc một số ngày trong tuần. Có thể chia ra: vệ sinh lớp học, vệ sinh bồn hoa, vệ sinh sân trường, cắt cỏ trong khu vực quy định, xoá bảng... Công việc cụ thể sẽ do lớp phó lao động phân công hàng tuần vào ngày sinh hoạt lớp cuối tuần. - Mức độ tương đối nặng: Yêu cầu HS viết tờ kiểm điểm, có chữ kí của phụ huynh; mời phụ huynh tới để phối hợp giáo dục các em; cảnh cáo trước lớp, lập bin bản kỷ luật - Mức độ nghiêm trọng: Chuyển về cho nhà trường để BGH xử lý. Sau đó, tuỳ vào mức độ vi phạm và số lần vi phạm mà sẽ có hình thức kỉ luật răn đe thích hợp. Tuy nhiên, đây là bước cuối cùng và chỉ áp dụng đối với những trường hợp đặc biệt. 3. KẾT QUẢ Ứng dụng những phương pháp trên vào thực tiễn, chúng tôi thu được những kết quả sau: - Trong năm học 2006- 2007, phần lớn các trường hợp cá biệt giảm đáng kể. Ngoại trừ một số em nghỉ học do hoàn cảnh gia đình như em Hứa Ngọc Long, Trần Quốc Toản, Tăng Văn Toàn, Kiên Thị Ngà, số còn lại đều có biểu hiện đáng khích lệ. Tiêu biểu là các trường hợp của em Kim Ngọc Biển, Thạch Rănsây đều thi đậu trong kì thi tốt nghiệp PTTH năm học 2006- 2007. Các em khác như Trần Văn Bảy, Kiều Văn Hoàng, Kiên Sa Kinh, Trầm Văn Đủ đều có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt, phần lớn trong các em đã có việc làm với thu nhập khá ổn định. - Năm học 2007-2008, tình trạng mất trật tự, vi phạm những quy định, quy chế của nhà trường ở lớp c biệt 10A3 cũng đã giảm đi đáng kể. Đầu năm số học sinh cá biệt là 12, đến cuối HK I là 08 và cuối năm là 02. - Năm học 2008-2009: Các em Ngô Minh, Kin Tấn Lộc đã có sự tiến bộ rõ rệt, cuối năm, các em đều có điểm TBCN trên 5.0 và cả HK II số phiếu khen thưởng của mỗi em đạt trên 10 phiếu. Điều đó có nghĩa là các em đã có thành tích tốt trong 10 tuần của HK II. - Năm học 2009 - 2010, mô hình ny được áp dụng tại 03 lớp: 10A1, 10A2 và 12A2. Theo thông tin phản hồi từ phái các thầy cô chủ nhiệm và bộ môn, những hiện tượng các biệt ở các lớp trên giảm đi r rệt, tỉ lệ thuận với số phiếu khen thưởng được phát ra. Tỉ lệ cuối năm của lớp 10A1 là: 78,6%, 10A2 l: 66,7% 12A2 là 73,9% đạt loại trung bình trở ln. Kết quả trn tuy cịn kh khim tốn nhưng đ cĩ những dấu hiệu kh tích cực, giúp chúng tôi tin rằng con đường mà mình đang đi là đúng hướng. Chúng tôi dự kiến trong năm học tới sẽ nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này để có thể đạt được những hiệu quả giáo dục cao nhất trong khả năng của mình. 4. BI HỌC KINH NGHIỆM: Trong vai trị l một giáo viên chủ nhiệm, chúng tôi đưa ra một số bài học kinh nghiệm trong quá trình ứng dụng mơ hình trn vo thực tiễn: - Chuẩn bị tốt ngay từ đầu năm những trang bị vật chất cần thiết cho các em: Túi đựng bài kiểm tra, các bảng theo di bi kiểm tra thng, phiếu khen thưởng - Khen thưởng, biểu dương cũng như khiển trách phê bình đúng người, đúng việc, tránh trường hợp cào bằng, hoặc quá nặng tay, quá nhẹ tay với các hiện tượng vi phạm. - Phiếu khen thưởng phải được sử dụng một cách hợp lý, khơng nn qu dễ di, ty tiện pht phiếu cho những trường hợp chưa xứng đáng. Có vậy, giá trị tinh thần của phiếu này mới được bảo vệ. - Luơn tơn trọng nguyn tắc: tình thương kết hợp với yêu cầu cao. - Cố gắng kết hợp thật tốt 03 môi trường trong hoạt động giáo dục: Gia đình, nh trường và x hội. Gặp gỡ, tiếp cận, tạo nn mối quan hệ thn thiện hợp tc giữa gio vin v phụ huynh. - Theo di chặt chẽ những biểu hiện vi phạm cũng như sự tiến bộ của học sinh. Để có cách giải quyết phù hợp đối với những trường hợp cụ thể. - Xây dựng niềm tin và hình ảnh đẹp về bản thân trong lòng các em: Chúng tôi nghĩ rằng, mỗi thầy cô cần làm cho các em thấy được sự công bằng, mẫu mực, tình yêu thương cũng như khả năng chuyên môn của mình Làm sao để mỗi người Thầy là một hình ảnh đẹp, một bức tượng đài sống mãi trong lòng các em. Một hình ảnh đẹp có thể bắt đầu từ trang phục thẫm mỹ, phù hợp; tác phong chuẩn mực, lời nói, cách nói dễ nghe Đồng thời, người thầy, người cô cịn phải cĩ tấm lịng nhiệt tình v chn thnh với cơng tc gio dục, với học sinh. Luôn luôn trao dồi kiến thức, cập nhật thông tin, không để bản thân mình qu lạc hậu so với sự tiến bộ của x hội. Kỹ lưỡng trong việc soạn giáo án, ra đề kiểm tra; công bằng trong cư xử và khi chấm điểm. Đứng trước sai lầm khuyết điểm của cc em, chng ta nn tự hỏi: Vì sau cc em lại lm như vậy trước khi cơn tức giận bắt đầu. Nếu trả lời không được câu hỏi này, chúng ta nên nhờ các em trả lời. Nếu các em không trả lời, hoặc câu trả lời không thỏa đáng, chúng ta hy tự tìm ra cu trả lời bằng cch tìm hiểu hồn cảnh sống của cc em. Người phương Tây cho rằng: Ci gì hợp lý thì mới xảy ra; những gì xảy ra đều là hợp lý để khẳng định mọi việc đề có nguyên nhân của nó. Bằng tình yu, sự kin nhẫn v ý thức trch nhiệm của người nhận lnh sứ mệnh trồng người, ta hy cho cc em niềm tin, nghị lực để làm hành trang cùng các em đi đến tương lai. TRƯỜNG THPT HÀM GIANG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc PHIẾU NHẬN XÉT, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Tên đề tài: Một số biện php gio dục học sinh c biệt. Thời gian thực hiện: từ tháng 9. 2006 đến tháng 5. 2010. Tác giả: Cao Thị Mai Hương. Bộ phận công tác: Giáo viên dạy lớp. TỔ CHUYÊN MÔN Nhận xét: Xếp loại: Ngày tháng năm Tổ trưởng HỘI ĐỒNG KHGD TRƯỜNG Nhận xét: . Xếp loại: Ngày tháng năm Hiệu trưởng BO CO TĨM TẮT 1. Người thực hiện: Họ và tên: Cao Thị Mai Hương. Năm sinh: 1980 Đơn vị công tác: trường THPT Hàm Giang Chức vụ hiện tại: Giáo viên, tổ trưởng chuyên môn. Trình độ chuyên môn: Đại học. 2. Tn sng kiến: Một số biện php gio dục học sinh c biệt. 3. Nội dung sáng kiến: Sáng kiến đề cập đến một số biện pháp cụ thể trong việc gio dục học sinh c biệt ở lớp chủ nhiệm, thơng qua việc tìm hiểu thực trạng v nguyn nhn của cc hiện tượng này. 4. Thời gian thực hiện sng kiến: Thng 9.2006 đến tháng 5.2010. 5. Phạm vi áp dụng: Được áp dụng ở một số lớp học tại đơn vị. 6. Hiệu quả: Trong từng năm học, các biện pháp trên đều thu được những kết quả nhất định. Tình trạng c biệt ở một số lớp giảm đi r rệt vo cuối năm, một số học sinh c biệt cuối cấp thi đậu tốt nghiệp THPT, tỉ lệ trung bình v trn trung bình ở cc lớp được nâng lên XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ NGƯỜI BÁO CÁO Cao Thị Mai Hương MỤC LỤC ĐỀ MỤC TRANG 1. Lý do chọn đề tài Trang 1 2. Nội dung chuyên đề Trang 1 2.1. Thực trạng Trang 1 2.2. Những nguyên nhân chủ yếu Trang 3 2.2.1. Nguyên nhân từ phía gia đình Trang 3 2.2.2.Nguyên nhân từ phía nhà trường, thầy cô giáo Trang 4 2.2.3. Nguyên nhân từ phía xã hội Trang 5 2.3. Hướng giải quyết Trang 5 2.3.1. Lý thuyết chung Trang 5 2.3.1.1. Đối với những học sinh lười học, chán học, có thái độ không tốt có nguyên nhân từ phía gia đình Trang 5 2.3.1.2. Những trường hợp cá biệt có nguyên nhân từ phía thầy cô giáo Trang 6 2.3.1.3. Đối với những trường hợp cá biệt có nguyên nhân do hoàn cảnh xã hội Trang 7 2.3.2. Một số biện pháp cụ thể Trang 7 2.3.2.1. Các biện pháp kiểm tra Trang 7 2.3.2.2. Các biện pháp động viên Trang 8 2.3.2.3. Các biện pháp răn đe, cảnh cáo, kỉ luật Trang 9 3. Kết quả Trang 9 4. Rút kinh nghiệm Trang 10

Đề Tài Một Số Đề Xuất Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thcs

Một trong những tư tưởng đổi mới GD& ĐT hiện nay là tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh, được thể hiện trong nghị quyết của Đảng, Luật giáo dục và các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luật giáo dục 2005 đã xác định: ” Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân ( Điều 23-Luật giáo dục).

trang A. Phần mở đầu.................. 2 1. Lý do chọn đề tài .................................................................. .. 2 2. Mục đích nghiên cứu 3 3. Đối tượng nghiên cứu 3 4. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 5. Giới hạn đề tài............................................................................... 3 6. Phương pháp nghiên cứu............................................................... 3 7. Thời gian nghiên cứu.................................................................... 4 B. Phần nội dung...................................................................................... 5 Chương I . Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu............................. 5 1. Đạo đức- chức năng đạo đức ....................................................... 5 2. Vị trí và đặc điểm của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh... 5 3. Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THCS.......... 7 Chương II. Biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh của trường THCS 13 1. Xây dựng trong nhà trường một môi trường thật tốt để giáo dục cho học sinh .................................................................. . ........ 13 2. Đổi mới công tác chủ nhiệm lớp là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh........................................ 15 C. Phần kết luận........................................................................................ 20 Tài liệu tham khảo......................................................................... 21 A. PHẦN MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Về mặt lý luận Một trong những tư tưởng đổi mới GD& ĐT hiện nay là tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh, được thể hiện trong nghị quyết của Đảng, Luật giáo dục và các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luật giáo dục 2005 đã xác định: " Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân ( Điều 23-Luật giáo dục). Về mặt thực tiễn Hội nhập kinh tế ngoài mặt tích cực nó còn làm phát sinh những vấn đề mà chúng ta cần quan tâm: Bản sắc văn hóa dân tộc bị đe dọa, hội nhập kinh tế quốc tế đưa vào nước ta những sản phẩm đồi trụy, phản nhân văn, reo rắc lối sống tự do tư sản, làm xói mòn những giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Hiện nay một số bộ phận thanh thiếu niên có dấu hiệu sa sút nghiêm trọng về đạo đức, nhu cầu cá nhân phát triển lệch lạc, kém ý thức trong quan hệ cộng đồng, thiếu niềm tin trong cuộc sống, ý chí kém phát triển, không có tính tự chủ dễ bị lôi cuốn vào những việc xấu. Trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng, số học sinh vi phạm đạo đức có chiều hướng gia tăng, tình trạng học sinh kết thành băng nhóm bạo hành trong trường học đáng được báo động. Một số CBQL, giáo viên chưa thật sự là tấm gương sáng cho học sinh, chỉ lo chú trọng đến việc dạy tri thức khoa học, xem nhẹ , thờ ơ không chú ý đến việc giáo dục tình cảm đạo đức cho học sinh. Về cá nhân Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, để góp phần vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay, và qua thực tiễn công tác giảng dạy học sinh ở trường THCS , tôi nhận thấy việc nắm rõ thực trạng và đề ra biện pháp về công tác giáo giáo dục đạo đức cho học sinh THCS là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của hội đồng sư phạm trong nhà trường. Đó là lý do tại sao tôi chọn đề tài này. Mục đích nghiên cứu Đánh giá được thực trạng của công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường THCS, thông qua đó đề ra biện pháp giáo đạo dức học sinh một cách có hiệu quả giúp cho các em trở thành những người tốt trong xã hội. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường THCS Nhiệm vụ nghiên cứu Giới hạn của đề tài Một số đề xuất biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh THCS Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu lý luận Trên cơ sở những kiến thức về tâm lý, giáo dục học và những quan điểm đường lối của Đảng, các văn bản của Bộ giáo dục và Đào tạo về đánh giá xếp loại, khen thưởng và kỷ luật học sinh. Phương pháp quan sát Nhìn nhận lại thực trạng của công tác giáo dục đạo đức học sinh của trường THCS Nguyễn Viết Xuân trong năm học. Đưa ra một số biện pháp về việc thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho học sinh của trường trong giai đoạn hiện nay. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 09 năm 2009 đến tháng 2 năm 2010 B. PHẦN NỘI DUNG Chương I Cơ sở Lý luận 1. Đạo đức- Chức năng của đạo đức 1.1.Khái niệm đạo đức Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những nguyên tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ người và người và con người với tự nhiên. 1.2.Chức năng đạo đức Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, của ý thức xã hội, đạo đức một mặt quy định bởi cơ sở hạ tầng, của tồn tại xã hội ; mặt khác nó cũng tác động tích cực trở lại đối với cơ sở hạ tầng, tồn tại xã hội đó. Vì vậy, đạo đức có chức năng to lớn , tác động theo hướng thúc đẩy hoặc kềm hãm phát triển xã hội. Đạo đức có những chức năng sau: Chức năng giáo dục. Chức năng điều chỉnh hành vi của cá nhân, của cộng đồng và là công cụ tự điều chỉnh mối quan hệ giữa người và người trong xã hội. Chức năng phản ánh. 2. Vị trí và đặc điểm của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 2.1. Vị trí - ý nghĩa Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn, giúp học sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ: của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người xung quanh và của cá nhân với chính mình. Trong tất cả các mặt giáo dục đạo đức giữ một vị trí hết sức quan trọng. Vì Hồ Chủ Tịch đã nêu: " dạy cũng như học, phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức Cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng, nếu không có đạo đức Cách mạng thì có tài cũng vô dụng " Giáo dục đạo đức còn có ý nghĩa lâu dài, được thực hiện thường xuyên và trong mọi tình huống chứ không phải chỉ được thực hiện khi có tình hình phức tạp hoặc có những đòi hỏi cấp bách. Trong nhà trường THCS, giáo dục đạo đức là mặt giáo dục phải được đặc biệt coi trọng, nếu công tác này được coi trọng thì chất lượng giáo dục toàn diện sẽ được nâng lên vì đạo đức có mối quan hệ mật thiết với các mặt giáo dục khác. Để thực hiện những yêu cầu về nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trong trường THCS thì: Vai trò của tập thể sư phạm giữ một vị trí quan trọng có tính quyết định, trong đó vai trò của Hiệu trưởng, người quản lý chỉ đạo tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường là quan trọng nhất. 2.2. Đặc điểm Giáo dục đạo đức đòi hỏi không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ khái niệm tri thức đạo đức, mà quan trọng hơn là kết quả giáo dục phải được thể hiện thành tình cảm, niềm tin, hành động thực tế của học sinh. Quá trình dạy học chủ yếu được tiến hành bằng các giờ học trên lớp; còn quá trình giáo dục đạo đức không chỉ bó hẹp trong giờ lên lớp mà nó được thể hiện thông qua tất cả các hoạt động có thể có trong nhà trường . Đối với học sinh THCS, kết quả của công tác giáo dục đạo đức vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào nhân cách người thầy, gương đạo đức của người thầy sẽ tác động quan trọng vào việc học tập, rèn luyện của các em . Để giáo dục đạo đức cho học sinh có hiệu quả, yếu tố tập thể giữ vai trò hết sức quan trọng. Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh chỉ đạt kết quả tốt khi nó có sự tác động đồng thời của các lực lượng giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội. Việc giáo dục đạo đức cho học sinh đòi hỏi người thầy phải nắm vững các đặc điểm Tâm-Sinh-Lý lứa tuổi của học sinh, nắm vững cá tính, hoàn cảnh sống cụ thể của từng em để định ra sự tác động thích hợp. Giáo dục đạo đức là một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi phải có công phu, kiên trì, liên tục và lặp đi lặp lại nhiều lần. 3. Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THCS 3.1.Những nhiệm vụ của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh Để hình thành phẩm chất đạo đức cho học sinh, công tác giáo dục đạo đức nói chung và giảng dạy các môn giáo dục nói riêng trong nhà trường phải thực hiện các nhiệm vụ sau: Hình thành cho học sinh ý thức các hành vi ứng xử của bản thân phải phù hợp với lợi ích xã hội; giúp học sinh lĩnh hội được một cách đúng mức các chuẩn mực đạo đức được quy định. Biến kiến thức đạo đức thành niềm tin, nhu cầu của mỗi cá nhân để đảm bảo các hành vi cá nhân được thực hiện. Bồi dưỡng tình cảm đạo đức, tính tích cực và bền vững, và các phẩm chất ý chí để đảm bảo cho hành vi luôn theo đúng các yêu cầu đạo đức. Rèn luyện thói quen hành vi đạo đức để trở thành bản tính tự nhiên của mỗi cá nhân và duy trì lâu bền thói quen này. Giáo dục văn hóa ứng xử đúng mực thể hiện sự tôn trọng và quý trọng lẫn nhau của con người. 3.2.Những nguyên tắc giáo dục đạo đức cho học sinh +Giáo dục học sinh trong thực tiễn sinh động của xã hội Nguyên tắc này đòi hỏi nhà trường phải gắn liền với đời sống thực tiễn của xã hội, của cả nước và địa phương, phải nhạy bén với tình hình chuyển biến của địa phương và của cả nước, đưa những thực tiễn đó vào những giờ lên lớp, vào những hoạt động của nhà trường để giáo dục các em học sinh. +Giáo dục theo nguyên tắc tập thể Nguyên tắc này thể hiện ở cả 3 nội dung: Dìu dắt học sinh trong tập thể để giáo dục; Giáo dục bằng sức mạnh tập thể; giáo dục học sinh tinh thần vì tập thể. Trong một tập thể lớp, tập thể chi đội có tổ chức tốt, có sự đoàn kết nhất trí thì sức mạnh của dư luận tích cực sẽ góp phần rất lớn vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh. Những phẩm chất tốt đẹp như tinh thần tập thể, tính tổ chức kỷ luật, tình đồng chí và tình bạn, tinh thần hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau, tính khiêm tốn học hỏi mọi người bao giờ cũng do giáo dục tập thể hình thành. Để thực hiện tốt nguyên tắc này, đòi hỏi nhà trường THCS phải tổ chức tốt các tập thể lớp, tập thể chi độiNhà trường phải cùng với đoàn đội làm tốt phong trào xây dựng các chi đội mạnh trong trường học. +Giáo dục bằng cách thuyết phục và phát huy mạnh mẽ tính tự giác của học sinh Phải giáo dục đạo đức bằng cách thuyết phục và phát huy tính tự giác của học sinh, chứ không phải bằng sự cưỡng ép, mệnh lệnh, dọa nạt, biến học sinh thành những đứa trẻ thụ động, sợ sệt, rụt rè. Nguyên tắc này đòi hỏi người thầy phải kiên trì, nhẫn nại, phải có tình thương đối với học sinh một cách sâu sắc, không thể l ... t chất, khung cảnh của nhà trường làm sao cho toàn trường đều toát lên ý nghĩa giáo dục đối với học sinh. +Tạo nên bầu không khí giáo dục trong toàn trường và ở mỗi lớp học, hình thành nên một phong cách sinh hoạt của nhà trường , biểu hiện như sau: Nề nếp tốt: trật tự, vệ sinh, ngăn nắp, nghiêm túc. Có quan hệ tốt giữa các thành viên trong trường: giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa học sinh với nhau. Trong các mối quan hệ phải thực sự đúng mực, hài hòa; giáo viên thương yêu tôn trọng học sinh. Học sinh không hỗn xược, không khúm núm sợ sệt, yêu mến và tin tưởng thầy cô. Học sinh đối với nhau thì đoàn kết, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, không thù hằn, bè cánh đánh nhau, không nói tục chửi bậy, không tham gia vào tệ nạn xã hội. 1.3. Cách làm + Đối với Hiệu trưởng Phải xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh ngay từ đầu năm học trên cơ sở dựa vào tình hình thực trạng đạo đức của học sinh, tình hình thực tế của địa phương để định ra, nội dung, biện pháp, thời gian, chỉ tiêu cho phù hợp. Phải thường xuyên nắm tình hình tư tưởng đạo đức của học sinh một cách cụ thể bao gồm tình hình có tính chất thường xuyên, lâu dài, phổ biến và những tình hình có tính chất thời sự, cá biệt có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đối với học sinh. Thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục, đầu tư ngân sách để cải tạo cảnh quang sư phạm: trồng cây xanh, hoa kiểng, trang trí các khẩu hiệu, nội quy của từng phòng học và trong khu vực trường, xây dựng cổng rào an toàn cho học sinh. Thường xuyên tổ chức lao động vệ sinh trường lớp, trồng cây xanh thông qua buổi lao động cần giáo dục đầy đủ mục đích, ý nghĩa công việc cho học sinh, phải có phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị lớp, quy định rõ thời gian và kết quả phải đạt được, phải có kỷ luật, trật tự, không khí tươi vui, biểu dương kịp thời những học sinh tốt, tập thể lớp tốt. Tổ chức họp tham khảo ý kiến hội đồng giáo viên để đưa ra những quy định cụ thể về nội quy nhà trường, nhiệm vụ của học sinh, dựa trên cơ sở điều lệ trường trung học cơ sở của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2007. Kết hợp với chính quyền địa phương giải tỏa các hàng quán trước cổng trường, các điểm vui chơi giải trí và truy cập internet xung quanh trường theo đúng quy định của ngành chức năng. Tổ chức các phong trào thi đua thường xuyên, liên tục, bảo đảm tính công bằng, trung thực, phù hợp với năng lực và nhu cầu của các em. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm xây dựng lớp thành những tập thể vững mạnh, có lực lượng cốt cán làm nòng cốt, làm hạt nhân cơ bản của lớp, là trợ thủ đắc lực cho giáo viên chủ nhiệm. + Đối với giáo viên - Phải gương mẫu về mọi mặt, đoàn kết, nhất trí thành một khối thống nhất có tác dụng giáo dục mạnh mẽ đối với học sinh. Phải không ngừng tự hoàn thiện nhân cách của mình, phải thương yêu, tôn trọng, tin tưởng học sinh, có ý thức trách nhiệm về mọi hành vi ngôn ngữ, cử chỉ của mình đối với học sinh, đồng nghiệp, bản thân phải là tấm gương cho học sinh noi theo. + Đối với Đoàn đội: - Chủ động phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn tổ chức tốt phong trào thi đua học tập, rèn luyện đội viên theo năm điều Bác Hồ dạy. Tổ chức sinh hoạt đội hàng tuần vào ngày thứ năm, tạo sân chơi lành mạnh cho các em. Giáo dục tinh thần yêu nước cho các em thông qua việc sưu tầm địa chỉ đỏ, thăm viếng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở địa phương, thăm các chú bộ đội đóng trên địa bàn. 2. Đổi mới công tác chủ nhiệm lớp là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh 2.1.Ý nghĩa GVCN có vai trò rất to lớn trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, vì GVCN là người quản lý toàn diện học sinh của lớp được phụ trách, là cầu nối giữa Ban giám hiệu với các tổ chức trong nhà trường, các giáo viên bộ môn với tập thể lớp, là người cố vấn tổ chức các hoạt động tự quản của lớp, đồng thời là người đứng ra phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của trường. Xuất phát từ thực trạng công tác chủ nhiệm của trường, việc đưa ra các biện pháp giúp GVCN định hướng đổi mới công tác chủ nhiệm cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương mang ý nghĩa quan trọng đối với công tác giáo dục đạo đức học sinh trong giai đoạn hiện nay. 2.2.Nội dung + Tìm hiểu đặc điểm tình hình lớp, tình hình học sinh là góp phần cho công tác chủ nhiệm đạt kết quả cao - Đầu năm học GVCN phải có những thông tin khái quát về gia đình học sinh như: nơi ở, hoàn cảnh sống, lối sống, hoàn cảnh kinh tế gia đình, giáo dục của gia đình, sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái, quan hệ của gia đình láng giềng. Việc tìm hiểu này sẽ giúp GVCN kết hợp tốt với gia đình trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Đầu năm học GVCN phải nắm được đặc điểm học sinh về: sức khỏe, đạo đức, năng lực học tập, động cơ học tập, quan hệ của học sinh với cha mẹ, Ông bà, anh chị em trong gia đình, ở trường với thầy cô và ngoài xã hội, cộng đồng. Việc tìm hiểu học sinh về mọi mặt là rất cần thiết nhưng GVCN phải thấy được nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó. GVCN phải tìm hiểu cơ cấu, lứa tuổi, năng lực học tập, hoạt động, mối quan hệ giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên, sự đoàn kết của lớp mình chủ nhiệm. + Nắm vững đường lối quan điểm của Đảng về công tác giáo dục, mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của học kỳ, năm học Để vận dụng tốt vào công tác chủ nhiệm của mình, GVCN phải nắm vững mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học, kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của học kỳ, năm học. Để cho học sinh thực hiện chủ động, sáng tạo nhiệm vụ của lớp trong phong trào chung, GVCN phải nắm vững kế hoạch, nội dung và cách thực hiện của trường trong tuần, tháng học kỳ và cả năm học. Phải nắm vững tri thức lý luận giáo dục, có nghệ thuật sư phạm, xây dựng và phối hợp tốt các mối quan hệ trong nhà trường và địa phương. + Tìm hiểu tiềm năng của cộng đồng, địa phương, xã hội, theo dõi thời sự trong nước và quốc tế để vận dụng những hiểu biết đó vào công tác chủ nhiệm Để liên kết và phối hợp có hiệu quả giữa nhà trường, đại diện là GVCN với địa phương trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. GVCN cần phải nắm được tình hình thời sự, khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội để bổ sung kiến thực của mình thêm phong phú. + Xây dựng những truyền thống tốt đẹp của lớp Các hoạt động của lớp sẽ trở thành truyền thống nếu nó được lập đi lập lại và trở thành thói quen. Phải trân trọng truyền thống sẳn có của lớp, tiếp tục xây dựng truyền thống mới cho lớp trong điền kiện cụ thể. + Tích cực tham gia vào công tác đánh giá xếp loại hạnh kiểm, xét thi đua, khen thưởng và kỷ luật học sinh với tư cách là người bảo vệ quyền lợi chính đáng cho học sinh. 2.3. Cách làm + Đối Hiệu trưởng Cần thực hiện tốt việc phân công giáo viên chủ nhiệm, lựa chọn những người có phẩm chất và năng lực tốt. Tạo mọi điền kiện, đôn đốc, giúp đỡ GVCN làm tốt những nhiệm vụ, quyền lợi của GVCN quy định tại điều 31- 32 điều lệ trường trung học . Có kế hoạch cụ thể về công tác chủ nhiệm, có chỉ tiêu rèn luyện phấn đấu phù hợp với thực trạng của trường. Thường xuyên thu nhận thông tin về tình hình diễn biến đạo đức của học sinh do GVCN cung cấp, có biện pháp kịp thời nhằm ngăn chặn những tình huống xấu xảy ra. Thường xuyên kiểm tra số sách của giáo viên chủ nhiệm, dự các tiết sinh hoạt lớp của GVCN. Khen thưởng và xử lý kịp thời đúng người, đúng trường hợp. +Đối với GVCN Nghiên cứu lý lịch, hồ sơ học sinh : (học bạ, hoàn cảnh gia đình.) Trao đổi với học sinh để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng xu hướng sở thích của học sinh. Trao đổi với giáo viên bộ môn, về tình hình của lớp. Trao đổi với ban giám hiệu, tổng phụ trách đội, Cha mẹ học sinh để có thêm những thông tin về đối tượng mà GVCN cần tìm hiểu. Thực hiện đầy đủ các loại sổ sách theo quy định, báo cáo trung thực, kịp thời cho ban giám hiệu về tình hình đạo đức của học sinh. Một năm học GVCN đến nhà học sinh ít nhất một lần để nắm thông tin, thuyết phục cha mẹ học sinh tham gia họp đầy đủ. Hàng tháng chuyển sổ liên lạc đến gia đình học sinh đúng thời gian quy định, xử lý thông tin phản hồi kịp thời, có hiệu quả. Khi có tình huống đột xuất xảy ra, phải xử lý khéo léo, liên hệ với Cha mẹ học sinh để giải quyết mau lẹ, có hiệu quả. GVCN phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ, trao dồi đạo đức nhà giáo để xứng đáng là tấm gương tốt cho học sinh noi theo. +Đối với GVBM, các đoàn thể trong và ngoài nhà trường Tích cực hỗ trợ GVCN trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, phản ánh kịp thời với GVCN về tình hình học sinh của lớp. Tham gia đóng góp ý kiến trong việc đánh giá xếp loại Hạnh kiểm, xét kỷ luật học sinh. C. PHẦN KẾT LUẬN Trước thực trạng đạo đức hiện nay của học sinh trường THCS có chiều hướng giảm sút nghiêm trọng, việc giáo dục đạo đức cho học sinh là đòi hỏi cấp bách của xã hội để xây dựng hoàn thiện những giá trị cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế tri thức. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài về giáo dục đạo đức cho học sinh đã giúp cho đội ngũ giáo viên và CBQL xác định đúng tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức học sinh ở nhà trường để có kế hoạch hoàn chỉnh, có sự quan tâm đúng mực trong việc giáo dục học sinh, từ đó giúp cho tập thể sư phạm của trường thấy được nhiệm vụ quan trọng này để ngoài việc dạy chữ cho tốt còn phải lưu tâm, hết lòng giáo dục các em phát triển toàn diện cả tài lẫn đức. Những vấn đề cơ bản về giáo dục đạo đức cho học sinh cũng đã được thể hiện qua hai con đường cơ bản: Con đường dạy học các môn học trong và ngoài nhà trường. Con đường hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường. Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu ngắn, phạm vi nghiên cứu chỉ là trường THCS nên có nhiều vấn đề chưa được phân tích một cách đầy đủ, các biện pháp đưa ra chưa có tính khả thi cao, nhưng ít nhiều nó cũng giúp cho chúng ta thấy được thực trạng của đạo đức học sinh hiện nay, giúp cho chúng ta định hướng lại một số việc cần phải làm trong thời gian sắp tới để góp phần thành công vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Tạp chí Thế giới trong ta - số 74+75 năm 2008-Hội khoa học tâm lý giáo dục Việt Nam. Tài liệu BDTX cho giáo viên THCS chu kỳ 3( 2004-2007) Quyết định số 40/2006/QĐ- BGDĐT về việc ban hành quy chế đánh giá xếp loại học sinh THCS và học sinh THPT. Quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT về việc ban hành điều lệ trường THCS, trường THPT và trường PT có nhiều cấp học.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Chuyên Đề: Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Chưa Ngoan trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!