Đề Xuất 12/2022 # Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Việt Nam Hiện Nay / 2023 # Top 12 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Việt Nam Hiện Nay / 2023 # Top 12 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Việt Nam Hiện Nay / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT

LÊ THỊ THỦY CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2011 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT LÊ THỊ THỦY CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật Mã số : 60 38 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Quốc Hùng

HÀ NỘI – 2011

MỤC LỤC Trang

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 3 1.1. Khái niệm và đặc điểm chức năng xã hội của Nhà nước Việt Nam 3 1.2. Quá trình phát triển của chức năng xã hội của Nhà nước Việt Nam 12 1.3. Vai trò và mối liên hệ giữa chức năng xã hội với các chức năng khác của nhà nước 18

Chương 2: NỘI DUNG CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY 24 2.1. Tình hình kinh tế, chính trị – xã hội của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 24 2.2. Nhiệm vụ, chiến lược của nhà nước Việt Nam hiện nay 25 2.2.1. Nhiệm vụ chiến lược chung 25 2.2.2. Nhiệm vụ, chiến lược cụ thể 26 2.3. Nội dung cơ bản của chức năng xã hội của Nhà nước Việt Nam hiện nay 33 2.3.1. Xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động của đời sống xã hội 33 2.3.2 Xây dựng và đảm bảo thực hiện các chính sách xã hội 34 2.3.3. Đảm bảo cung cấp các dịch vụ công cho xã hội 37 2.3.4. Giải quyết các vấn đề xã hội 43 2.3.5. Bảo trợ và phúc lợi xã hội 63 2.4. Những yếu tố tác động đến chức năng xã hội của Nhà nước Việt Nam hiện nay 69 2.4.1. Yếu tố chính trị 69 2.4.2. Yếu tố kinh tế 70 2.4.3. Yếu tố hội nhập quốc tế 72

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁCH THỨC THỰC HIỆN CHỨC NĂNG XÃ HỘI HIỆU QUẢ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 73 3.1. Phương hướng thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước Việt Nam hiện nay 73 3.1.1. Đổi mới nhận thức về chức năng xã hội của nhà nước 73 3.1.2 Đổi mới nội dung và cách thức thực hiện chức năng xã hội 74 3.1.3. Đổi mới nhận thức về chức năng xã hội của nhà nước là sự kết hợp hài hòa giữa “nhà nước hóa” và “xã hội hóa” 75 3.1.4. Đổi mới chức năng xã hội phải được đặt trong mới quan hệ tổng thể đối mới các chức năng khác của nhà nước 76 3.1.5. Những hạn chế nhất định trong việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước 77 3.2. Những cách thức thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay 79

3.2.1. Tổ chức và kiện toàn bộ máy nhà nước 79 3.2.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật 82

Danh môc tµi liÖu tham kh¶o 94 1 MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài Chức năng xã hội là một trong những chức năng quan trong, thể hiện rõ nét bản chất “nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cùng với chức năng chính trị, chức năng kinh tế, chức năng xã hội của nhà nước là một chuỗi các phương diện hoạt động chính của nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của nhà nước, là các hoạt động có quá trình hình thành và phát triển và được thể hiện rõ rệt theo từng giai đoạn phát triển của nhà nước Việt Nam. Mặc dù chức năng xã hội là một trong những chức năng nguyên thủy của Nhà nước, xuất hiện ngay từ khi xuất hiện nhà nước. Song đây lại là một vấn đề lý luận tương đối mới mẻ so với các nội dung khác trong lý luận về Nhà nước và pháp luật. Ở nước ta, chức năng này mới được đề cập rộng rãi trong những năm gần đây của thời kỳ đổi mới. Và trên phương diện lý luận và thực tiễn, đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về vai trò, phạm vi, nội dung, phương thức thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước. Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc đảm bảo thực hiện đúng chức năng xã hội của nhà nước trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn tiến tới xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, so nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân và giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” [23, Điều 2]. Mặt khác, sự hội nhập và phát triển của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay dẫn đến việc phát sinh những vấn đề xã hội rộng rãi và phổ biến đòi hỏi Nhà nước phải quản lý và điều tiết để đảm bảo sự phát triển bền vững của nhà nước Việt Nam.

3 Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƢỚC VIỆT NAM

1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƢỚC VIỆT NAM Nhà nước là hiện tượng xã hội vô cùng phức tạp, có lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển riêng của nó. Nhà nước xuất hiện và tồn tại trong lịch sử xã hội loài người với những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng: Xã hội loài người hiện nay được thoát thai từ một xã hội thị tộc với ba lần phân công lao động: Lần thứ nhất, chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, lần thứ hai thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp, và lần thứ ba thương mại xuất hiện, trở thành một ngành kinh tế độc lập. Đồng thời với sự phân công lao động là việc xuất hiện các giai cấp đối lập nhau, luôn luôn mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt với nhau. Do đó, tổ chức thị tộc không còn đủ khả năng điều hành xã hội, đòi hỏi phải có một tổ chức mới về chất để duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội theo một trật tự hợp lý, tổ chức đó được gọi là nhà nước. Bên cạnh đó, nhu cầu phải chống thiên tai, bão lụt, đảm bảo sự tồn tại của con người trước thiên nhiên cũng là một trong những nguyên nhân không kém phần quan trọng của sự ra đời của nhà nước. Và điều đó cũng chứng minh rằng nhà nước “không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội” mà là “một lực lượng nẩy sinh từ xã hội”, do nhu cầu của chính con người. Nhà nước như là “một lực lượng tựa hồ như đứng trên xã hội”, vì “không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, nhưng lại có chức năng làm dịu bớt xung đột và giữ cho những xung đột đó nằm trong một trật tự nhất định để cho sản xuất phát triển và xã hội loài người không thể đi đến chỗ diệt vong” [13, tr. 26].

4 Từ khi ra đời, nhà nước giữ một vị trí và vai trò quan trọng trong xã hội có giai cấp thể hiện trong mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội, giữa nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội. Xã hội là cơ sở cho sự phát sinh, phát triển và diệt vong của nhà nước. Ngược lại, Nhà nước là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được của xã hội có giai cấp. Nhờ có nhà nước tác động toàn diện, mạnh mẽ đến đời sống xã hội và giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện những lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị và duy trì những điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Các chức năng của nhà nước được hình thành xuất phát từ nhiệm vụ duy trì sự thống trị giai cấp và duy trì sự tồn tại, phát triển của toàn xã hội. Mỗi chức năng của nhà nước thể hiện sự thống nhất về tổ chức, hình thức và biện pháp thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hoạt động của nhà nước, gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước. Chức năng của nhà nước phản ánh bản chất, vai trò và vị trí của nhà nước đối với xã hội. “Chức năng của nhà nước là những phương hướng (hay phương diện, mặt hoạt động cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của nhà nước trong các giai đoạn phát triển cụ thể”. Chức năng xã hội là một trong những chức năng cơ bản của nhà nước. Đây không phải là một khái niệm mới xuất hiện. Ph. Ăngghen không những thừa nhận chức năng xã hội của nhà nước tồn tại từ ngay khi nhà nước mới ra đời mà còn khẳng định chức năng xã hội trong nhiều trường hợp còn nổi bật hơn chức năng chuyên chính giai cấp: Nhà nước mà những nhóm tự nhiên gồm các công xã trong cùng một bộ lạc đã đi đến chỗ thiết lập ra trong quá trình tiến triển của họ (như việc tưới nước ở phương Đông)… Trên cơ sở phân hóa xã hội, yêu cầu tổ chức công trình tưới nước và yêu cầu đấu tranh tự vệ làm cho nhiều nhà nước phương Đông ban đầu vốn là chức năng chung của xã hội, tiêu biểu cho lợi ích chung của cộng đồng rồi dần dần chuyển sang địa vị đối lập với xã hội, trở thành chức năng của nhà nước đối với xã hội [1].

5 Trong nhà nước chiếm hữu nô lệ và nhà nước phong kiến, chức năng xã hội mang nặng màu sắc giai cấp, đẳng cấp. Nhà nước bảo vệ lợi ích của giai cấp, của nhóm xã hội trên cơ sở địa vị của giai cấp, nhóm xã hội đó trong cơ cấu xã hội. Sự phân biệt đối xử, sự bất bình đẳng đó được pháp luật ghi nhận công khai. Ngoài trách nhiệm của nhà nước trong bảo vệ trật tự an toàn xã hội và các công việc chung khác trong lĩnh vực xã hội, hoạt động của nhà nước hầu hết được nhận thức như là những hành vi mang tính chất ban ơn, ân huệ, từ thiện, thường được gọi là những chính sách an dân. Khi nhà nước tư sản ra đời, vị trí cá nhân của con người được chú trọng trên mọi phương diện so với các chế độ xã hội trước đó, quyền con người, quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật đã được công nhận về mặt pháp lý nên tính xã hội và chức năng xã hội của Nhà nước tư sản rõ nét hơn. Trong những năm gần đây, chức năng xã hội chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động của nhà nước tư sản. Nhà nước tư sản giải quyết các vấn đề xã hội chủ yếu thông qua hệ thống trợ cấp xã hội, thông qua việc can thiệp vào các quá trình kinh tế để giải quyết các vấn đề xã hội chủ yếu thông qua hệ thống trợ cấp xã hội, thông qua việc can thiệp vào các quá trình kinh tế để giải quyết các khía cạnh xã hội như tạo công ăn việc làm, điều tiết thu nhập, bảo hộ người tiêu dùng… Nguyên nhân cơ bản của sự thay đổi này là do phong trào đấu tranh của quần chúng lao động, do mâu thuẫn xã hội gay gắt và do mục đích của giai cấp tư sản muốn thu hút lực lượng đáng kể chống lại chủ nghĩa xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới có bản chất khác với kiểu nhà nước bóc lột (phong kiến, tư sản), là nhà nước của đại đa số dân cư trong xã hội và thực thi quyền lực vì quyền lợi và lợi ích trước hết của giai cấp công nhân và nhân lao động. Đề cập đến chức năng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, trong khi chú trọng đến chức năng giai cấp, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn coi chức năng xã hội là thuộc tính cơ bản nhất và quan trọng nhất của nó. Nói về vấn đề này, V.I. Lênin cho rằng, chuyên chính

6 vô sản không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột và cũng không phải chủ yếu là bạo lực, mà mặt cơ bản của nó là không ngừng mở rộng dân chủ cho nhân dân cùng với việc tổ chức, xây dựng toàn diện xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Ông viết: “Lần đầu tiên chuyên chính vô sản, tức là thời kỳ quá độ tiến tới chủ nghĩa cộng sản, sẽ đem lại một chế độ dân chủ cho nhân dân, cho số đông, đi đôi với sự trấn áp tất yếu đối với số ít, đối với bọn bóc lột”. Như vậy, có thể nói, bản thân chuyên chính vô sản, theo quan điểm mácxít, tự nó đã thể hiện sự thống nhất giữa chức năng giai cấp và chức năng xã hội của nhà nước. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa – xã hội không còn các giai cấp đối kháng, nhà nước xã hội chủ nghĩa vẫn thực hiện hai chức năng cơ bản, nhưng cơ chế và mục đích thực hiện hai chức năng đó đã có sự thay đổi căn bản. Cũng như mọi nhà nước khác đã từng tồn tại trong lịch sử, nhà nước xã hội chủ nghĩa muốn thực hiện được chức năng giai cấp của mình, trước hết phải làm tốt chức năng xã hội, đặc biệt là việc không ngừng mở rộng dân chủ cho nhân dân, sử dụng sức mạnh, lực lượng của mình để bảo vệ và bảo đảm tuyệt đối các quyền tự do dân chủ cho nhân dân. Thực hiện tốt chức năng xã hội là cơ sở, là điều kiện tiên quyết để nhà nước xã hội chủ nghĩa đảm bảo và giữ vững địa vị thống trị xã hội về mặt chính trị, nghĩa là có đầy đủ khả năng để trấn áp sự phản kháng của các giai cấp bóc lột và các thế lực thù địch. Điều này có nghĩa là, chức năng giai cấp và chức năng xã hội luôn có mối quan hệ biện chứng, cái nọ làm tiền đề và là cơ sở cho cái kia. Tuy nhiên, trong điều kiện giai cấp vô sản đã giành được chính quyền và thiết lập được nhà nước của mình, thì chức năng giai cấp là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; còn chức năng xã hội (mà trong đó, việc tổ chức xây dựng xã hội mới là chủ yếu) là nhiệm vụ cơ bản, quyết định trực tiếp sự thắng lợi hay thất bại của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự khác nhau căn bản giữa việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhà nước tư bản chủ nghĩa là ở chỗ, nhà nước tư bản chủ nghĩa thực hiện chức năng xã hội không phải với tư

7 cách là mục đích, mà là phương tiện để củng cố, đảm bảo sự thống trị chính trị và kinh tế của thiểu số trong xã hội là giai cấp tư sản đối với đa số là giai cấp công nhân và những người lao động khác. Theo đó, việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước tư bản chủ nghĩa luôn bị giới hạn trong một phạm vi chật hẹp và bị chi phối bởi quan điểm của giai cấp tư sản, xuất phát từ những lợi ích kinh tế và chính trị ích kỷ của một thiểu số dân cư trong xã hội. Ngược lại, việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước xã hội chủ nghĩa được xác định là mục đích chứ không phải là phương tiện để nhà nước ấy đảm bảo sự thống trị chính trị của nó. Chức năng xã hội của nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhằm đảm bảo quyền dân chủ cho đại đa số những người lao động, xây dựng những thiết chế, cơ sở để quyền làm chủ đó được thực hiện một cách thực sự trong thực tế. Trong các chế độ xã hội khác nhau, xuất phát từ bản chất xã hội và vai trò xã hội của nhà nước, tất cả các nhà nước đều đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức thực hiện và quản lý những công việc chung nảy sinh từ sự tồn tại, phát triển của toàn bộ cộng đồng, cải thiện chất lượng của cuộc sống cho người dân nên bất kì một nhà nước nào cũng thực hiện chức năng xã hội. Tuy nhiên, do sự khác biệt về bản chất nhà nước, về điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi nhà nước mà chức năng xã hội của mỗi nhà nước có thể có những nội dung, phương thức thực hiện khác nhau và luôn thay đổi tương ứng với sự phát triển và tiến bộ của xã hội, tương ứng với vai trò của Nhà nước trong việc tác động vào các quá trình xã hội. Chức năng xã hội của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước thể hiện bản chất chính trị – xã hội của nhà nước trong việc thực hiện các trách nhiệm, nhiệm vụ xã hội ở các giai đoạn phát triển lịch sử nhất định. Chức năng xã hội của nhà nước Việt Nam có vai trò to lớn trong việc khẳng định bản chất, uy tín của nhà nước, tính nhân đạo, tính ưu việt và mục tiêu định hướng xã hội chủ nghĩa. Chức

8 năng xã hội của nhà nước ta chịu sự chi phối của các yếu tố như chính trị, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, truyền thống văn hóa, đạo đức, tâm lý dân tộc… Chức năng xã hội của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay khác với chức năng xã hội của các nhà nước tư bản chủ nghĩa trên thế giới và cũng khác với chức năng xã hội của nhà nước ta trong các giai đoạn trước đây. Về lý luận chung, chức năng xã hội thể hiện bản chất (tính xã hội Nhà nước) và ngược lại bản chất của nhà nước được thể hiện thông qua các chức năng của nhà nước, được cụ thể hóa và thực hiện trong nhiều mặt hoạt động của nhà nước. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng, một nhà nước sẽ không thể tồn tại nếu nó chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà không tính đến lợi ích của các tầng lớp khác trong xã hội. Vì vậy, ngoài tư cách là bộ máy nhằm duy trì sự thống trị của giai cấp này với giai cấp khác, nhà nước là tổ chức chính trị xã hội rộng lớn bao gồm mọi giai cấp, tầng lớp, dân tộc, là phương tiện tổ chức bảo đảm lợi ích chung của xã hội. Bất kì một nhà nước nào, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong xã hội, duy trì trật tự an toàn xã hội, ổn định và phát triển, thực hiện hoạt động này hay hoạt động khác phù hợp với yêu cầu của xã hội. Nhà nước còn giải quyết các công việc mang tính xã hội chung mà cá nhân, công dân không thể giải quyết được như xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường… Tất cả các nhà nước đều thực hiện chức năng xã hội, nhưng do sự khác biệt về bản chất nhà nước, về điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi nhà nước mà chức năng xã hội của nhà nước được thực hiện khác nhau. Trong nhà nước chiếm hữu nô lệ và nhà nước phong kiến, do bản chất nhà nước của hai hình thức nhà nước này là công cụ bạo lực để thực hiện nền chuyên chính của giai cấp chủ nô và giai cấp địa chủ phong kiến, duy trì địa vị kinh tế của

9 hai giai cấp này nhằm thực hiện sự thống trị đối với toàn xã hội, cho nên chức năng xã hội của hai hình thức nhà nước này mang nặng màu sắc giai cấp, đẳng cấp. Nhà nước chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp, của nhóm xã hội thuộc giai cấp thống trị. Chức năng xã hội thể hiện mờ nhạt vì các nhà nước này tập trung vào chức năng chính trị như chức năng bảo vệ và củng cố chế độ sở hữu, chức năng đàn áp sự phản kháng của giai cấp bị trị bằng bạo lực, chức năng thống trị về tư tưởng, chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược và phòng thủ chống xâm lược… Chức năng xã hội của nhà nước trong những hình thức nhà nước này được thể hiện như một hình thức ban ơn, ân huệ, từ thiện. thường được gọi là những chính sách an dân. Trong nhà nước tư sản, chức năng xã hội được thể hiện rõ nét hơn, nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội như việc làm, thất nghiệp, dân số, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, vấn đề bảo trợ xã hội cho người già hoặc thất nghiệp, các tệ nạn xã hội. Tuy nhiên, bản chất của nhà nước tư sản vẫn là công cụ thống trị giai cấp của giai cấp tư sản, việc nhà nước tư sản thể hiện rõ chức năng xã hội của nhà nước nhằm xoa dịu mâu thuẫn gay gắt trong xã hội và do mục đích của giai cấp tư sản muốn thu hút lực lượng để chống lại chủ nghĩa xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa với bản chất là nhà nước của đại đa số cư dân trong xã hội. Điều 2 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định: “Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức” [23], thể hiện rõ bản chất nhà nước của dân, do dân và vì dân: Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước dưới nhiều hình thức khác nhau như thông qua bầu cử lập ra các cơ quan đại diện quyền lực của mình, kiểm tra, giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước… Nhà nước Việt Nam là nhà nước của tất cả các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, là biểu hiện tập trung của khối đại đoàn kết dân tộc anh em, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở bình đẳng trong các mối quan hệ giữa nhà nước và công dân.

10 Nhà nước thể hiện tính dân chủ rộng rãi, một mặt tạo điều kiện thuận lợi về chính trị, pháp lý, kinh tế để đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế quốc dân, mặt khác quan tâm mạnh mẽ đến việc giải quyết các vấn đề xã hội, quan tâm phát triển văn hóa giáo dục, bảo vệ sức khỏe của nhân dân, tôn trọng các giá trị con người. Bên cạnh đó, bản chất của nhà nước còn được thể hiện ở chính sách đối ngoại thể hiện khát vọng hòa bình, mong muốn hợp tác trên tinh thần hữu nghị, cùng có lợi với tất cả các quốc gia trên thế giới. Chức năng xã hội của nhà nước thể hiện tính quyền lực và tính dân chủ của nhà nước. Chức năng xã hội là một trong những chức năng cơ bản của nhà nước, là phương diện hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xã hội, là một trong những hình thức thể hiện quyền lực nhà nước, luôn gắn liền với cơ cấu quyền lực nhà nước. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong bất kì xã hội có giai cấp nào, quyền lực nhà nước cũng vẫn là quyền lực của giai cấp thống trị, là công cụ chuyên chính của một giai cấp, thể hiện trên ba phương diện: thống trị về chính trị, về kinh tế và về tư tưởng đồng thời duy trì những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội. Việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước cũng là một trong những hình thức thể hiện tính quyền lực của nhà nước. Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước dân chủ, tức là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực thông qua các cơ quan đại diện, thông qua các hình thức khác để tham gia vào hoạt động quản lý của nhà nước, tác động mạnh mẽ đến quá trình hoạch định chính sách đường lối của Đảng và nhà nước, cũng như vào các hoạt động quản lý điều hành. Bên cạnh đó nhân dân tham gia công việc của nhà nước và xã hội ở cơ sở trong các hoạt động đa dạng nhằm bảo vệ của công, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân và trật tự an toàn xã hội, tổ chức đời sống công cộng. Nhân dân ta, người chủ của quyền lực, không chỉ tạo lập nên nhà nước của mình, trực tiếp và thông qua các cơ quan đại diện cho mình thực thi quyền lực, mà còn thông qua các hình thức khác để tham gia vào hoạt động quản lý của nhà nước, tác động mạnh mẽ đến quá trình hoạch định chính sách

11 đường lối của Đảng và nhà nước, cũng như các hoạt động lập pháp, hoạt động quản lý điều hành, công tác xét xử và các hoạt động bảo vệ pháp luật. Điều 53 của Hiến pháp đã ghi nhận: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội…”. Ở những mức độ khác nhau, nhân dân có thể tác động một cách tích cực vào quá trình thực hiện quyền lực của nhà nước. Hiến pháp và pháp luật của nhà nước ta đã có nhiều quy định cụ thể để hiện thực hóa khả năng đó. Nhà nước phát triển công tác thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, xuất bản, thư viện và các phương tiện thông tin đại chúng khác, khuyến khích phát triển các hình thức hoạt động văn học, nghệ thuật. Đó là kênh cực kỳ quan trọng để qua đó nhân dân góp tiếng nói của mình vào quá trình hoạch định đường lối của Đảng, xây dựng chính sách và pháp luật của nhà nước. Đảng và Nhà nước đã tạo ra mọi điều kiện để công dân có thể sử dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền khiếu nại, quyền tố cáo vơi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại. tố cáo được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định, Chính phủ thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng mà Chính phủ phải giải quyết. Hiến pháp cũng quy định trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của địa phương… Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước dân chủ, quyền lực thuộc về nhân dân nhưng để thực hiện được dân chủ thực sự, phải thu hút được các tầng lớp lao động tham gia một cách rộng rãi và thật sự bình đẳng vào quản lý công việc nhà nước và xã hội. Trên phương diện pháp lý, trình độ dân chủ thể hiện ở chỗ pháp luật ghi nhận và bảo đảm các quyền dân chủ cho công dân được thực hiện như thế nào, là sự thể hiện của việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Trong xã hội dân chủ, hoạt động của nhà nước chỉ thể hiện trong những “khoảng hợp pháp” chứ không phải bao trùm

12 lên toàn bộ đời sống xã hội. Chủ trương xã hội hóa trong việc thực hiện các chức năng cua nhà nước trong đó có chức năng xã hội hiện nay là một biểu hiện rõ nét của chế độ dân chủ. Chức năng xã hội của nhà nước tồn tại một cách tất yếu khách quan, bắt nguồn từ bản chất và thể hiện bản chất chung của nhà nước, trong đó chức năng giai cấp giữ vai trò định hướng, chi phối chức năng xã hội và chức năng xã hội là điều kiện, cơ sở xã hội để thực hiện chức năng giai cấp. Chức năng xã hội của nhà nước có nội dung khác nhau ở mỗi giai đoạn phát triển của xã hội. Ngay từ khi xuất hiện, nhà nước thể hiện vai trò trên hai phương diện cơ bản là công cụ bảo vệ giai cấp và quản lý những công việc chung của xã hội, tức là thực hiện hai chức năng: chức năng thống trị giai cấp và chức năng xã hội. Cuộc sống xã hội bao gồm rất nhiều lĩnh vực vận động. Các lĩnh vực đều cần có sự tác động của nhà nước – sự tác động được thực hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau. Mỗi lĩnh vực ấy có những quy luật vận động đặc thù, do vậy đòi hỏi ở nhà nước một sự tác động cũng đặc thù, phù hợp với từng đặc điểm của từng lĩnh vực. 1.2. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƢỚC VIỆT NAM Chức năng xã hội của nước ta là một trong những chức năng cơ bản và nhất quán trong toàn bộ lịch sử phát triển của nhà nước Việt Nam. Ở Việt Nam, con đường hình thành nhà nước diễn ra có sự khác biệt. Theo tư liệu lịch sử, đặc biệt là về mức độ chênh lệch tài sản trong mộ táng, thì sự phân hóa giai cấp trong xã hội chưa sâu sắc, chưa dẫn đến mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Nhưng sở dĩ nhà nước vẫn được hình thành vì có hai yếu tố đặc biệt và quan trọng thúc đẩy, đó là: công cuộc chống ngoại xâm và công cuộc trị thủy – thủy lợi. Trải qua thời kỳ phát triển lâu dài, sự phát triển của sức sản xuất tạo ra sản phẩm dư thừa. Mặt khác, do nhu cầu bức thiết và sống còn của công cuộc trị thủy thủy lợi và chống giặc ngoại xâm,

13 Hùng Vương vốn là tù trưởng một bộ lạc đã đứng ra thống nhất các bộ lạc khác và trở thành thủ lĩnh của liên minh bộ lạc, trở thành người chỉ huy quân sự tối cao và người điều hành cao nhất trong công cuộc trị thủy – thủy lợi. Lợi dụng uy tín và địa vị đó, Hùng Vương và các con cháu của mình, dần dần theo cách nói của Ph Angghen, từ việc đảm nhận “chức năng xã hội” tiêu biểu cho lợi ích chung đã chuyển sang “địa vị độc lập với xã hội” và vươn lên thống trị xã hội, biến thành ông vua cùng bộ máy cai trị giúp việc của mình. Trải qua các giai đoạn chính quyền đô hộ nghìn năm của phong kiến Trung Quốc, thế kỷ thứ X đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, kết thúc thời kì thống trị hà khắc và nguy hiểm của phong kiến nước ngoài, giành độc lập dân tộc. Nhà nước đầu tiên, và nhà nước hầu hết qua các triều đại, chính quyền nhà nước đều phải đứng ra đảm nhận vai trò tổ chức toàn thể dân tộc chống giặc ngoại xâm và vai trò trị thủy và thủy lợi. Chức năng xã hội của nhà nước được hình thành từ khi xuất hiện nhà nước và duy trì trong suốt quá trình phát triển của mình. Trong suốt thời kỳ bị thực dân Pháp thống trị, dân tộc ta đã liên tục đấu tranh quật khởi giành độc lập dân tộc. Và ngay từ những ngày đầu mới thành lập, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ đã tập trung giải quyết ba nhiệm vụ lớn: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Mặc dù, đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh với bao khó khăn chồng chất, nhưng ở các địa phương, chính quyền cách mạng đã từng bước mang lại quyền lợi cho nhân dân như giảm tô, giảm tức, bảo vệ an ninh trật tự xã hội. Đặc biệt là việc kịp thời tiến hành cải cách ruộng đất để “người cày có ruộng”, thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân pháp, đế quốc xâm lược khác và của địa chủ Việt Nam. Nhà nước chú trọng việc xây dựng các văn bản pháp luật quy định và đảm bảo các quyền tư do dân chủ của công dân Việt Nam như: Sắc lệnh ngày 8/9/1945 về quyền bầu cử; Sắc lệnh số 51 ngày 17/10/1945 về tổng tuyển cử; Sắc lệnh ngày 29/03/46 về quyền tự do báo chí; Sắc lệnh ngày 22/4/1946 về quyền tự do hội họp. Và đặc biệt là Hiến pháp 1946 được Quốc

14 hội thông qua ngày 9/11/1946 với 1 chương ghi nhận và đảm bảo những quyền cơ bản của công dân. Trong giai đoạn này bên cạnh việc ghi nhận các quyền tự do cơ bản của công dân, Đảng và Nhà nước ta còn ý thức tầm quan trọng của giáo dục đào tạo, xác định con người luôn vừa là động lực vừa là mục đích của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu và khẳng định ba nhiệm vụ lớn của chính quyền: là diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Và người đã ký 3 sắc lệnh: Sắc lệnh số 17 thành lập bình dân học vụ, Sắc lệnh số 19 cho phép lập lớp bình dân học vụ vào buổi tối cho người nông dân và thợ thuyền, Sắc lệnh số 20 quy định việc học chữ quốc ngữ là bắt buộc và không mất tiền. Nhiều lớp học, trường học ở các cấp học đã được mở ra, hệ thống giáo dục mới của nước ta được bắt đầu hình thành. Để tránh giặc đói, nhà nước đã thủ tiêu những luật lệ hạn chế việc chuyên chở thóc gạo cho Pháp, Nhật đặt ra trước đây và thay bằng một loạt quyết định mới, tìm mọi biện khôi phục và phát triển sản xuất bằng việc bãi bỏ những thể lệ kìm hãm sản xuất công thương và lưu thông hàng hóa, cải cách chế độ thuế thóc, bãi bỏ các thứ thuế nô dịch, bất công giảm gánh nặng cho dân chúng. Trong giai đoạn 1954 – 1975, mặc dù đất nước tồn tại song song hai chính quyền cách mạng với hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau: miền Nam đấu tranh giành và xây dựng chính quyền cách mạng, bên cạnh đó Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam còn đề ra và thực hiện những nhiệm vụ cụ thể, trong đó có nhiệm vụ: xây dựng nền văn hóa giáo dục dân tộc và tiến bộ, xóa nạn mù chữ, mở rộng trường học, cải cách chế độ học tập và thi cử, thực hiện nam nữ bình quyền, bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc, thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi và tiến bộ… còn miền Bắc xây dựng Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, khôi phục kinh tế, cải cách xã hội chủ nghĩa, đấu tranh thi hành Hiệp định Gienevơ, thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm, vừa xây dựng kinh tế vừa đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc

15 bằng không quân của đế quốc Mỹ, đấu tranh ngoại giao và ký kết Hiệp định Pari về Việt Nam, chi viện kịp thời và to lớn cho cách mạng miền Nam. Nhìn chung trong giai đoạn 1954 – 1975, chức năng xã hội của nhà nước đều được thực hiện trên cơ sở nền kinh tế lạc hậu, phụ thuộc vào sự viện trợ từ bên ngoài. Đất nước trong giai đoạn chiến tranh bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau, song Nhà nước ta vẫn xây dựng một hậu phương vững chắc, động viên cao độ sức người, sức của cho tiền tuyến, quyết tâm giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Chức năng xã hội của nhà nước trong giai đoạn này chưa được bộc lộ rõ so với chức năng chuyên chính giai cấp và chức năng kinh tế, và việc thực hiện chức năng xã hội trong giai đoạn này phần lớn nhờ vào việc thực hiện chức năng khác của nhà nước và chủ yếu là chức năng kinh tế. Trong giai đoạn 1976 – 1986, đất nước hòa bình, thống nhất và bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, nhưng do mắc phải những sai lầm chủ quan duy ý chí, ấu trĩ tả khuynh, duy trì quá lâu cơ chế quản lý cũ dẫn đến nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) là mốc quan trọng dẫn đến sự chuyển đổi trong nhận thức và tư duy của Đảng: Xác định đổi mới kinh tế là trọng tâm, là cơ sở cho việc đổi mới từng bước hệ thống chính trị. Chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường và theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị phải được đổi mới từng bước vững chắc, giữ vững ổn định chính trị tạo điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới kinh tế. Cơ sở lý luận của công cuộc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, chức năng xã hội của nhà nước được thực hiện phiến diện. Các đối tượng được hưởng các chế độ bảo đảm và dịch vụ công chủ yếu là người lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp, trong các cơ quan và đơn vị kinh tế nhà nước. Với nguyên tắc thực

16 hiện phân phối công bằng, trực tiếp, trên cơ sở các chỉ tiêu kế hoạch cụ thể thậm chí nhà nước xác định cụ thể tới những nhu cầu tối thiểu của từng cá nhân về ăn, ở, mặc, chăm sóc sức khỏe… Tất cả được thực hiện với nguồn kinh phí của nhà nước, tất cả đều dựa vào nhà nước. Với nên kinh tế thị trường, ngoài việc thực hiện các chế độ đối với những đối tượng trên, Nhà nước đã thực sự quan tâm đến tầng lớp nhân dân khác, đặc biệt là nông dân, nông thôn và những vùng đặc biệt khó khăn. Đảm bảo đời sống tối thiểu cho mọi thành phần dân cư trong xã hội bằng cách tạo mọi điều kiện, cơ hội để mọi thành viên trong xã hội cùng phát triển theo khả năng của mình, bảo đảm cho mọi người sống trong môi trường xã hội an toàn, lành mạnh, mọi người đều được quan tâm chăm sóc, thụ hưởng các phúc lợi về giáo dục, y tế, văn hóa… Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, việc xây dựng một nhà nước thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân (theo Hiến pháp năm 1992) là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Điều này lại một lần nữa khẳng định bản chất giai cấp và chức năng giai cấp của nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân vẫn được giữ vững, đồng thời chức năng xã hội, bản chất xã hội của nhà nước được xác định một cách rõ ràng hơn. Chức năng xã hội của nhà nước trong giai đoạn này có sự thay đổi về nội dung và phương thức thực hiện, xuất hiện từ yêu cầu đòi hỏi khách quan của xã hội nhằm đáp ứng đòi hỏi của chính sự vận động và phát triển của xã hội. Từ sự thay đổi cơ chế kinh tế, hàng loạt các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình kinh tế như: việc làm, thu nhập, văn hóa, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội… đòi hỏi phải có sự kiểm soát từ phía nhà nước. Dân chủ trong kinh tế đòi hỏi dân chủ trong lĩnh vực xã hội phải được phát huy, nhân dân ngày càng tham gia tích cực vào việc giải quyết các công việc nhà nước, công việc xã hội. Vị trí và vai trò của nhà nước chuyển dần từ vai trò “một người bảo trợ” chung cho toàn xã hội chuyển sang thành “người cầm lái”, khởi xướng và tổ chức các hoạt động xã hội, là chủ thể hoạch định và thực thi các chính sách xã hội. Một

18 có công, người được hưởng chính sách xã hội, phân phối thu nhập xã hội công bằng, hợp lý, tạo động lực phát triển mạnh, góp phần phòng, chống tiêu cực, tệ nạn xã hội. Nhà nước xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụ công thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân về giáo dục và đào tạo, giải quyết việc làm, chăm sóc sức khỏe, văn hóa, thông tin, thể thao… Những tiền đề cơ bản của công cuộc đổi mới và những chuyển biến tích cực của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng công quyền và chức năng xã hội theo cơ chế mới, ngày càng thích ứng với điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay không thể tách rời vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đã làm cho công việc thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước tiến những bước quan trọng. 1.3. VAI TRÒ VÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHỨC NĂNG XÃ HỘI VỚI CÁC CHỨC NĂNG KHÁC CỦA NHÀ NƢỚC Chức năng xã hội là chức năng cơ bản của nhà nước, mọi nhà nước đều phải thực hiện việc quản lý những hoạt động chung đồng thời phải chăm lo một số việc chung của toàn xã hội. Ph. Ăngghen đã viết: “Ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị, và sự thống trị chính trị cũng chí kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội của nó”. Cũng như mọi nhà nước khác đã từng tồn tại trong lịch sử, nhà nước xã hội chủ nghĩa muốn thực hiện chức năng giai cấp của mình trước hết phải làm tốt chức năng xã hội, đặc biệt là việc không ngừng mở rộng dân chủ cho nhân dân, sử dụng sức mạnh, lực lượng của mình để bảo vệ và bảo đảm tuyệt đối các quyền tự do dân chủ của nhân dân. Thực hiện tốt chức năng xã hội là cơ sở, điều kiện tiên quyết để nhà nước đảm bảo và giữ vững địa vị xã hội về mặt chính trị, nghĩa là có đầy đủ khả năng để trấn áp sự phản kháng của các giai cấp bóc lột và các thế lực thù địch.

19 Chức năng xã hội thể hiện bản chất của nhà nước, là cơ sở để xác định và đánh giá bản chất nhà nước: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức” [23, Điều 2]. Bản chất của Nhà nước ta là nhà nước của toàn thể nhân dân, nhân dân thiết lập nên nhà nước bằng quyền bầu cử, sử dụng quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực và thông qua hình thức giám sát, kiểm tra, khiếu kiện các quyết định của nhà nước làm thiệt hại đến quyền lợi của họ hoặc tham gia góp ý kiến vào các dự án, chính sách, pháp luật. Bản chất của nhà nước ta còn được thể hiện ở khối đại đoàn kết dân tộc, tính dân tộc được phát huy nhờ kết hợp tính giai cấp, nhân dân và tính thời đại. Nhà nước thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh”. Nhà nước quan tâm đến việc giải quyết các vấn đề xã hội, chú trọng phát triển giáo dục, y tế, văn hóa…, các chính sách xã hội thể hiện tinh thần nhân đạo. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Công dân có đầy đủ quyền tự do dân chủ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đồng thời công dân cũng tự giác thực hiện mọi nghĩa vụ trước nhà nước. Về phần mình, nhà nước cũng tôn trọng các quyền tự do dân chủ của công dân và ghi nhận đả bảo cho các quyền đó được thực hiện đầy đủ. Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa còn được thực hiện qua các chính sách đối ngoại của nhà nước thể hiện khát vọng hòa bình, hữu nghị “Việt Nam mong muốn được làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”. Việc nhà nước thực hiện chức năng đối ngoại đúng đắn sẽ đảm bảo cho nhân dân quyền được sống trong môi trường chính trị ổn định, không có bạo lực và đảm bảo quyền được giao lưu học hỏi với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chức năng của nhà nước thể hiện vai trò của nhà nước trong việc cung cấp các hàng hóa công cộng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Nhà

20 nước có thể tập trung cung cấp những hàng hóa công thuần túy như: quyền sở hữu tài sản, sư ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát những căn bệnh truyền nhiễm, nước sạch, đường sá và bảo vệ người nghèo. Hay nhà nước có thể tiến hành quản lý những tác động nhằm giảm ô nhiễm môi trường, điều tiết thị trường chống độc quyền và cung cấp các chính sách bảo hiểm xã hội… Chức năng xã hội của nhà nước góp phần khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường tuy có nhiều điểm mạnh nhưng bản thân nó vốn có những giới hạn, những khuyết tật mang tính tự phát hết sức bướng bỉnh. Hơn thế nữa, quan hệ thị trường còn là môi trường thuận lợi để phát sinh nhiều tiêu cực và tệ nạn xã hội. Thực tiễn hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới vừa qua cho thấy, bên cạnh tác động tích cực là cơ bản, những tác động tiêu cực do mặt trái của kinh tế thị trường gây ra cũng hết sức nghiêm trọng, đặc biệt trên phương diện tư tưởng, đạo đức, lối sống. Chúng ta mới áp dụng cơ chế thị trường chưa được bao nhiêu, song bên cạnh những thành tựu, chúng ta đã phải trả giá không nhỏ cho những hiện tượng tiêu cực, như do cách làm ăn thuần túy chạy theo lợi nhuận đã dẫn đen các hình thức lừa đảo hối lộ, trốn thuế, nợ nần khó trả, do thương mại hóa một cách tràn lan, xâm nhập cả vào các lĩnh vực dễ thương tổn như y tế, giáo dục, văn hóa đã làm cho các giá trị đạo đức, tinh thần bị băng hoại và xuống cấp, đồng tiền đã chi phối nhiều quan hệ giữa người với người, sự phân hóa giàu nghèo và bất công xã hội có chiều hướng tăng lên, lối sống ích kỷ, thực dụng có nguy cơ ngày càng tăng Do đó, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định nền kinh tế thị trường mà chúng ta cần xây dựng là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục đích của nền kinh tế đó là: “Phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hưu, quản lý và phân phối” [9].

21 Về sở hữu, tồn tại sở hữu toàn dân, tập thể và sở hữu tư nhân. Nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trực tiếp hay thông qua khâu trung gian nhất định tham gia vào quá trình hoạch định, tổ chức, giám sát, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch phát triển của đất nước. Và trên lĩnh vực phân phối nhà nước ưu tiên phân phối theo lao động và phúc lợi xã hội, kết hợp tăng trưởng kinh té với việc thực hiện công bằng xã hội, hoạch định các chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa… Chức năng xã hội của nhà nước mang lại sự ổn định về mặt xã hội. Việc đảm bảo phúc lợi xã hội ngày một gia tăng nhờ hiệu quả tác động của chính sách kinh tế tiến bộ, nhà nước đảm bảo sự công bằng trong xã hội (địa vị pháp lý ngang nhau thụ hưởng ngang nhau, lao động ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau, đóng góp, cống hiến cả về vật chất và tinh thần cả trong quá khứ và hiện tại ngang nhau cho sự phát triển của đất nước thì được hưởng ngang nhau… Với việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước, đảm bảo cho mọi người dân được sống trong một xã hội công bằng, bình đẳng và bác ái sẽ tạo ra sự đồng thuận lớn trong mọi tầng lớp nhân dân. Và thông qua việc thực hiện các chức năng xã hội của nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, nhà nước lại cung cấp cho thị trường một nguồn lao động chất lượng, là nguồn lao động chính tạo ra năng suất lao động cao và lực lượng các cán bộ quản lý doanh nghiệp cho mọi thành phần kinh tế, mọi loại hình kinh tế. Chức năng xã hội mang lại sự ổn định về mặt xã hội, là tiền đề cho việc thực hiện các chức năng nhà nước khác như chức năng chính trị và chức năng kinh tế, và ngược lại các chức năng này là điều kiện đảm bảo để thực hiện chức năng xã hội của nhà nước. Trong giai đoạn hiện nay, nội dung cơ bản đồng thời cũng là mục tiêu của chức năng chính trị của nhà nước ta là bảo vệ vững chắc chế độ chính trị, chế độ nhà nước xã hội chủ nghĩa, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam và kiều bào ở nước ngoài, trấn áp sự chống phá của các thế lực thù

Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hiện Nay / 2023

CHỨC NĂNG KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP (Phần 1)

Trần Võ Như Ý- Khoa Luật, Đại học Duy Tân

1.1 Khái niệm, đặc điểm chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nhà nước là một thiết chế đặc biệt của xã hội, có vai trò to lớn trong việc duy trì và phát triển xã hội loài người. Nhân loại đã và đang tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu nhằm phát huy hơn nữa vai trò to lớn của Nhà nước nhằm hướng tới xây dựng một Nhà nước ngày càng phục vụ tốt hơn cho cuộc sống của con người.

Từ thời cổ đại, vai trò kinh tế của Nhà nước đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như chính trị học, triết học, luật học thể hiện qua các quan điểm của các nhà triết học Hy Lạp, La Mã, Trung Quốc như Aritxtốt, Platôn, Mạnh Tử, Khổng Tử… Khi chủ nghĩa tư bản phát triển đến giai đoạn cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến, nhiều lý thuyết kinh tế học chính trị đã đi sâu tìm hiểu về cơ chế tác dụng của Nhà nước đối với nền kinh tế, trong đó tiểu biểu như: A.Smith về nền kinh tế tự do, lý thuyết của Keynes về nền kinh tế có sự điều tiết của Nhà nước, lý thuyết của A.Samuelson về nền kinh tế hỗn hợp. Và lịch sử đã chứng minh các nền kinh tế thị trường thành công đều không phát triển một cách tự phát mà cần có sự can thiệp và hỗ trợ từ phía Nhà nước. Vì vậy vai trò “bàn tay hữu hình” của Nhà nước ngày càng thể hiện rõ và trở thành yếu tố không thể thiếu đối với nền kinh tế. Với những quan niệm về vai trò kinh tế của các Nhà nước trên thế giới có thể thấy việc vận dụng mô hình kinh tế hợp lý cũng như xác định rõ vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế hiện đại có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình đổi mới Nhà nước ta, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó cũng chính là cơ sở lý luận và thực tiễn quốc tế cho quá trình nhận thức về chức năng kinh tế của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chức năng của Nhà nước là một trong những vấn đề cơ bản của lý luận Nhà nước và pháp luật, gắn liền với những phạm trù bản chất, nhiệm vụ, hình thức và phương pháp hoạt động của Nhà nước…Theo từ điển tiếng Việt, “chức năng” là từ gốc Hán bao gồm hai thành tố “chức” và “năng”. Thành tố “chức” trong các từ “chức phận”, “chức trách”, “chức vụ”. Thành tố “năng” trong các từ “bản năng”, “năng lực”, “khả năng”. Chức năng được hiểu với hai sắc thái nghĩa là “hoạt động, tác dụng bình thường” và “vai trò bình thường hoặc đặc trưng”. Như vậy, chức năng Nhà nước được hiểu như là hoạt động, khả năng vốn có của Nhà nước.

Trong khoa học pháp lý nước ta đã xuất hiện nhiều quan điểm về chức năng của nhà nước: Theo cách hiểu truyền thống, chức năng của Nhà nước là những phương diện (những phương hướng, mặt, dạng, loại) hoạt động chủ yếu của Nhà nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước Nhà nước; chức năng Nhà nước là sự thể hiện vai trò của Nhà nước đối với xã hội, là biểu hiện cụ thể năng lực của Nhà nước; chức năng của Nhà nước chính là những nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển cụ thể…Trong điều kiện hiện nay, để góp phần xác định đầy đủ khái niệm về chức năng của Nhà nước, theo chúng tôi cần tiếp cận phạm trù chức năng nhà nước gắn liền với bản chất và vai trò của Nhà nước đối với đời sống xã hội, đồng thời trong mối quan hệ chặt chẽ với chức năng kinh tế, chức năng chính trị của Nhà nước. Như vậy, từ phạm trù chức năng của Nhà nước thể hiện vai trò của Nhà nước đối với đời sống xã hội có thể hình thành nên khái niệm chức năng kinh tế của Nhà nước như là một bộ phận của khái niệm chức năng nhà nước, cũng như chức năng xã hội, chức năng chính trị của Nhà nước. Từ đó có thể định nghĩa Chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (hay chức năng tổ chức và quản lý kinh tế) được hiểu là những hoạt động chủ yếu, quan trọng nhất mang tính thường xuyên, liên tục thể hiện bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm thực hiện các mục tiêu cơ bản của nhà nước trong lĩnh vực kinh tế.

Chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, chức năng tổ chức, quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng;

Thứ hai, việc thực hiện chức năng tổ chức, quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam phải bảo đảm được định hướng xã hội chủ nghĩa, đó là dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…;

Thứ ba, Nhà nước quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bằng pháp luật và các công cụ quản lý kinh tế khác như: kế hoạch, chương trình, quy hoạch phát triển kinh tế; các chính sách kinh tế; bộ máy hành chính và đội ngũ cán bộ công chức nhà nước.

1.2 Nội dung, hình thức và nguyên tắc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nội dung của chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện tập trung ở hoạt động quản lý vĩ mô nền kinh tế bằng pháp luật và các công cụ quản lý kinh tế khác (như xây dựng chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội…); hoạt động quản lý đối với doanh nghiệp và các tập đoàn kinh tế nhà nước.

– Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế bằng pháp luật và các công cụ quản lý kinh tế khác

Chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hiểu là quản lý đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân gồm nhiều thành phần kinh tế với đa dạng các loại hình sở hữu và nhà nước quản lý tổng thể các hoạt động kinh tế của các chủ thể kinh tế. Vì vậy, pháp luật có ý nghĩa, vai trò to lớn trong việc quản lý, điều hành nền kinh tế nhưng phải đáp ứng các tiêu chí sau: Pháp luật quy định chế độ sở hữu mới nhằm tạo cơ sở để xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; quy định cơ sở pháp lý cho sự tồn tại và phát triển của các loại thị trường; quy định chế độ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường; quy định các điều kiện cạnh tranh nhằm trật tự hóa thị trường; xác định cơ cấu chủ thể kinh tế thị trường và tạo cơ sở cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới; xác định các quy tắc hành vi của các chủ thể kinh tế; bảo đảm sự an toàn xã hội nhằm khắc phục các khuyết tật của nền kinh tế thị trường; pháp luật quy định cơ chế xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh tế và giải quyết các tranh chấp kinh tế. Ngoài ra, Nhà nước còn quản lý vĩ mô nền kinh tế bằng các công cụ quản lý kinh tế sau: Chính sách kinh tế vĩ mô; Chính sách về chế độ sở hữu và thành phần kinh tế; Chính sách quản lý và sử dụng đất đai.

Nền kinh tế thị trường là hệ thống phức tạp và đầy biến động, các hoạt động kinh tế đều hướng tới lợi ích cục bộ, vì vậy sự bất ổn, rủi ro và sự xâm phạm lợi ích lẫn nhau có thể xảy ra bất cứ lúc nào nếu không có những quy tắc đủ mạnh để điều chỉnh. Từ nhu cầu khách quan đó mà pháp luật trở thành công cụ không thể thay thế để đảm bảo cho các quan hệ kinh tế diễn ra theo trật tự nhất định. Bằng cách gián tiếp, Nhà nước tạo ra khung pháp lý cho các chủ thể tự do hoạt động; quy định tư cách chủ thể; ngăn ngừa các yếu tố tác động xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo môi trường để vận hành các quan hệ kinh tế một cách thuận lợi, an toàn, đồng thời định ra các phương thức nhằm duy trì và đảm bảo trật tự kinh tế.

Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh, ổn định nền kinh tế thông qua các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô như chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng là những đòn bẩy tác động đến nền kinh tế nhằm kiểm soát và hạn chế hậu quả trước các biến động bất lợi của thị trường. Nhà nước quản lý vĩ mô về tài chính đối với các doanh nghiệp thông qua các công cụ như thuế, lãi suất, tỉ giá…Nhà nước tiến hành đổi mới chính sách tiền tệ, giá cả cho phù hợp với cơ chế thị trường, kiềm chế lạm phát ở mức thấp nhất, ổn định sức mua đồng tiền Việt Nam, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn. Các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng phát huy vai trò trong việc tạo ra các yếu tố kích thích hay kìm hãm sự phát triển của các quan hệ kinh tế thị trường theo hướng nhất định.

– Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước sử dụng phương pháp kinh tế, vận dụng các quy luật kinh tế để quản lý, đảm bảo hiệu quả quản lý thông qua các công cụ vĩ mô như pháp luật, kế hoạch, chính sách…Nội dung của kế hoạch vĩ mô trong nền kinh tế thị trường là sự cụ thể hóa những quyết định chiến lược, đảm bảo hiện thực hóa mục tiêu đề ra trong chính sách của Nhà nước. Kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường chủ yếu là kế hoạch gián tiếp, hướng dẫn và tổng quát thể hiện tính năng động gắn với hiệu quả và lợi ích kinh tế. Với tính định hướng, kế hoạch nhà nước chỉ tập trung vào việc thiết lập các cân đối lớn của nền kinh tế như giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa xuất và nhập khẩu….Nhà nước đưa ra dự kiến về khả năng phát triển kinh tế; điều chỉnh và thay đổi chính sách nhằm hướng dẫn hành vi của các chủ thể trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Như vậy, kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường đã xóa bỏ mọi hình thức áp đặt trong giao nhiệm vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh, đảm bảo quyền tự chủ kế hoạch cho các chủ thể, kích thích các nhà kinh doanh cạnh tranh, cải tiến kỹ thuật công nghệ để đứng vững trên thị trường.

– Xây dựng kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước xây dựng Chiến lược phát triển kết cấu hạ tầng và Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế, trong đó chiến lược phát triển bao gồm hệ thống những mục tiêu, chính sách và giải pháp cơ bản, có tính chất dài hạn về phát triển mạng lưới kết cấu hạ tầng; và Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng là cụ thể hóa chiến lược phát triển kết cấu hạ tầng: luận chứng, lựa chọn phương án phát triển và phân bố mạng lưới kết cấu hạ tầng trên các vùng lãnh thổ, các giải pháp và tổ chức thực hiện, các công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên.

– Kiểm tra, giám sát nền kinh tế

Nhà nước xã hội chủ nghĩa với tư cách là chủ thể quản lý tối cao thông qua các cơ quan chức năng nhằm điều chỉnh thống nhất các quá trình kinh tế vĩ mô. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát nền kinh tế nhằm kịp thời phát hiện và xử lý những sai sót, ách tắc, đổ vỡ, những khó khăn, vướng mắc cũng như những cơ hội phát triển kinh tế nhằm đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả và theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

– Đảm bảo bình đẳng xã hội và giải quyết những khuyết tật của nền kinh tế thị trường

Cơ chế vận động của nền kinh tế thị trường thể hiện ưu thế ở chỗ phát huy tính năng động, sáng tạo của mọi chủ thể kinh tế trong việc đáp ứng nhu cầu phong phú và biến động của xã hội, đồng thời hệ thống pháp luật hướng dẫn, điều chỉnh và bảo hộ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể kinh tế. Tuy nhiên nền kinh tế thị trường cũng bộc lộ những khuyết tật dễ nhận thấy là: đầu cơ, độc quyền, tiêu thủ cạnh tranh, khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, hủy hoại tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái…

Hơn nữa, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam được xác định là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa – điểm khác biệt với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là phải hạn chế thấp nhất tình trạng người bóc lột người, đảm bảo sự bình đẳng xã hội. Việc phát triển kinh tế không chỉ nhằm mục đích đơn thuần là tăng trưởng kinh tế mà phải lấy mục tiêu tăng trưởng kinh tế làm cơ sở để phát triển toàn diện con người, giải quyết hài hòa những vấn đề kinh tế – xã hội, bảo tồn các giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững.

– Nhà nước thực hiện chức năng quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước và các tập đoàn kinh tế nhà nước

Chức năng kinh tế của nhà nước không chỉ được thực hiện thông qua sự quản lý, điều tiết và định hướng bằng pháp luật; công cụ quản lý kinh tế như các chính sách kinh tế, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội mà còn bằng thực lực của kinh tế nhà nước đó là các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế nhà nước. Việc tăng cường, củng cố, xây dựng và phát triển sức mạnh kinh tế nhà nước nói chung và của doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế nhà nước nói riêng trong các ngành, lĩnh vực kinh tế then chốt của đất nước vừa là công cụ quản lý kinh tế, vừa là cơ sở kinh tế để nhà nước thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế – xã hội. Hơn nữa, do thực tiễn nảy sinh ở các nước tư bản chủ nghĩa khi mà các tập đoàn kinh tế tư nhân phát triển lớn mạnh không ngừng lấn át kinh tế nhà nước, các tập đoàn kinh tế tư nhân từ chỗ lũng đoạn kinh tế chuyển sang lũng đoạn chính trị cho nên nhà nước phải quản lý các doanh nghiệp nhà nước và tập đoàn kinh tế nhà nước để thực hiện thành công các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

Về mặt lý luận, các chức năng của nhà nước luôn được thực hiện thông qua những hình thức và phương pháp nhất định của bộ máy nhà nước. Nhà nước nào cũng sử dụng pháp luật để quản lý xã hội, do đó các chức năng được thực hiện dưới ba hình thức pháp lý cơ bản là xây dựng pháp luật; tổ chức thực hiện pháp luật và bảo về pháp luật. Với mục đích là xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho Chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chức năng kinh tế thông qua ba hình thức chủ yếu là ban hành pháp luật kinh tế; tổ chức thực hiện pháp luật kinh tế; và bảo vệ pháp luật kinh tế.

Trên cơ sở phân tích nội dung và hình thức thực hiện chức năng kinh tế, chúng ta có thể đưa ra các nguyên tắc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gồm hai loại nguyên tắc là:

– Các nguyên tắc chung mang tính chất chính trị-pháp lý như: Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động quản lý kinh tế; tập trung dân chủ; kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ.

– Các nguyên tắc mang tính chất riêng phù hợp với hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước như: Nhà nước quản lý vĩ mô, không can thiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh tế…

Chức Năng Của Hoạt Động Công Tác Xã Hội Việt Nam Hiện Nay / 2023

Chức năng của hoạt động Công tác xã hội Việt Nam hiện nay

Theo Hiệp hội Quốc gia Nhân viên Công tác xã hội (NASW): Công tác xã hội (CTXH) là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ.

Với sứ mệnh đó, Công tác xã hội ở Việt Nam hiện nay đã và đang thực hiện 4 chức năng cơ bản:

Chức năng phòng ngừa: Với quan điểm tiếp cận phòng hơn chữa, chức năng đầu tiên của CTXH là phòng ngừa, ngăn chặn cá nhân, gia đình và cộng đồng rơi vào tình huống khó khăn chứ không phải để đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn rồi mới giúp đỡ. Chức năng phòng ngừa của CTXH thể thiện qua các hoạt động giáo dục, phổ biến tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cá nhân, gia đình và cộng đồng về luật pháp, chính sách xã hội và những vấn đề xã hội. Đơn cử như hoạt động giáo dục cộng đồng về kiến thức Luật phòng, chống bạo lực gia đình hay tuyên truyền phòng chống tệ nạn xã hội v.v. Thông qua các hoạt động giáo dục như vậy, CTXH đã giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội có thể xảy ra với cá nhân, gia đình và cộng đồng. Bên cạnh đó chức năng phòng ngừa còn thể hiện thông qua các hoạt động xây dựng văn bản, chính sách xã hội góp phần cải thiện và nâng cao đời sống, ngăn chặn gia tăng đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn.

Chức năng can thiệp: Chức năng can thiệp (còn được gọi là chức năng chữa trị hay trị liệu) nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết vấn đề khó khăn họ đang phải đối mặt. Với từng vấn đề và với mỗi đối tượng khác nhau, nhân viên công tác xã hội sẽ có phương pháp can thiệp hỗ trợ riêng biệt. Ví dụ với những đối tượng có khó khăn về tâm lý, nhân viên công tác xã hội sẽ cung cấp dịch vụ tham vấn để đối tượng vượt qua khó khăn về tâm lý. Với những vấn đề cần phức tạp, cần nhiều nguồn lực, nhân viên công tác xã hội cần tìm kiếm, điều phối và kết nối các dịch vụ, nguồn lực đến với đối tượng. Quy trình can thiệp của nhân viên công tác xã hội thường bắt đầu từ việc tiếp cận, đánh giá nhu cầu, xác định vấn đề, khai thác tiềm năng của đối tượng cho việc giải quyết vấn đề, lập kế hoạch giải quyết vấn đề, hỗ trợ đối tượng thực hiện kế hoạch và cuối cùng là đánh giá và kết thúc quá trình giúp đỡ. Phương pháp chủ đạo của CTXH là giúp cho đối tượng được tăng năng lực và tự giải quyết vấn đề của họ.

Chức năng phục hồi: Chức năng phục hồi của CTXH thể hiện ở việc giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng khôi phục lại chức năng tâm lý, xã hội đã bị suy giảm lấy lại trạng thái cân bằng trong cuộc sống. Thông qua các hoạt động phục hồi, nhân viên công tác xã hội giúp cho đối tượng trở lại cuộc sống bình thường, hoà nhập cộng đồng. Ví dụ như giúp người khuyết tật hòa nhập với cộng đồng hay giúp trẻ lang thang trở về đoàn tụ với gia đình; giúp người nghiện, người hành nghề mại dâm trở lại cuộc sống bình thường, tái hoà nhập cộng đồng v.v.

Chức năng phát triển: CTXH thực hiện chức năng phát triển thông qua các hoạt động xây dựng luật pháp, các chính sách, chương trình dịch vụ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng phát triển khả năng của mình đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Chức năng phát triển còn giúp đối tượng tăng năng lực và tăng khả năng ứng phó với các tình huống và có nguy cơ cao dẫn đến những vấn đề khó khăn cho cá nhân, gia đình và cộng đồng. Ví dụ như xây dựng các luật cho các đối tượng yếu thế hay giải quyết các vấn đề xã hội, các chương trình quốc gia về giảm nghèo, chăm sóc bảo vệ trẻ em, các dịch vụ trực tiếp cung cấp kiến thức giúp phát triển cá nhân như kỹ năng sống, kỹ năng làm cha, mẹ, v.v.

Thực tiễn lịch sử cho thấy rằng từ buổi đầu của công tác xã hội, người ta đã có thể quan sát thấy sự tác động ở mức độ khác nhau của các chức năng đã nêu. Thứ tự nêu trên phản ánh logic phát triển của công tác xã hội. Với thời gian, các chức năng sau ngày càng được nhấn mạnh, trong khi các chức năng trước không hề mất đi tầm quan trọng của mình. Vì thế việc thực hiện các chức năng này một cách đồng bộ, hiệu quả sẽ hướng đến việc trợ giúp cho giúp các cá nhân, gia đình, cộng đồng, đặc biệt là các đối tượng xã hội ” yếu thế” phát triển khả năng của bản thân, gia đình cùng với cộng đồng và sự trợ giúp của nhà nước, để họ tự vươn lên hòa nhập đời sống cộng đồng.

BI

Chức Năng Cơ Bản Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam / 2023

5

/

5

(

3

bình chọn

)

Chức năng cơ bản của nhà nước là những phương diện hoạt động của nhà nước nhằm thực hiện nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước.

Chức năng đối nội

(i) Chức năng kinh tế

a) Trước nhu cầu của cơ chế kinh tế mới, chức năng kinh tế của nhà nước ta nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:

Tạo lập, đảm bảo sự ổn định và bầu không khí lành mạnh để giải phóng tất cả các tiềm năng phát triển kinh tế đất nước, khắc phục hậu quả do cuộc khủng hoảng của cơ chế kinh tế cũ và kiên quyết chuyển toàn bộ nền kinh tế quốc dân sang cơ chế kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước.

Xây dựng và đảm bảo các điều kiện chính trị, xã hội, pháp luật, tổ chức cần thiết cho sự bình đẳng và khả năng phát triển có hiệu quả của tất cả các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân.

Củng cố và phát triển các hình thức sở hữu với phương châm đảm bảo vai trò chủ đạo của sở hữu quốc doanh và sở hữu tập thể, tạo điều kiện phát triển lực lượng sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất.

Tạo lập các tiền đề cần thiết và đảm bảo các điều kiện thuận lợi để các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần vươn tới thị trường nước ngoài, tham gia có hiệu quả vào sự hợp tác kinh tế quốc tế.

Để thực hiện nhiệm vụ trên, nhà nước đổi mới phương thức chỉ đạo và điều hành đối với hoạt động kinh tế theo hướng điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế. Hoạt động điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế của nhà nước, một mặt tạo điều kiện cho các đơn vị kinh tế khả năng độc lập tự giải quyết mọi vấn đề phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tự chủ để nhà nước thực hiện hoạt động kiểm tra, giám sát tòan bộ hoạt động kinh tế của đất nước trên cơ sở đó có giải pháp cụ thể, hợp lý giải quyết mọi biến động của nền kinh tế.

b) Nội dung:

Xây dựng và thông qua các chương trình phát triển kinh tế ngắn hạn và dài hạn, trên cơ sở đó định hướng cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân phát triển trong các điều kiện thị trường.

Xây dựng, thông qua, tổ chức thực hiện một chính sách tài chính, tiền tệ hợp lý, đảm bảo giá trị đồng tiền quốc gia, góp phần ổn định thị trường vốn.

Xây dựng và thực hiện một chính sách đầu tư hợp lý, xác định các lĩnh vực được ưu tiên đầu tư, khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực cần thiết cho nền kinh tế quốc dân thông qua chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng…

Nhà nước áp dụng các biện pháp bảo vệ sản xuất trong nước, chống độc quyền, hàng giả, buôn lậu qua biên giới.

Phương pháp tác động của nhà nước đối với nền kinh tế không còn là các biện pháp hành chính mà chủ yếu là biện pháp đòn bẩy kinh tế và được thực hiện bằng pháp luật.

Tìm hiểu thêm các vấn đề về Tố cáo

(ii) Chức năng xã hội

Thể hiện bản chất nhà nước – giải quyết vấn đề xã hội. Việc giải quyết vấn đề xã hội góp phần xây dựng xã hội dân chủ, văn minh, nhân đạo vì các giá trị cao cả của con người.

Trong điều kiện hiện nay, với cơ chế thị trường việc giải quyết vấn đề xã hội nảy sinh từ cơ chế này là đòi hỏi bức thiết. Chức năng xã hội của nhà nước càng quan trọng.

Những vấn đề xã hội đòi hỏi giải quyết trong mối quan hệ giữa nhu cầu tăng trưởng kinh tế với tính nhân đạo của nhà nước, là trách nhiệm của mọi cơ cấu xã hội trong đó vai trò cơ bản thuộc nhà nước.

Nội dung:

Nhà nước xem giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

Nhà nước đầu tư phát triển và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khỏe của nhân dân.

Nhà nước tạo mọi điều kiện để công dân có năng lực lao động đều có quyền có việc làm, khuyến khích các thành phần đơn vị kinh tế mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thu hút ngày càng nhiều lao động bằng chính sách tài chính, kinh tế và pháp luật lao động. Nhà nước quan tâm giải quyết vấn đề thất nghiệp tạo điều kiện giúp đỡ những người thất nghiệp có việc làm, thực hiện đào tạo lại ngành nghề, phát triển dịch vụ, giới thiệu việc làm.

Nhà nước xây dựng và thực hiện chính sách thu nhập hợp lý bằng việc thực hiện chế độ thuế thu nhập nhằm huy động sự đóng góp của người có thu nhập cao vào quỹ phân phối lại nhằm tạo điều kiện giúp đỡ người có thu nhập thấp, những người có hoàn cảnh khó khăn, đói nghèo.

Nhà nước quan tâm giải quyết, giúp đỡ người về hưu, người già cô đơn đảm bảo họ có cuộc sống ổn định.

Nhà nước chăm lo giải quyết vấn đề trẻ mồ côi, lang thang, người tàn tật, các tệ nạn xã hội.

Việc thực hiện chức năng xã hội phát huy bản chất nhân đạo của nhà nước ta đồng thời kế thừa truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc, góp phần thiết lập xã hội nhân bản- xã hội vì con người.

(iii) Chức năng đảm bảo sự ổn định an ninh, chính trị, bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân, bảo vệ trật tự an toàn xã hội.

Trong sự phát triển của đất nước, nhà nước chú trọng áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm ổn định an ninh chính trị chống lại những hành vi phá hoại sự nghiệp đổi mới và âm mưu của kẻ thù gây an ninh chính trị, cản trở sự phát triển xã hội.

Nhà nước sử dụng sức mạnh bạo lực để ngăn ngừa, trấn áp hành vi gây mất ổn định an ninh chính trị.

Trấn áp mọi hoạt động của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng, lật đổ nhà nước XHCN.

Hoạt động trấn áp bằng sử dụng sức mạnh bạo lực của nhà nước để thực hiện trong những phạm vi, hình thức luật định.

Nhà nước ghi nhận quyền tự do dân chủ của công dân bằng pháp luật, bảo đảm cho các quyền đó được thực hiện bằng các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội để công dân bảo vệ quyền tự do dân chủ của mình, xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm quyền tự do dân chủ của công dân.

Nhà nước duy trì trật tự an toàn xã hội, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa bằng cách:

Đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan bảo vệ pháp luật, năng lực chuyên môn và phẩm chất cán bộ công chức trong cơ quan này để đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh.

Giáo dục và hướng dẫn mọi công dân đấu tranh những hành vi vi phạm pháp luật.

Chức năng đối ngoại

Hoạt động đối ngoại của nhà nước là lĩnh vực đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc tạo ra các điều kiện quốc tế thuận lợi, góp phần giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ trong nước.

(i) Bảo vệ vững chắc tổ quốc XHCN, ngăn ngừa mọi nguy cơ xâm lăng từ các quốc gia bên ngoài.

Để thực hiện nhiệm vụ này, nhà nước ta chăm lo xây dựng và củng cố khả năng quốc phòng của đất nước. + Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân. + Giáo dục quốc phòng và an ninh cho tòan dân.

Thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, chính sách hậu phương quân đội.

Xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp kinh tế quốc phòng, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ, chiến sỹ, công nhân , nhân viên quốc phòng.

Xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ đất nước.

(ii) Thiết lập , củng cố và phát triển các mối quan hệ và sự hợp tác với tất cả các nước có chế độ chính trị- xã hội khác nhau trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, bình đẳng và cùng có lợi.

Hiện nay, nước ta thực hiện chính sách mở cửa, quan hệ với tất cả các nước, mở rộng quan hệ kinh tế chính trị, văn hóa theo nguyên tắc của pháp luật quốc tế.

(iii) Thiết lập và tăng cường các nỗ lực chung trong cuộc đấu tranh vì trật tự thế giới mới, vì sự hợp tác bình đẳng và dân chủ, vì hòa bình và tiến bộ xã hội trên tòan thế giới.

Ngày nay nước ta là thành viên chính thức của nhiều tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, phong trào không liên kết và rất nhiều tổ chức trực thuộc Liên hợp quốc. Trong diễn đàn quốc tế và khu vực, nước ta luôn tỏ rõ thiện chí và nỗ lực hợp tác để góp phần giải quyết hòa bình nhiều vấn đề quốc tế. ảnh hưởng và uy tín của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được củng cố và tăng cường.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

Bài viết trong lĩnh vực pháp luật nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Việt Nam Hiện Nay / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!