Đề Xuất 2/2023 # Chức Năng Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam # Top 11 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Chức Năng Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Chức Năng Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chức năng của nhà nước là gì? Đây là vấn đề mà nhiều người thắc mắc khi tìm hiểu về vấn đề này. Trong bài viết này, Luận Văn Việt xin chia sẻ với bạn đọc bài viết về “Chức năng nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

Căn cứ vào phạm trù tác động của các phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước, có thể chia các chức năng nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.

2. Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa

Vậy nhà nước có mấy chức năng? Chức năng đối nội đối ngoại của nhà nước là gì? Bạn sẽ tìm thấy câu trả lời trong phần này.

Chức năng đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trong nội bộ đất nước.

Ví dụ: Đảm bảo trật tự xã hội, trấn áp những phần tử chống đối chế độ, bảo vệ chế độ kinh tế … là những chức năng đối nội của các nhà nước.

Chức năng bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Đây là một trong những chức năng căn bản nhất của nhà nước ta. Muốn tiến hành sự nghiệp đổi mới thuận lợi, Nhà nước ta phải bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên toàn bộ đất nước. Nhà nước phải có đủ sức mạnh và kịp thời đập tan mọi âm mưu chống đối của các thế lực thù địch, đảm bảo điều kiện ổn định cho Nhân dân sản xuất kinh doanh.

Muốn vậy, Nhà nước phải quan tâm xây dựng các lực lượng an ninh, các cơ quan bảo vệ pháp luật, đồng thời phải “phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, tính tích cực cách mạng của khối đại đoàn kết toàn dân, phối hợp lực lượng quốc phòng và an ninh trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, chúng tôi H1991, tr.87).

Chức năng bảo vệ quyền tự do, dân chủ của Nhân dân.

Đây là một trong những chức năng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan trọng; bởi vì, việc thực hiện chức năng này thể hiện trực tiếp bản chất của nhà nước kiểu mới, nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Đồng thời, việc thực hiện chức năng này sẽ đảm bảo sức mạnh của Nhà nước trong việc thực hiện tất cả các chức năng khác của Nhà nước, quan hệ đến sự tồn tại, phát triển của bản thân Nhà nước và chế độ.

Đảng ta nhấn mạnh “Nhà nước có mối liên hệ thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của nhân dân”(Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng tôi H.1991, tr19).

Chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Mục đích của chức năng này là nhằm bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, thực hiện quản lý trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng pháp luật.

Tổ chức và quản lý nền kinh tế đất nước, xét đến cùng là chức năng hàng đầu và là cơ bản nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng mọi xã hội dựa trên cơ sở vật chất và kỹ thuật phát triển cao.

Nhà nước ta là người đại diện cho ý chí, quyền lực của Nhân dân lao động, là người chủ sở hữu đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu; là người nắm trong tay các công cụ, phương tiện quản lý (chính sách, kế hoạch, pháp luật, tài chính, ngân hàng…) và quản lý việc sử dụng tài sản quốc gia. Trên cơ sở đó, Nhà nước có đủ điều kiện để tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế trong nước cũng như hợp tác quốc tế.

Chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, khoa học, giáo dục.

Xã hội mới mà Nhân dân ta đang xây dựng là xã hội do Nhân dân lao động làm chủ; có nền kinh tế phát triển trên cơ sở một nền khoa học và công nghệ tiên tiến; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.

Muốn xây dựng xã hội đó, Nhà nước ta phải tổ chức, quản lý sự nghiệp giáo dục đào tạo, văn hóa, phát triển khoa học và công nghệ. Đó là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, phát huy vai trò then chốt của khoa học và công nghệ.

Đó là những động lực trực tiếp của sự phát triển, tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các chức năng khác của Nhà nước vừa nhằm tổ chức quản lý văn hóa, khoa học, giáo dục vừa nhằm thực hiện những nhiệm vụ kinh tế xã hội. Trước mắt, cần chuẩn bị cho đất nước bước vào những giai đoạn phát triển tiếp theo trong tương lai, hòa nhập với sự phát triển của nền văn minh thế giới.

Ví dụ: Phòng thủ đất nước, chống xâm lược từ bên ngoài, thiết lập các mối bang giao với các quốc gia khác …

Đảng ta nhấn mạnh: “Mục tiêu của chính sách đối ngoại là tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân loại thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng tôi H.1991, tr19).

Tất cả chức năng đối nội của nhà nước chỉ có thể được triển khai thực hiện tốt khi Tổ quốc được bảo vệ vững chắc. Vì vậy, bảo vệ Tổ quốc là chức năng cực kỳ quan trọng nhằm giữ gìn thành quả cách mạng, bảo vệ công cuộc xây dựng hòa bình của nhân dân, tạo điều kiện ổn định triển khai các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Chức năng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Chức năng củng cố, tăng cường tình hữu nghị và hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời mở rộng quan hệ với các nước khác theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

Tư tưởng chỉ đạo thực hiện chức năng này của Nhà nước ta là, trên cơ sở kiên trì đường lối độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế, “nhiệm vụ đối ngoại bao trùm trong thời gian tới là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, chúng tôi H1991, tr.88).

Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

DƢƠNG THỊ THỤC ANH

CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI – 2004

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

DƢƠNG THỊ THỤC ANH

CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mã số: 5.01.02

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hàm Giá

HÀ NỘI – 2004

1

Chƣơng I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG

6

XÃ HỘI CỦA NHÀ NƢỚC CHXHCN VIỆT NAM

1.1. Khái niệm chức năng xã hội của Nhà nước CHXHCN Việt Nam 1.1.1. Chức năng của nhà nước và chức năng xã hội của nhà nước 1.1.2. Chức năng xã hội của Nhà nước CHXHCN Việt Nam 1.2. Những yếu tố chính ảnh hưởng đến chức năng xã hội của Nhà nước CHXHCN Việt Nam 1.2.1. Yếu tố kinh tế 1.2.2. Yếu tố cơ cấu xã hội 1.2.3. Yếu tố truyền thống văn hoá, tâm lý dân tộc 1.2.4. Hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá

Chƣơng II:THỰC HIỆN CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ

33

NƢỚC

CHXHCN VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

2.1. Thực trạng việc thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước CHXHCN Việt Nam trên một số lĩnh vực 2.1.1. Lĩnh vực giáo dục – đào tạo 2.1.2. Lĩnh vực lao động – việc làm và điều tiết thu nhập 2.1.3. Lĩnh vực chăm sóc y tế và bảo vệ sức khoẻ nhân dân 2.1.4. Lĩnh vực bảo đảm xã hội 2.2 . Giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chức năng xã hội của Nhà nước CHXHCN Việt Nam 2.2.1. Một số quan điểm 2.2.2. Một số giải pháp chủ yếu

KẾT LUẬN

65

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

67

MỞ ĐẦU

1 . Tính cấp thiết của đề tài Trong điều kiện hiện nay, trước những yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước và đặc biệt là yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc điều chỉnh và tổ chức thực hiện tốt chức năng xã hội của nhà nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng cả về phương diện lý luận nhận thức và thực tiễn . Trước đây, trong quá trình xây dựng nhà nước ở các nước xã hội chủ nghĩa hầu như người ta mới chỉ quan tâm nhấn mạnh đến chức năng thống trị (chuyên chính của nhà nước) mà ít đề cập đến vai trò to lớn của chức năng xã hội. Mặt khác, thực tiễn hoạt động của một số nhà nước Tư sản hiện đại trong những chừng mực nhất định, chức năng xã hội của nhà nước cũng đã được thực hiện khá tốt trên một số lĩnh vực như : xây dựng phúc lợi công cộng xã hội, xây dựng quỹ từ thiện, bảo vệ thiên nhiên môi trường… Những hoạt động này đã dẫn đến sự ngộ nhận của một số người về bản chất của nhà nước Tư sản, đánh giá cao hoạt động xã hội của những nhà nước này. Trong những năm gần đây, trước những thay đổi to lớn của đời sống xã hội và quốc tế, dưới ảnh hưởng của những tiến bộ, những thành tựu của khoa học – công nghệ, sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân trở thành một tất yếu như Mác đã từng tiên đoán, thì xu hướng chung của các nhà nước trên thế giới là hướng các hoạt động vào các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm tạo sự ổn định về xã hội, thực hiện tốt chức năng thống trị của mình. Ở nước ta từ sau thành công Cách mạng Tháng Tám, trong tất cả các giai đoạn phát triển của mình với tính cách là nhà nước của dân, do dân và vì dân, trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể nhà nước đã thực hiện chức năng xã hội ở những mức độ và hình thức nhất định. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi, trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hiến pháp càng khẳng định rõ vai trò chức năng xã hội của Nhà nước ta, Hiến pháp 1992 đã khẳng định: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân…, xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no tự do, hạnh phúc có điều kiện phát triển toàn diện”(Điều3). Như vậy, trên thực tế việc thừa nhận và phát huy tốt chức năng xã hội của nhà nước ngày càng trở thành yêu cầu khách quan. Do đó, vấn đề chức năng xã hội của nhà nước hiện nay đang trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực ( kinh tế, chính trị, pháp lý…).Tuy nhiên, cả về lý luận và thực tiễn từ giác độ triết học, chức năng xã hội của nhà nước vẫn là một vấn đề còn tương đối mới mẻ, cần được tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống, góp phần bổ sung những lý luận khoa học cho công cuộc cải cách và hoàn thiện bộ máy nhà nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Chính yêu cầu này đã thôi thúc

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.

Vũ Hồng Anh (2001), Về cơ chế thực hiện quyền lực ở nước ta. (Sách: Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam, Lê Minh Thông (chủ biên)), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

2.

Vũ Tuấn Anh (chủ biên), (1994), Vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

3.

Báo Nhân dân ngày16/3/1999

4.

Báo Nhân dân ngày 20/8/2000

5.

Báo thanh niên ngày 9/5/2001

6.

Nguyễn Đức Bình, Trần Ngọc Hiên, Đào Trọng Truyến, Nguyễn Văn Thảo, Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên), (1999), Đổi mới và tăng

cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 7.

Bộ giáo dục và đào tạo(1994), Triết học tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

8.

Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phần III: Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam 1994, Tập 1: Lý luận về nhà nước, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

9.

Đỗ Minh Cương, Mạc Văn Tiến, (1996), Góp phần đổi mới và hoàn thiện cơ chế chính sách, bảo đảm xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

10. Các văn bản pháp luật về chế độ ưu đãi thương binh, gia đình liệt sỹ Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (1986-1994). 11. Chủ quyền kinh tế trong một thế giới đang toàn cầu hóa (1999), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12. Nguyễn Đăng Dung (2000), Một số vấn đề về Hiến pháp và bộ máy Nhà nước, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội. 13. Lê Sỹ Dược (2000), Cải cách bộ máy hành chính cấp Trung ương trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 14. Trần Thái Dương (1999), “Chức năng nhà nước – quan điểm và nhận thức”. Tạp chí Luật học (2). 15. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự Thật, Hà Nội. 16. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự Thật, Hà Nội. 17. Đảng cộng sản Việt Nam(1991),Văn kiện hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VII, Nxb Sự thật, Hà Nội

18. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 19. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ III Ban chấp hành trung ương Khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 20. “Đại hội VIII – Những tìm tòi và đổi mới”, Thông tin chuyên đề, Trung tâm thông tin tư liệu Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 21. Đảng cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 22. Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới (1999), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 23. Trần Ngọc Đường (chủ biên) (1999), Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 24. Trần Ngọc Đường (chủ biên) (2000), Bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 25. Nguyễn Duy Gia (1994), Nâng cao quyền lực, năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả của pháp luật, Nxb Lao động, Hà Nội. 26. Nguyễn Duy Gia (1996), Cải cách một bước bộ máy nhà nước ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 27. Giáo trình triết học Mác – Lênin (1999), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 28. James Goldsmith (1997): Cạm bẫy phát triển: Cơ hội và thách thức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 29. Hồ Chí Minh (1989) toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 30. Hồ Chí Minh (1989) toàn tập, Tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 31. Hoàng Văn Hảo (1995), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới sự hình thành và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 32.

Trần Trọng Hựu (chủ biên) (1995), Hoàn thiện hệ thống pháp luật của nhà nước nhằm tăng cường hiệu lực quản lý các vấn đề thuộc chính sách xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

33. Trần Trọng Hựu (chủ biên) (1994), Chính sách xã hội những vấn đề pháp lý, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 34. Trần Đình Hoan (chủ biên) (1996), Chính sách xã hội về đổi mới cơ chế việc quản lý thực hiện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 35. Nguyễn Duy Hùng (1996), Vai trò quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường – Kinh nghiệm các nước ASEAN, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 36. Phạm Hảo, Võ Văn Tiến, Mai Đức Lộc (2000), Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở một số tỉnh miền Trung, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 37.

Hiến pháp Việt Nam (1946,1954,1980, 1992) (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

38. Kinh tế thị trường và những vấn đề xã hội (1997), Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội. 39. C.Mác – Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 40. C.Mác – Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 41. C.Mác – Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 42. V.I.Lênin (1974) Toàn tập, Tập 1, Nxb Tiến bộ Mát xcơ va. 43. V.I.Lênin (1976) Toàn tập, Tập 20, Nxb Tiến bộ Mát xcơ va. 44. V.I.Lênin (1976) Toàn tập, Tập 33, Nxb Tiến bộ Mát xcơ va. 45. Phạm Xuân Nam (chủ biên) (1997), Đổi mới chính sách xã hội – Luận cứ và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 46.

Phạm Hữu Nghị (2000), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách, pháp luật xã hội, Viện Nghiên cứu Nhà nước – Pháp luật, Nxb Công An nhân dân, Hà Nội.

47.

Nhà nước, thị trường và viện trợ (1995), Nxb Khoa học xã hội.

48. Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi (1998), Ngân hàng thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 49. Niên giám Thống kê tóm tắt (1999), Nxb Thống kê, Hà Nội. 50. Thái Ninh, Hoàng Chí Bảo (1991), Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội. 51. Nguyễn Phan Quang, Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hoà, Ngô Văn Lý, Nguyễn Thành Nam, Phạm Văn Cảnh (1995), Mấy vấn đề về quản lý nhà nước và củng cố pháp quyền trong lịch sử Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 52. Phạm Ngọc Quang (1992), “Quyền lực – một phạm trù cơ bản của chính trị học”, Nhà nước và pháp luật,(4) 53.

Phạm Ngọc Quang, Trần Thị Ngọc Hiên (1999), “Mối liên hệ giữa bản chất giai cấp, chức năng xã hội của Nhà nước và cải cách nền hành chính Nhà nước trong thời kỳ đổi mới ở nước ta” Tạp chí Triết học (1)

54. Phạm Ngọc Quang, Nguyễn Viết Thông (2000), Góp phần tìm hiểu sự phát triển tư duy lãnh đạo của Đảng ta trong công cuộc đổi mới trên các lĩnh vực chủ yếu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 55. Phạm Ngọc Quang, Trần Đình Nghiêm (chủ biên) (2001), “Thời kỳ đổi mới và sứ mệnh của Đảng ta”, Nghiên cứu văn kiện Đại hội IX của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 56. Bùi Thanh Quất (1996), “Suy nghĩ thêm về quyền lực chính trị như một phạm trù khoa học”, Triết học,(5). 57. Nguyễn Duy Quý (1992), “Xây dựng nhà nước pháp luật; một số suy nghĩ về vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta”, Nhà nước và Pháp luật,(2) 58. Quyền con người – Quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam (1993), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 59. Lê Hữu Tầng (1993), “Tư tưởng C.Mác về công bằng và bình đẳng trong chủ nghĩa xã hội,” Triết học, (2).

60. Bùi Đình Thanh (1993), Chính sách xã hội – Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn, Chương trình khoa học cấp Nhà nước, KX-04. 61. Hà Huy Thành (2000), Những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 62. Alvin Toffler và Heidi Toffler (1996): Tạo dựng một nền văn minh mới, Chính trị của làn sóng thứ 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 63. Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (1996), Phát triển nguồn nhân lực, kinh nghiệm thế giới và thực tiễn ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 64. Tìm hiểu học thuyết Mác về hình thái kinh tế – xã hội (1997), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 65. Nguyễn Cửu Việt (chủ biên) (2003), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội. 66. Võ Khánh Vinh (1994), Vai trò của pháp luật trong điều kiện mới của Việt Nam “trong xã hội và pháp luật”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 67. Nguyễn Hữu Vui (2002), Lịch sử triết học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 68. Về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1997), sách tham khảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

VUI LÒNG TẢI VỀ ĐỂ XEM BẢN FULL ĐẦY ĐỦ !

VUI LÒNG TẢI VỀ ĐỂ XEM BẢN FULL ĐẦY ĐỦ !

VUI LÒNG TẢI VỀ ĐỂ XEM BẢN FULL ĐẦY ĐỦ !

VUI LÒNG TẢI VỀ ĐỂ XEM BẢN FULL ĐẦY ĐỦ !

VUI LÒNG TẢI VỀ ĐỂ XEM BẢN FULL ĐẦY ĐỦ !

VUI LÒNG TẢI VỀ ĐỂ XEM BẢN FULL ĐẦY ĐỦ !

VUI LÒNG TẢI VỀ ĐỂ XEM BẢN FULL ĐẦY ĐỦ !

Hình Thức Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

53041

Hình thức chính thể Nhà nước CHXHCN Việt Nam

Hình thức cấu trúc Nhà nước CHXHCN Việt Nam

Chế độ chính trị của nước CHXHCN Việt Nam

1. Hình thức chính thể Nhà nước CHXHCN Việt Nam

– Hình thức chính thể là hình thức tổ chức các cơ quan quyền lực tối cao, cơ cấu, trình tự thành lập và mối liên hệ của chúng với nhau cũng như mức độ tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan này.

– Chính thể Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, thông qua nguyên tắc bầu cử bình đẳng, phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín nhân dân đã bỏ phiếu bầu ra cơ quan đại diện của mình ( Quốc hội, HĐND các cấp).

Quyền lực Nhà nước tối cao thuộc về Quốc hội. Quốc hội được bầu theo nhiệm kỳ 5 năm, có quyền lập pháp, quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của các cơ quan Nhà nước, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.

a) Chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam qua Hiến pháp khẳng định việc tổ chức quyền lực Nhà nước phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

– Điều 4 Hiến pháp 2013: “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”

Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, định hướng cho sự phát triển của Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực trong từng thời kỳ.

Đảng vạch ra phương hướng và nguyên tắc nhằm xây dựng Nhà nước Việt Nam thực sự của dân, do dân, vì dân. Nhà nước có bộ máy Nhà nước chính quy, quy chế làm việc khoa học, đội ngũ cán bộ nhân viên Nhà nước làm việc tận tụy vì lợi ích nhân dân.

Đảng phát hiện bồi dưỡng đảng viên ưu tú và người ngoài đảng, giới thiệu giữ chức vụ quan trọng trong cơ quan Nhà nước thông qua bầu cử, bổ nhiệm.

Đảng giáo dục đảng viên nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu, tập hợp quần chúng động viên họ tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, thực hiện đường lối của Đảng và chấp hành pháp luật của Nhà nước.

Đảng kiểm tra tổ chức của đảng trong tổ chức và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết Đảng. Đảng kiểm tra cơ quan Nhà nước phát hiện sai lầm, hạn chế từ đó có biện pháp khắc phục, tổng kết, rút kinh nghiệm để không ngừng bổ sung đường lối của mình.

b) Nguyên tắc tổ chức quyền lực Nhà nước theo nguyên tắc tập quyền XHCN nhưng có sự phân công, phân nhiệm rạch ròi giữa các cơ quan.

Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, trong phạm vi quyền hạn của mình thực hiện tốt chức năng lập pháp, xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh đồng bộ, phù hợp.

Chính phủ là cơ quan quản lý mọi mặt của đời sống xã hội.

Tòa án tuân theo pháp luật, phụ thuộc vào pháp luật để thực hiện chức năng xét xử.

Viện kiểm sát thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.

– Sự tập quyền thể hiện quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, thể hiện:

Nhân dân là chủ sở hữu tối cao của quyền lực Nhà nước, quyền lực Nhà nước là của nhân dân, không thuộc tổ chức nào, giai cấp nào.

Nhân dân là chủ sở hữu tài sản vật chất và tinh thần của Nhà nước.

Nhân dân giải quyết mọi vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng.

Nhân dân quản lý mọi công việc của xã hội.

– Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua bỏ phiếu, thông qua cơ quan đại diện Quốc hội, HĐND do nhân dân bầu ra.

c) Chính thể Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

– Bản chất nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện ở sự thống nhất giữa chế độ tập trung lợi ích Nhà nước với sự trực thuộc, phục tùng của cơ quan Nhà nước cấp dưới trước cơ quan Nhà nước cấp trên, chế độ dân chủ tạo điều kiện cho sự sáng tạo, chủ động trong giải quyết công việc thuộc thẩm quyền của mình.

– Nội dung:

Các cơ quan Nhà nước được thành lập bằng con đường bầu cử, bổ nhiệm.

Làm việc theo chế độ tập thể, cá nhân chịu trách nhiệm với phần việc được giao theo chế độ thủ trưởng.

Cơ quan cấp dưới phải phục tùng cơ quan Nhà nước cấp trên.

Khi ra quyết định cơ quan Nhà nước cấp trên phải tính đến lợi ích cơ quan Nhà nước cấp dưới.

Trong phạm vi quyền hạn của mình cơ quan Nhà nước được chủ động và phát huy sáng tạo trong giải quyêt mọi công việc, cơ quan Nhà nước cấp trên không được can thiệp.

d) Chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mang bản chât giai cấp công nhân, mục tiêu xây dựng CNXH.

– Nhà nước Việt Nam là Nhà nước dân chủ, lợi ích giai cấp công nhân gắn liền với lợi ích giai cấp khác và nhân dân lao động.

– Nhà nước Việt Nam thực hiện dân chủ với nhân dân, nhưng chuyên chế với kẻ thù, âm mưu chống phá Nhà nước.

– Hiện nay, bản chất chuyên chính vô sản được thể hiện dưới dạng Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

e) Trong chính thể Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức xã hội có vai trò quan trọng.

– Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của quyền lực Nhà nước.

– Các tổ chức xã hội là phương tiện để nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội tạo ra sức mạnh tổng hợp để xây dựng cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc, Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

2. Hình thức cấu trúc Nhà nước CHXHCN Việt Nam

– Hình thức cấu trúc Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Nhà nước đơn nhất, được Hiến pháp 2013 quy định tại điều 1: ” Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.”

– Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Nhà nước đơn nhất, có độc lập, chủ quyền, có một hệ thống pháp luật thống nhất, có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc.

Nhà nước Việt Nam có lãnh thổ thống nhất, không phân chia thành các tiểu bang hoặc cộng hòa tự trị mà chia thành các đơn vị hành chính trực thuộc. Tương ứng mỗi đơn vị hành chính là cơ quan hành chính Nhà nước. Các đơn vị hành chính không có chủ quyền quốc gia và đặc điểm như Nhà nước.

Nhà nước Việt Nam là tổ chức duy nhất trong hệ thống chính trị có chủ quyền quốc gia, là chủ thể quan hệ quốc tế toàn quyền đối nội, đối ngoại, quyết định mọi vấn đề của đất nước.

Một hệ thống pháp luật thống nhất với một Hiến pháp, hiệu lực Hiến pháp và pháp luật trải rộng trên phạm vi toàn quốc. Các cơ quan Nhà nước trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở cụ thể hóa Hiến pháp, pháp luật, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật.

Nhà nước Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, giữ gìn và phát huy phong tục, tập quán của dân tộc.

3. Chế độ chính trị của nước CHXHCN Việt Nam

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Chính sách đại đoàn kết và đường lối dân tộc nước CHXHCN Việt Nam

Chính sách đại đoàn kết và đường lối dân tộc là những vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam, một trong những nội dung quan trọng phản ánh bản chất của chế độ chính trị nước chxh chủ nghĩa Việt Nam.

Chính sách đối ngoại của nước CHXHCN Việt Nam

Bảo vệ tổ quốc và xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Giới Thiệu Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Lập hiến, lập pháp

Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước

Giám sát tối cao hoạt động của Nhà nước.

Nhiệm kì của mỗi khóa Quốc hội kéo dài 5 năm. Mỗi năm Quốc hội họp thường kỳ 2 lần. Trong lần bầu cử gần nhất năm 2016, Quốc hội Việt Nam có 496 Đại biểu được bầu, nhưng 2 người bị truất quyền Đại biểu nên còn 494 người tham gia khóa họp Quốc hội đầu tiên. Về sau vài Đại biểu từ nhiệm hoặc bị kỷ luật nên hiện tại còn 483 Đại biểu. Quốc hội Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số. Các đơn vị trực thuộc bao gồm Ủy ban thường vụ Quốc hội và Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội Việt Nam.

Quốc hội Việt Nam hiện nay là thành viên của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), Hội đồng Liên Nghị viện ASEAN (AIPA), Hội đồng Nghị viện châu Á (APA), Diễn đàn các nghị sĩ về dân số và phát triển (AFPPD), Liên minh Nghị viện các nước Châu Á – Thái Bình Dương (APPU), Tổ chức nghị sĩ thầy thuốc thế giới (IMPO) là thành viên sáng lập Diễn đàn Nghị sĩ các nước châu Á – Thái Bình Dương (APPF), Liên minh Nghị viện Pháp ngữ (APF).

Chức vụ đứng đầu Quốc hội Việt Nam là Chủ tịch Quốc hội, người này cũng đồng thời là chủ tịch của Ủy ban Thường vụ Quốc hội – cơ quan thường trực của Quốc hội.

Quốc hội đương nhiệm hiện nay là Quốc hội khóa XV. Chủ tịch Quốc hội đương nhiệm là ông Vương Đình Huệ.

Tên gọi

Theo các sắc lệnh năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về cuộc tổng tuyển cử đầu tiên và các văn kiện tại 2 kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá I năm 1946 – tên gọi ban đầu của cơ quan lập pháp là Quốc dân Đại hội hay Quốc dân Đại biểu Đại hội (còn gọi là Toàn quốc Đại biểu Đại hội). Trong văn bản thường được gọi tắt là Quốc hội.

Ngày 9 tháng 11 năm 1946, Hiến pháp năm 1946 được thông qua tại kỳ họp thứ 2 (Quốc hội khoá I) đã xác định tên chính thức của cơ quan lập pháp là Nghị viện Nhân dân. Tuy nhiên, bản Hiến pháp này không được công bố/thực thi trong hoàn cảnh chiến tranh, vì vậy tên gọi và các chức vụ cũ trong Quốc hội vẫn được giữ nguyên khi hoạt động.

Ngày 31 tháng 12 năm 1959, Hiến pháp năm 1959 được thông qua tại kỳ họp thứ 11 (Quốc hội khóa I) và được Chủ tịch nước ký lệnh công bố vào ngày 01 tháng 1 năm 1960 – hiến định tên chính thức của cơ quan lập pháp này là Quốc hội. Cho đến nay, trải qua các bản Hiến pháp sửa đổi sau này, đây là tên gọi cố định cho “cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” của Việt Nam.

Lịch sử

Quốc hội Việt Nam hiện nay ra đời cùng nhà nước này sau cuộc tổng tuyển cử đầu tiền bầu ra quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 6 tháng 1 năm 1946. Từ đó đến nay, cơ quan này đã trải qua 14 khóa làm việc, với 8 đời Chủ tịch Quốc hội.

Theo chiều dài thời gian thì từ những năm đầu đến Khóa VII thập niên 1980 hoạt động của Quốc hội rất yếu ớt, mờ nhạt. Mỗi năm Quốc hội chỉ nhóm họp một lần, kéo dài không quá năm ngày. Có đôi lần Quốc hội nhóm họp lâu hơn vì tính cách tượng trưng lịch sử, như Khóa VI họp đến chín ngày nhân dịp nghị hội toàn quốc thống nhất hai Miền Nam Bắc ở năm 1976. Những năm đó Quốc hội có mỗi một chức năng duy nhất là hợp thức hóa đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Phải đến năm 1985 Quốc hội Việt Nam mới bắt đầu khởi sắc, tuy vẫn do Đảng và Bộ Chính trị chi phối nhưng cũng có những tiếng nói riêng dưới sự điều hành của Chủ tịch Quốc hội. Quốc hội từ đấy có những đại biểu lên tiếng phát biểu tự do hơn, không như trước kia khi Tổng Thư ký Quốc hội phải duyệt trước bài diễn văn trước khi đại biểu được nói. Cũng theo đó Quốc hội không còn việc biểu quyết với tỷ số 100% răm rắp. Sang thập niên 1990 Quốc hội mới có lệ chất vấn chính phủ, và kể từ năm 1998 thì có truyền hình phát hình trực tiếp để công chúng theo dõi.

Năm 2013, Quốc hội bắt đầu bỏ phiếu tín nhiệm các thành viên chính phủ (Thủ tướng và các bộ trưởng). Từ năm 2016 đến nay, ngày bầu cử Quốc hội là ngày 22 hoặc 23 tháng 5

Khóa I (1946-1960)

Quốc hội khóa đầu tiên được bầu 6 tháng 01 năm 1946. Gồm 403 đại biểu: 333 đại biểu được bầu, 70 ghế theo đề nghị của Hồ Chí Minh (dành cho 50 người của Việt Nam Quốc dân Đảng và 20 người của Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội), những đại biểu không qua bầu cử được gọi là đại biểu “truy nhận”. Chủ tịch Quốc hội đầu tiên (lúc đó gọi là Trưởng ban Thường trực Quốc hội) là Nguyễn Văn Tố. Từ ngày 8/11/1946 Chủ tịch Quốc hội là Bùi Bằng Đoàn. Từ ngày 20/9/1955 Chủ tịch Quốc hội là Tôn Đức Thắng.

Kỳ họp thứ nhất (2 tháng 3 năm 1946) công nhận: Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Kháng chiến ủy viên hội do Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch, Vĩnh Thụy làm Cố vấn tối cao, Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 thành viên.

Tuy lúc đầu Quốc hội có 403 đại biểu nhưng đến khóa mùa thu năm 1946 thì số đại biểu chỉ còn 291 và khi mãn khóa thì chỉ còn 242 vì hầu hết các đại biểu đối lập thuộc Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) và Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc) đã bỏ chạy sang Trung Hoa khi không còn sự hậu thuẫn về quân sự và chính trị của quân đội Trung Hoa Dân quốc sau Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946.

Quốc hội khóa I đã thông qua hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp 1946) ngày 9 tháng 11 năm 1946, thông qua Hiến pháp sửa đổi (Hiến pháp 1959) ngày 31 tháng 12 năm 1959; ban hành 16 luật, trong đó có sắc lệnh cải cách ruộng đất và phê chuẩn Hiệp định Genève.

Khóa II (1960-1964)

Bầu ngày 8 tháng 5 năm 1960. Gồm 453 đại biểu (362 đại biểu được bầu, 91 đại biểu khóa I của Miền Nam được lưu nhiệm).

Kỳ họp thứ nhất (từ 6 – 15 tháng 7 năm 1960) tại Hà Nội bầu:

Chủ tịch nước: Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch nước: Tôn Đức Thắng Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm 21 ủy viên chính thức, 5 ủy viên dự khuyết. Chủ tịch Quốc hội: Trường Chinh Thủ tướng Hội đồng Chính phủ Phạm Văn Đồng Quốc hội khóa II thông qua 6 luật, 9 pháp lệnh và phê chuẩn 4 hiệp ước – hiệp định song phương với Tiệp Khắc, Triều Tiên, Trung Hoa và Cuba.

Khóa III (1964-1971)

Bầu ngày 26 tháng 4 năm 1964. Gồm 453 đại biểu: 366 đại biểu được bầu, 87 đại biểu khóa I của Miền Nam được lưu nhiệm.

Kỳ họp thứ nhất (từ 25 tháng 6 – 3 tháng 7 năm 1964) bầu:

Chủ tịch nước: Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch nước: Tôn Đức Thắng Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm 23 ủy viên chính thức, 3 ủy viên dự khuyết. Chủ tịch Quốc hội: Trường Chinh Thủ tướng Hội đồng Chính phủ Phạm Văn Đồng Quốc hội khóa III đã thông qua 1 luật, 5 pháp lệnh và phê chuẩn 4 hiệp định song phương.

Khóa IV (1971-1975)

Bầu ngày 11 tháng 4 năm 1971. Bầu 420 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ 6 – 10 tháng 6 năm 1971) bầu:

Chủ tịch nước: Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch nước: Nguyễn Lương Bằng Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm 24 ủy viên chính thức, 3 ủy viên dự khuyết. Chủ tịch Quốc hội: Trường Chinh Thủ tướng Hội đồng Chính phủ Phạm Văn Đồng Quốc hội khóa IV đã thông qua 1 Pháp lệnh Quy định việc bảo vệ rừng.

Khóa V (1975-1976)

Bầu ngày 6 tháng 4 năm 1975. Bầu 424 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ 3 – 6 tháng 6 năm 1975) bầu:

Chủ tịch nước: Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch nước: Nguyễn Lương Bằng Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm 19 ủy viên chính thức, 3 ủy viên dự khuyết. Chủ tịch Quốc hội: Trường Chinh Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng Quốc hội khóa V là kỳ quốc hội ngắn nhất, vì đã rút ngắn nhiệm kỳ để tiến hành cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của đất nước thống nhất.

Khóa VI (1976-1981)

Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất. Bầu ngày 25 tháng 4 năm 1976. Bầu 492 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ 24 tháng 6 – 3 tháng 7 năm 1976) tại Hà Nội bầu:

Chủ tịch nước: Tôn Đức Thắng, 2 Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương Bằng và Nguyễn Hữu Thọ Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm 21 ủy viên chính thức, 2 ủy viên dự khuyết. Chủ tịch Quốc hội: Trường Chinh Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng Cũng tại kỳ họp này, sáng ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội đã quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đổi tên thành phố Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh.

Quốc hội khóa VI đã thông qua Hiến pháp 1980 tại kỳ họp 7 ngày 18 tháng 12 năm 1980; đồng thời Quốc hội khóa VI cũng thông qua 1 luật, 4 pháp lệnh và phê chuẩn 12 hiệp ước – hiệp định song phương.

Khóa VII (1981-1987)

Bầu ngày 26 tháng 4 năm 1981. Bầu 496 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ 24 tháng 6 – 4 tháng 7 năm 1981) bầu:

Hội đồng Nhà nước gồm 12 thành viên đảm nhận chức năng của Ủy ban thường vụ Quốc hội, “là cơ quan cao nhất, hoạt động thường xuyên của Quốc hội, là chủ tịch tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Chủ tịch Hội đồng Nhà nước: Trường Chinh Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng: Phạm Văn Đồng Quốc hội khóa VII đã thông qua 10 luật và bộ luật, 15 pháp lệnh; phê chuẩn 19 hiệp định, hiệp ước, công ước song phương và quốc tế.

Khóa VIII (1987-1992)

Bầu ngày 19 tháng 4 năm 1987. Bầu 496 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ 17 – 22 tháng 6 năm 1987) bầu:

Hội đồng Nhà nước gồm 15 thành viên. Chủ tịch Hội đồng Nhà nước: Võ Chí Công Chủ tịch Quốc hội: Lê Quang Đạo Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng: Phạm Hùng. (Ðỗ Mười, từ tháng 6 năm 1988) Quốc hội khóa VIII đã thông qua Hiến pháp 1992 tại kỳ họp 11 ngày 15 tháng 4 năm 1992; đồng thời Quốc hội khóa VIII cũng thông qua 31 luật và bộ luật, 42 pháp lệnh và phê chuẩn 1 hiệp định quốc tế.

Khóa IX (1992-1997)

Bầu ngày 19 tháng 7 năm 1992. Bầu 395 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ 19 tháng 9 – 8 tháng 10 năm 1992) bầu:

Chủ tịch nước: Lê Đức Anh, Phó Chủ tịch nước: Nguyễn Thị Bình Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm 13 thành viên. Chủ tịch Quốc hội: Nông Đức Mạnh Thủ tướng Chính phủ: Võ Văn Kiệt Trưởng đoàn thư ký kỳ họp Quốc hội: Vũ Mão Quốc hội khóa IX đã thông qua 39 luật và bộ luật, 41 pháp lệnh; phê chuẩn 3 hiệp định, công ước song phương và quốc tế.

Khóa X (1997-2002)

Bầu ngày 20 tháng 7 năm 1997. Bầu 450 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ 20 – 29 tháng 9 năm 1997) bầu:

Chủ tịch nước: Trần Đức Lương, Phó Chủ tịch nước: Nguyễn Thị Bình Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm 14 thành viên. Chủ tịch Quốc hội: Nông Ðức Mạnh; (Nguyễn Văn An, từ ngày 27 tháng 6 năm 2001 tại Kỳ họp thứ 9) Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải Trưởng đoàn thư ký kỳ họp Quốc hội: Vũ Mão Quốc hội khóa X đã thông qua Nghị quyết về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp (ban hành ngày 7 tháng 1 năm 2002); thông qua 31 luật và bộ luật, 36 pháp lệnh; phê chuẩn Hiệp ước biên giới đất liền với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Hiệp định thương mại với Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

Khóa XI (2002-2007)

Hội trường Ba Đình – nơi diễn ra các kỳ họp quốc hội cho đến năm 2007 Bầu ngày 19 tháng 5 năm 2002. Bầu 498 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ 19 tháng 7 – 12 tháng 8 năm 2002) bầu:

Chủ tịch nước: Trần Đức Lương, Phó Chủ tịch nước: Trương Mỹ Hoa Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm 13 thành viên. Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Văn An Thủ tướng Chính phủ: Phan Văn Khải. Đoàn thư ký kỳ họp Quốc hội gồm 11 người. Trưởng đoàn thư ký: Bùi Ngọc Thanh Kỳ họp thứ 9 (từ 16 tháng 5 – 29 tháng 6 năm 2006) Quốc hội biểu quyết miễn nhiệm các chức vụ Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội tại vị và tiến hành bầu mới:

Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch nước: Nguyễn Minh Triết Thủ tướng Chính phủ: Nguyễn Tấn Dũng Quốc hội khóa XI đã thông qua 84 luật và bộ luật, 34 pháp lệnh; phê chuẩn 3 hiệp ước, hiệp định song phương và quốc tế; trong đó Quốc hội đã phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại kỳ họp thứ 10 (tháng 11 năm 2006).

Khóa XII (2007-2011)

Bầu ngày 20 tháng 5 năm 2007. Bầu 493 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ 19 tháng 7 – 4 tháng 8 năm 2007) bầu:

Chủ tịch nước: Nguyễn Minh Triết, Phó Chủ tịch nước: Nguyễn Thị Doan Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm 18 thành viên. Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Phú Trọng Thủ tướng Chính phủ: Nguyễn Tấn Dũng Đoàn thư ký kỳ họp Quốc hội gồm 13 người. Trưởng đoàn thư ký: Trần Đình Đàn Quốc hội khóa XII đã thông qua 67 luật và 14 pháp lệnh.

Quốc hội khóa XII cũng rút ngắn thời gian hoạt động 1 năm để tiến hành bầu cử Quốc hội khóa XIII cho cùng thời gian với cuộc bầu cử đại biểu HĐND các cấp năm 2011.

Khóa XIII (2011-2016)

Bầu ngày 22 tháng 5 năm 2011. Bầu 500 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ 21 tháng 7 – 6 tháng 8 năm 2011) bầu:

Chủ tịch nước: Trương Tấn Sang, Phó Chủ tịch nước: Nguyễn Thị Doan Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm 17 thành viên. Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Sinh Hùng Thủ tướng Chính phủ: Nguyễn Tấn Dũng Đoàn thư ký kỳ họp Quốc hội gồm 13 người. Trưởng đoàn thư ký: Nguyễn Hạnh Phúc Kỳ họp thứ 6 (từ 21 tháng 10 – 31 tháng 11 năm 2013) Quốc hội thông qua Hiến pháp 2013 vào ngày 28/11/2013 với tỷ lệ biểu quyết: 97,59%. Trong đó, tổng số ĐBQH có mặt, biểu quyết: 488, chiếm tỷ lệ 97,99%; tổng số ĐBQH tán thành: 486; chiếm tỷ lệ 97, 59%; số ĐBQH không tán thành: 0; số ĐBQH không biểu quyết: 2, chiếm tỷ lệ 0,4%.

Kỳ họp thứ 11 – kỳ họp cuối cùng của khóa XIII (từ ngày 21 tháng 3 đến ngày 12 tháng 4 năm 2016), Quốc hội bỏ phiếu miễn nhiệm các chức vụ Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ tại vị và bầu mới:

Ngày 30/3/2016, Quốc hội bỏ phiếu thông qua việc miễn nhiệm Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia đối với ông Nguyễn Sinh Hùng, với 87,25% đồng ý, 8,5% không đồng ý đối với chức vụ Chủ tịch Quốc hội; 87,04% đồng ý, 8,5% không đồng ý đối với chức vụ Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia. Ngày 31/3/2016, bà Nguyễn Thị Kim Ngân được Quốc hội bầu làm Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, với 95,5% tán thành, 1,82% không tán thành. Cụ thể, có 472/484 ĐB có mặt đồng ý và 9 ĐB không đồng ý. Bà trở thành nữ chính khách Việt Nam đầu tiên giữ các cương vị này, đồng thời cũng là người đầu tiên thực hiện quy định tuyên thệ khi nhậm chức. Chiều 31/3/2016, Quốc hội bỏ phiếu thông qua việc miễn nhiệm Chủ tịch nước đối với ông Trương Tấn Sang với 90,49% tán thành, 5,26% không tán thành. Cụ thể, có 447/474 ĐB có mặt đồng ý, 26 không đồng ý. Ông Trương Tấn Sang cũng đồng thời thôi giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh. Sáng 02/4/2016, ông Trần Đại Quang được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước và Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh với 91,5% tán thành, 5,87% không tán thành. Cụ thể, có 452/483 ĐB có mặt đồng ý và 29 ĐB không đồng ý. Chiều 06/4/2016, Quốc hội bỏ phiếu thông qua việc miễn nhiệm Thủ tướng Chính phủ đối với ông Nguyễn Tấn Dũng với 84,62% tán thành, 13,77% không tán thành. Cụ thể 418/487 ĐB có mặt đồng ý, 68 ĐB không đồng ý. Sáng 07/4/2016, ông Nguyễn Xuân Phúc được Quốc hội bầu làm Thủ tướng Chính phủ với 90,28% tán thành, 8,91% không tán thành. Cụ thể, có 446/490 ĐB có mặt đồng ý và 44 ĐB không đồng ý. Như vậy, nhân sự cấp cao của cả khóa XIII như sau:

Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng (đến 30/03/2016) Nguyễn Thị Kim Ngân (từ 31/03/2016) Các Phó Chủ tịch Bà Tòng Thị Phóng Bà Nguyễn Thị Kim Ngân (đến 31/03/2016) Ông Uông Chu Lưu Ông Huỳnh Ngọc Sơn (đến 02/04/2016) Ông Phùng Quốc Hiển (từ 04/04/2016) Ông Đỗ Bá Tỵ (từ 04/04/2016) Quốc hội khóa XIII đã thông qua 100 luật, bộ luật và 10 pháp lệnh. Quốc hội khóa XIII cũng là lần đầu tiên Việt Nam là chủ nhà đăng cai tổ chức Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới lần thứ 132 (IPU-132) tại Tòa nhà Quốc hội. Đây cũng là khóa đầu tiên tiến hành việc Lấy phiếu tín nhiệm với các chức danh mà Quốc hội đầu ra vào kỳ họp thứ 5 diễn ra vào tháng 5/2013.

Khóa XIV (2016-2021)

Bầu ngày 22 tháng 5 năm 2016. Bầu 496 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ 20 tháng 7 năm 2016 – 29 tháng 7 năm 2016) bầu:

Chủ tịch nước: Trần Đại Quang (qua đời tháng 09/2018). Phó Chủ tịch nước: Đặng Thị Ngọc Thịnh Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm 18 thành viên. Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Thị Kim Ngân Thủ tướng Chính phủ: Nguyễn Xuân Phúc Tổng thư ký Quốc hội: Nguyễn Hạnh Phúc. Đây là một chức danh mới theo Luật tổ chức Quốc hội sửa đổi năm 2014 Đây là khóa Quốc hội chính thức đầu tiên thực hiện quy định tuyên thệ khi nhậm chức với cả bốn chức danh Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và Chánh án TAND Tối cao.

Kỳ họp thứ 6 (từ 22 tháng 10 năm 2018 – 21 tháng 11 năm 2018), Quốc hội bầu lại Chủ tịch nước thay thế cố Chủ tịch Trần Đại Quang.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang đột ngột qua đời ngày 21/09/2018 do trọng bệnh. Ngày 23/09/2018, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành thông báo Phó Chủ tịch nước đương nhiệm Đặng Thị Ngọc Thịnh tạm giữ chức Quyền Chủ tịch nước.

Sáng ngày 23/10/2018, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội đã bỏ phiếu bầu ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí thư đương nhiệm – làm Chủ tịch nước khóa 14 với tỷ lệ 99,79% tổng số đại biểu quốc hội (tương ứng 476/477 đại biểu có mặt tham gia biểu quyết đồng ý).

Ngày 30/03/2021, Quốc hội bỏ phiếu miễn nhiệm Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia đối với bà Nguyễn Thị Kim Ngân với 96,66% phiếu đồng ý (tương ứng với 464 phiếu trên tổng số 475 đại biểu có mặt), 1,87% phiếu không đồng ý (tương ứng 9 phiếu) đối với chức vụ Chủ tịch Quốc hội; 96,45% phiếu đồng ý (tương ứng với 463 phiếu trên tổng số 475 đại biểu có mặt), 1,87% phiếu không đồng ý (tương ứng 9 phiếu) đối với chức vụ Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia. Ngày 31/03/2021, ông Vương Đình Huệ được Quốc hội bầu làm tân Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia với tỷ lệ 98,54% (tương ứng với 473/473 đại biểu có mặt biểu quyết tán thành). Ông trở thành vị Chủ tịch Quốc hội thứ 2 tuyên thệ ngay sau khi nhậm chức sau người tiền nhiệm, bà Nguyễn Thị Kim Ngân. Sáng 02/04/2021, Quốc hội bỏ phiếu miễn nhiệm Thủ tướng Chính phủ đối với ông Nguyễn Xuân Phúc với 92,92% tán thành (tương ứng 446 đại biểu đồng ý trên tổng số 452 đại biểu có mặt tham gia biểu quyết tại hội trường) và 1,25% không tán thành (tương ứng 6 đại biểu không đồng ý). Chiều 02/04/2021, Quốc hội bỏ phiếu miễn nhiệm Chủ tịch nước đối với ông Nguyễn Phú Trọng với 91,25% tán thành (tương ứng 438 đại biểu biểu quyết tán thành trên tổng số 440 đại biểu có mặt tham gia biểu quyết), 0,21% không tán thành (tương ứng 1 phiếu), và 0,21% không biểu quyết (tương ứng 1 phiếu). Ông cũng đồng thời thôi giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh. Sáng 05/04/2021, ông Nguyễn Xuân Phúc được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước và Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh với tỷ lệ 97,5% trên tổng số đại biểu Quốc hội (tương ứng 468/468 đại biểu có mặt tham gia biểu quyết bỏ phiếu tán thành). Chiều 05/04/2021, ông Phạm Minh Chính được Quốc hội bầu làm Thủ tướng Chính phủ với tỷ lệ 96,25% trên tổng số đại biểu Quốc hội. Cụ thể, có 462/466 đại biểu có mặt tham gia biểu quyết bỏ phiếu tán thành, 4 đại biểu bỏ phiếu không tán thành (tương ứng 0,83%). Như vậy, nhân sự cấp cao của cả khóa Quốc hội XIV như sau:

Chủ tịch Bà Nguyễn Thị Kim Ngân (từ 31/03/2016 – 30/03/2021) Ông Vương Đình Huệ (từ 31/03/2021) Các Phó Chủ tịch Bà Tòng Thị Phóng (đến 31/03/2021) Ông Uông Chu Lưu (đến 31/03/2021) Ông Phùng Quốc Hiển (đến 31/03/2021) Ông Đỗ Bá Tỵ Ông Trần Thanh Mẫn (từ 01/04/2021) Ông Nguyễn Khắc Định (từ 01/04/2021) Ông Nguyễn Đức Hải (từ 01/04/2021) Quốc hội khóa XIV đã thông qua 73 luật, bộ luật và 2 pháp lệnh. Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV là nhiệm kỳ thành công về mặt ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA), với 3 hiệp định đa phương quan trọng là Hiệp định CPTPP, Hiệp định EVFTA và Hiệp định RCEP. Ngoài ra, còn có Hiệp định thương mại tự do song phương Việt Nam – Vương Quốc Anh (UKVFTA) và Hiệp định thương mại tự do song phương ASEAN – Hồng Kông (Trung Quốc) (AHKFTA).

Khóa XV (2021-2026)

Bầu ngày 23 tháng 5 năm 2021. Bầu 499 đại biểu.

Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội

Các nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của quốc hội Việt Nam được quy định theo Điều 70 trong Hiến pháp Việt Nam.

Tổ chức của Quốc hội

Điều 3 Luật tổ chức Quốc hội quy định: Quốc hội tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số. Hiệu quả hoạt động của Quốc hội được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp Quốc hội, hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và các Đại biểu Quốc hội. Quốc hội Khóa XIV hiện tại có tổng cộng 496 Đại biểu được bầu. Về sau một số Đại biểu bị kỷ luật hoặc từ nhiệm, còn lại 483 Đại biểu.

Các cơ quan của Quốc hội gồm có:

Ủy ban thường vụ Quốc hội Văn phòng Quốc hội Hội đồng Dân tộc Ủy ban Pháp luật Ủy ban Tư pháp Ủy ban Kinh tế Ủy ban Tài chính, Ngân sách Ủy ban Quốc phòng và An ninh Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng Ủy ban về các Vấn đề Xã hội Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Ủy ban Đối ngoại Viện Nghiên cứu lập pháp [cần dẫn nguồn] Các cơ quan được Quốc hội thành lập nhưng hoạt động độc lập gồm (Hiến pháp Việt Nam năm 2013, chương X)

Kiểm toán Nhà nước Việt Nam Hội đồng bầu cử Quốc gia Việt Nam Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội là các cơ quan của Quốc hội Quốc hội quyết định số lượng Ủy ban và bầu các thành viên của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Khi xét thấy cần thiết, Quốc hội thành lập Ủy ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra một dự án hoặc điều tra một vấn đề nhất định.

Sơ đồ tổ chức Quốc hội Việt Nam Sơ đồ tổ chức Quốc hội Việt Nam Thành phần nhân sự của Quốc hội là các đại biểu Quốc hội Việt Nam, do cử tri Việt Nam bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Các đại biểu được bầu chịu trách nhiệm trước cử tri bầu ra mình và trước cử tri cả nước. Thông qua các đại biểu và thông qua quốc hội, nhân dân Việt Nam sử dụng quyền lực của mình để định đoạt các vấn đề của đất nước.

Theo hiến pháp và luật pháp nhà nước, các đại biểu quốc hội không có nghĩa vụ phải tuân theo các chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, Chủ tịch Quốc hội được đề cử bởi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam[56], và phần lớn các đại biểu quốc hội là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam (hiện nay là khoảng 90%)[57] và họ phải tuân thủ các chỉ thị của đảng. Do đó, Quốc hội Việt Nam không có được sự độc lập khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam khi quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Lãnh đạo Quốc hội

Chủ tịch Quốc hội Việt Nam (tên đầy đủ là Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam) là người đứng đầu Ủy ban Thường vụ Quốc hội và hiển nhiên đứng đầu Quốc hội, do Quốc hội bầu ra từ các Đại biểu Quốc hội. Chủ tịch Quốc hội không được đồng thời là thành viên của Chính phủ. Chủ tịch Quốc hội đầu tiên năm 1946 là Nguyễn Văn Tố. Chủ tịch Quốc hội hiện nay là ông Vương Đình Huệ (2021-nay).

Dưới Chủ tịch là các Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam. Số lượng Phó Chủ tịch gồm 4 người. Phó Chủ tịch Quốc hội đầu tiên năm 1946 là Phạm Văn Đồng. Quốc hội khóa XIV hiện nay có 4 Phó Chủ tịch, là: Trần Thanh Mẫn (Phó Chủ tịch Thường trực), Đỗ Bá Tỵ, Nguyễn Khắc Định và Nguyễn Đức Hải (từ 2021).

Tổng thư ký Quốc hội Việt Nam là người đứng đầu Văn phòng Quốc hội, do Quốc hội bầu ra từ các Đại biểu Quốc hội. Tổng thư ký cũng đồng thời là phát ngôn viên của Quốc hội. Tổng thư ký Quốc hội hiện nay là ông Bùi Văn Cường (từ 2021).

Từ năm 2016, Chủ tịch Quốc hội kết thúc nhiệm kỳ vào ngày 30 tháng 3 và bắt đầu nhiệm kỳ mới vào ngày 31 tháng 3 hoặc 01 tháng 4

Hoạt động của Quốc hội

Nhiệm kì của mỗi khóa Quốc hội là 5 năm, kể từ ngày khai mạc kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa đó đến ngày khai mạc kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa sau. Sáu mươi ngày trước khi Quốc hội hết nhiệm kì, Quốc hội khóa mới phải được bầu xong. Trong trường hợp đặc biệt, nếu được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành thì Quốc hội quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của mình theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Quốc hội Việt Nam họp thường lệ mỗi năm 2 kỳ do Uỷ ban thường vụ Quốc hội triệu tập. Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể triệu tập phiên họp bất thường theo quyết định của mình, hoặc khi Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hoặc khi có ít nhất 1/3 tổng số Đại biểu Quốc hội yêu cầu. Các cuộc họp của Quốc hội đều công khai, một số được truyền hình trực tiếp, phát sóng toàn quốc và ra nước ngoài. Quốc hội Việt Nam cũng có thể họp kín theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hoặc của ít nhất 1/3 tổng số đại biểu Quốc hội. Thành viên của Chính phủ không phải là đại biểu Quốc hội được mời tham dự các phiên họp toàn thể của Quốc hội. Đại diện cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, cơ quan báo chí, công dân và khách quốc tế có thể được mời dự các phiên họp công khai của Quốc hội[60].

Lấy phiếu tín nhiệm

Quyền lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Tổ chức của Đảng đoàn Quốc hội

Vai trò lãnh đạo rõ rệt nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quốc hội Việt Nam là cơ quan Đảng đoàn Quốc hội. Đây là một tổ chức của Đảng Cộng sản trong Quốc hội, gồm các đảng viên nắm vai trò trọng yếu trong Quốc hội như Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đảng đoàn Quốc hội chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Các chức vụ Bí thư, Phó Bí thư và các Ủy viên Đảng đoàn đều do Bộ Chính trị chỉ định.

Về danh nghĩa, Đảng đoàn Quốc hội là một tổ chức có tư cách pháp nhân có con dấu độc lập. Trên thực tế, các hoạt động của Quốc hội đều được Bộ Chính trị và Ban Bí thư định hướng gián tiếp thông qua Đảng đoàn Quốc hội.

Thành viên Đảng đoàn Quốc hội hiện gồm: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, các ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội; thành viên khác (nếu có) do Đảng đoàn đề nghị, Bộ Chính trị quyết định. Chủ tịch Quốc hội làm Bí thư Đảng đoàn, một Phó Chủ tịch Quốc hội làm Phó Bí thư Đảng đoàn.

Nhiệm vụ của Đảng đoàn Quốc hội

Lãnh đạo Quốc hội thực hiện đúng đắn đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng. Thực hiện các nghị quyết của Đảng về tổ chức, cán bộ; quyết định những vấn đề về tổ chức, cán bộ theo sự phân công, phân cấp của Bộ Chính trị. Kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng trong hoạt động của Quốc hội. Được triệu tập đảng viên hoặc đại diện đảng viên ở các đoàn đại biểu Quốc hội để bàn chủ trương và biện pháp thực hiện nghị quyết của Đảng trong Quốc hội. Báo cáo và kiến nghị với cấp ủy có thẩm quyền biện pháp xử lý đối với đảng viên là đại biểu Quốc hội vi phạm nguyên tắc kỷ luật Đảng trong hoạt động Quốc hội. Chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Ban Bí thư về những đề xuất và các quyết định của Đảng đoàn. Phối hợp với Đảng ủy khối và Đảng ủy cơ quan xây dựng Đảng bộ cơ quan Văn phòng Quốc hội trong sạch, vững mạnh.

Vấn đề thuộc thẩm quyền của Bộ Chính trị

Đảng đoàn Quốc hội trình Bộ Chính trị:

Những vấn đề Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội có ý kiến khác với ý kiến Bộ Chính trị trước khi Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua (nếu có). Về định hướng trọng tâm hoạt động giám sát trong cả nhiệm kỳ của Quốc hội. Về việc Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn khi có sai phạm. Về kết quả giám sát, các kiến nghị, đề xuất sau giám sát đối với việc thực hiện các công trình trọng điểm quốc gia, các chủ trương lớn của Đảng có ảnh hưởng đến kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước; kiến nghị xử lý các vi phạm, kết luận về trách nhiệm của các cá nhân thuộc diện Bộ Chính trị quản lý. Kiến nghị xử lý về trách nhiệm cá nhân cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị quản lý khi có vi phạm trong hoạt động Quốc hội. Những vấn đề khác Đảng đoàn Quốc hội thấy cần xin ý kiến Bộ Chính trị.

Vấn đề thuộc thẩm quyền của Ban Bí thư

Đảng đoàn Quốc hội trình Ban Bí thư kiến nghị xử lý về trách nhiệm cá nhân cán bộ thuộc diện Ban Bí thư quản lý khi có vi phạm trong hoạt động Quốc hội. Bí thư Đảng đoàn Quốc hội hiện là Vương Đình Huệ, phó bí thư là Trần Thanh Mẫn.

Nhận định

Giáo sư Gerry Ferguson, trưởng khoa quan hệ pháp luật vùng châu Á – Thái Bình Dương thuộc đại học Victoria, Canada nhận định về Quốc hội Việt Nam: “từ năm 1945, Quốc hội Việt Nam hoạt động như là một cơ quan “gật đầu” (rubber stamp) mọi quyết định được đưa ra trước từ các ban cao nhất thuộc đảng hợp pháp độc nhất (Đảng Cộng sản Việt Nam)”.

Theo nhà phân tích David Koh của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore thì dù Quốc hội đã bắt đầu bỏ phiếu tín nhiệm chính phủ từ năm 2013 nhưng vẫn không giải quyết được những mâu thuẫn trong cơ chế chính trị Việt Nam. Ví dụ như nếu Quốc hội bất tín nhiệm nhân sự trong chính phủ nhưng Đảng vẫn tín nhiệm thì sao? Cuộc bỏ phiếu vẫn không có tác động nào.

Về hoạt động làm luật, luật sư Nguyễn Minh Tuấn, giảng viên đại học Hà Nội nhận xét: “Quốc hội nắm quyền lập pháp, nhưng thực tế phần lớn các dự thảo luật là do Chính phủ và các Bộ ngành soạn thảo, đệ trình.”

Trong phiên họp quốc hội ngày 26/3/2021, nói về tính cục bộ địa phương trong Quốc hội, đại biểu Lưu Bình Nhưỡng phát biểu: “Quốc hội cần công bằng trong phân bổ nguồn lực và trao quyền lực, kiểm soát quyền lực, không được ngủ mê trên quyền lực của nhân dân, đặc biệt không được biến Quốc hội thành căn phòng kín để gom góp lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân và chia chác quyền lực, chia chác nguồn lực của đất nước”.

Nguồn: chúng tôi thêm: International experiences and unesco recommendations on cooperation in education for sustainable development of asean

Bạn đang đọc nội dung bài viết Chức Năng Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!