Đề Xuất 12/2022 # Chính Sách Đối Với Người Có Công Thực Trạng Và Một Số Kiến Nghị / 2023 # Top 19 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Chính Sách Đối Với Người Có Công Thực Trạng Và Một Số Kiến Nghị / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Chính Sách Đối Với Người Có Công Thực Trạng Và Một Số Kiến Nghị / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Theo Pháp lệnh ưu đãi người có công số 26/2005/PL-UBTVQH, người có công với cách mạng bao gồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01-01-1945; người hoạt động cách mạng từ ngày 01-01-1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19-8-1945; Liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng; Thân nhân của người có công với cách mạng(1).

Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc “Uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa”, ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (năm 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định chọn ngày 27-7 là ngày Thương binh – Liệt sĩ, nhằm tôn vinh và tỏ lòng biết ơn đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công. Hồ Chủ tịch đã nói: “Thương binh, bệnh binh, gia đình bộ đội, gia đình liệt sỹ là những người có công với Tổ quốc. Bởi vậy bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, thương yêu và giúp đỡ họ”. Vì vậy, chăm sóc, ưu đãi người có công với cách mạng có ý nghĩa chính trị, xã hội to lớn và trở thành một nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Điều 67 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi với người có công với nước, vận động toàn xã hội tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nâng cao mức sống về mặt vật chất tinh thần của người có công”(2). Đây là yếu tố nhằm thực hiện sự tiến bộ và công bằng xã hội, góp phần ổn định chính trị, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển.

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan chụp ảnh cùng các đại biểu người có công tỉnh Hà Nam Ngoài ra, liên Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – Bộ Tài chính đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc người có công với nước(3). Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục dành sự quan tâm đặc biệt trong việc chăm sóc người có công với Nước. Hiện cả nước có trên 8,8 triệu đối tượng người có công được hưởng trợ cấp một lần và hàng tháng. Mỗi năm, Nhà nước đã dành gần 26.000 tỷ đồng để thực hiện các chế độ ưu đãi cho người có công với cách mạng.

Lợi dụng chủ trương giải quyết chế độ đối với quân nhân là người dân tộc thiểu số, 20 cán bộ chủ chốt của xã Sơn Kỳ, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi, đã làm giả nhiều loại hồ sơ, thủ tục để chiếm đoạt tiền Nhà nước. Theo kết luận thanh tra của Thanh tra huyện Sơn Hà, trong số 215 trường hợp đã được UBND xã đề nghị giải quyết chế độ, chỉ có 37 người đúng đối tượng, còn lại 178 trường hợp không đúng quy định. Cụ thể: 68 trường hợp đã có quyết định công nhận bệnh binh với tỷ lệ 61% trở lên, đã hưởng trợ cấp hàng tháng với tổng số tiền hơn 2,42 tỷ đồng; trong đó, có 48 trường hợp không đúng đối tượng được giải quyết, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước (tính đến cuối tháng 5-2012) là 1,7 tỷ đồng.

Tại Hà Giang, vụ án Ngô Văn Lai cùng đồng phạm làm giả hồ sơ thương binh chiếm dụng tiền trợ cấp của Nhà nước gây xôn xao, ảnh hưởng xấu đến quần chúng nhân dân ở tỉnh vùng cao biên giới, được Công an tỉnh Hà Giang điều tra, phát hiện và khởi tố. Với thủ đoạn “biến người lành thành… thương binh”, Ngô Văn Lai hướng dẫn các đối tượng tự kê khai thương tật (là các vết sẹo, vết thương, vết gãy xương do tai nạn lao động, tai nạn giao thông hoặc do vết mổ bệnh lý…), giả mạo chữ ký (xác nhận cho nhau), sau đó xin xác nhận của cấp ủy, chính quyền địa phương. Vụ Huỳnh Ngọc Minh, nguyên cán bộ Thương binh – Xã hội phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ chiếm đoạt hơn 1 tỷ đồng tiền trợ cấp người có công với cách mạng. Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ phiên xét xử sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Minh tù chung thân về tội Tham ô tài sản. Vừa qua, Công an tỉnh Đắk Nông cũng đã phối hợp điều tra, triệt phá một đường dây chuyên làm hồ sơ giả để hưởng chế độ thương binh, bệnh binh; khởi tố 14 đối tượng, trong đó có 4 đối tượng bị khởi tố về hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức, 10 đối tượng bị khởi tố về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; truy thu hàng trăm triệu đồng cho Nhà nước.

Từ những vụ việc cụ thể nêu trên cho thấy: Công tác quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở trong việc thực hiện chính sách đối với người có công còn nhiều bất cập, hạn chế. Một số văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện “Pháp lệnh ưu đãi người có công” chưa đầy đủ, thiếu thống nhất. Quy định hướng dẫn về điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình, trách nhiệm xác nhận người có công chưa đồng bộ, thiếu hợp lý; có nội dung quá “khắt khe”, gây khó khăn cho đối tượng; có nội dung quá “thông thoáng”, tạo kẽ hở cho phần tử xấu lợi dụng, dẫn đến tiêu cực. Để thực hiện tốt chính sách đối với người có công, thiết nghĩ trong thời gian tới, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, thấm nhuần tư tưởng, quan điểm của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính sách pháp luật của Nhà nước về chăm sóc đối với người có công, tiếp tục ban hành các văn bản, quyết định, chỉ thị phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương; phải phối hợp thường xuyên, chặt chẽ giữa các ngành chức năng trong quá trình thực thi chính sách đối với người có công.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện chính sách để khắc phục các hạn chế, ngăn ngừa đối tượng lợi dụng chính sách để gian lận chiếm hưởng chế độ. Nhiều vấn đề cần được bổ sung như: hướng dẫn việc xác nhận thương binh, liệt sỹ trong điều kiện hoàn cảnh mới, thực hiện ưu đãi người hoạt động cách mạng trước năm 1945 và từ năm 1945 đến trước tổng khởi nghĩa 19-8-1945. Một số chế độ ưu đãi về giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe, dụng cụ chỉnh hình phục hồi chức năng, chế độ trợ cấp… cũng cần được sửa đổi, bổ sung để việc ưu đãi xã hội được đồng bộ, đầy đủ và có tính khoa học, hợp lý, tránh tạo kẽ hở dễ phát sinh tiêu cực.

Ba là, kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác chính sách bảo đảm đủ phẩm chất, đạo đức, năng lực chuyên môn; đủ khả năng tham mưu cho cấp ủy đảng, chính quyền thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với người có công.

Năm là, các cơ quan bảo vệ pháp luật tăng cường phát hiện, kiên quyết đưa ra khởi tố và xử lý nghiêm minh các vụ việc, vụ án vi phạm chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước đối với người có công, bảo đảm tính răn đe để phòng ngừa tiêu cực xảy ra.

(1) Điều 2 Pháp lệnh ưu đãi người có công số 26/2005/PL-UBTVQH ngày 29-6-2005. (2) Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Nxb CTQG, Điều 67, Chương V, tr.19. (3) Thông tư liên tịch số 47/2009/TTLT-BTCBLĐTBXH ngày 11-3-2009.

Bùi Thu Huyền (Chuyên viên Ban Nội chính Trung ương)

Giải Pháp Tiếp Tục Thực Hiện Tốt Chính Sách, Pháp Luật Đối Với Người Có Công / 2023

(QBĐT) – Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của đất nước, chính sách ưu đãi đối với người có công đã từng bước được hoàn thiện, tương đối toàn diện, bao phủ hầu hết các lĩnh vực đời sống người có công. Chế độ trợ cấp, chế độ mở rộng ưu đãi đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ nhà ở… được điều chỉnh, bổ sung; mức trợ cấp hàng tháng được điều chỉnh đồng bộ với tiền lương và trợ cấp bảo hiểm xã hội, từng bước cải thiện và ổn định đời sống người có công với cách mạng.

Quảng Bình là một trong những tỉnh có nhiều đối tượng người có công với cách mạng, toàn tỉnh có gần 14,5 vạn người có công (chiếm gần 17% dân số), thuộc nhiều nhóm đối tượng khác nhau; trong đó, có trên 13.600 liệt sỹ, gần 2 vạn thuơng bệnh binh, 387 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 6.300 người hưởng tham gia kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất độc hóa học; gần 1.000 người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tù đày; hơn 10 vạn đối tượng tham gia kháng chiến được tặng thưởng huân huy chương.

Qua giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh đã nhận thấy, các văn bản pháp luật ưu đãi người có công được tỉnh thể chế hóa, tạo môi trường thuận lợi để chính sách đi vào cuộc sống. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng tỉnh đã rất quan tâm, ưu tiên thực hiện chính sách ưu đãi người có công, cũng như thực hiện đề án tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, đề án xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin.

Thời gian gần đây, tỉnh đã giải quyết bổ sung được nhiều trường hợp người có công với cách mạng được công nhận và thụ hưởng các chế độ ưu đãi của Nhà nước đúng quy định.

Chỉ tính từ năm 2013 đến nay, đã có gần 25.000 đối tượng được điều chỉnh trợ cấp, phụ cấp hàng tháng theo mức chuẩn mới tại Nghị định số 101/2013/NĐ-CP; thực hiện chế độ nghỉ dưỡng cho trên 13.000 đối tượng; tiếp nhận hơn 9.000 hồ sơ về thờ cúng liệt sĩ, đến ngày 20-8-2014 đã giải quyết được gần 4.000 hồ sơ; thực hiện ưu đãi trong giáo dục đào tạo cho 8.758 đối tượng; giải quyết chế độ bảo hiểm y tế cho gần 39.000 đối tượng; phối hợp kiểm tra, thẩm định trên 300 hồ sơ và hoàn chỉnh 86 hồ sơ đề nghị Chính phủ tặng thưởng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng; thực hiện trợ cấp cho trên 14.000 người theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Công tác quy tập hài cốt liệt sĩ được quan tâm thực hiện. Từ năm 2012 đến nay đã quy tập được 27 hài cốt liệt sĩ trên địa bàn tỉnh và 112 hài cốt liệt sĩ tại nước bạn Lào, nâng tổng số hài cốt liệt sĩ quy tập từ năm 2002 đến nay lên 1.263 hài cốt được đưa về nước và tổ chức lễ truy điệu, an táng trang trọng, chu đáo. Là một tỉnh kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng từ năm 2007 đến nay, Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” các cấp đã huy động được trên 10 tỷ đồng, cùng với nguồn hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân đã hỗ trợ xây mới gần 500 căn nhà, sửa chữa trên 600 căn nhà cho người có công.

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh giám sát về thực hiện chính sách người có công tại Bộ CHQS tỉnh. Ảnh: A.T

Tuy nhiên, qua giám sát, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh cũng thấy rằng việc tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng vẫn còn nhiều hạn chế. Một số người có công với cách mạng và gia đình vẫn còn khó khăn trong cuộc sống. Nguyên nhân khách quan là tuổi cao, sức yếu, không còn khả năng vươn lên mà chỉ dựa vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

Bên cạnh những khó khăn khách quan còn do những vướng mắc, bất cập của các văn bản hướng dẫn chậm, thiếu đồng bộ hoặc chưa rõ ràng; việc tổ chức thực hiện ở một số địa phương thiếu kịp thời, sự phối hợp chưa chặt chẽ, chưa đáp ứng yêu cầu của chủ trương chính sách. Công tác phổ biến, tuyên truyền các chế độ, chính sách về người có công ở một số địa phương, cơ sở còn làm chưa tốt, nặng về hình thức, thiếu chiều sâu, thực hiện thiếu thường xuyên, liên tục. Việc lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc nhắc nhở của một số cấp ủy, chính quyền địa phương còn thiếu thường xuyên, chậm thông tin báo cáo, dẫn đến sai sót trong quá trình xác lập hồ sơ thủ tục; không loại trừ một số đối tượng khai man hưởng chế độ, chính sách, gây dư luận xấu, bất bình trong nhân dân.

Công tác kiểm tra, giám sát một số nơi thực hiện chưa tốt; chưa kịp thời phát hiện, xử lý những sai sót, tiêu cực trong quá trình thực hiện. Việc quản lý đối tượng chưa chặt chẽ; công tác quản lý, lưu trữ, khai thác hồ sơ còn nhiều thiếu sót và đây cũng là yếu tố gây khó khăn trong việc thực hiện các chính sách.

Việc rà soát đối tượng hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở nhiều địa phương làm chậm so với kế hoạch Chính phủ đề ra nên chưa tranh thủ được nguồn vốn hỗ trợ từ Trung ương sớm; vì vậy đã làm ảnh hưởng đến kế hoạch thực hiện và nảy sinh nhiều vấn đề bất cập (người dân thắc mắc, chất vấn; nhiều trường hợp khó khăn về nhà ở cần khắc phục kịp thời nhưng chưa có nguồn vốn, nhiều trường hợp đang triển khai thực hiện thì chết do già yếu, bệnh tật).

Chính sách đối với người có công với cách mạng là một chính sách lớn, thể hiện sự nhân văn, nhân đạo của Đảng và Nhà nước. Để thực hiện tốt hơn công tác này trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Thực hiện phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm tổ chức, cá nhân, nhất là trách nhiệm người đứng đầu. Tiếp tục chỉ đạo, chấn chỉnh những tổ chức, cá nhân, những nơi làm còn chậm, thiếu trách nhiệm để người được thụ hưởng phải chờ đợi, đi lại nhiều lần; trong lúc đó những kẻ khai man, dối trá lại được tiếp tay để được thụ hưởng, tạo tâm lý bức xúc, thiếu niềm tin trong nhân dân.

Tăng cường công tác kiểm tra, tiếp tục phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh thực hiện Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 27/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về “Tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trong hai năm 2014-2015”, theo đúng tiến độ đề ra để giải quyết chế độ chính sách kịp thời, đúng đối tượng, không để lặp lại việc xảy ra những trường hợp làm sai, thụ hưởng chính sách không đúng đối tượng. Đồng thời, tích cực giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo và các kiến nghị của cử tri. Phát huy tinh thần, trách nhiệm của người dân trong việc tham gia thực hiện và giám sát thực hiện các chính sách.

Tiếp tục đẩy mạnh các phong trào đền ơn đáp nghĩa, thực hiện tốt công tác xã hội hóa, huy động nguồn lực từ các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân để góp phần cải thiện đời sống cho người có công và các gia đình chính sách; như xây dựng nhà ở, hỗ trợ cho các gia đình người có công đặc biệt khó khăn, neo đơn, già cả.

Tăng cường công tác quản lý, củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ làm chính sách. Chỉ đạo ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thực hiện chủ trương, chính sách ưu đãi người có công. Tiếp tục đề xuất, kiến nghị Quốc hội, Chính phủ, các bộ ngành điều chỉnh, sửa đổi những văn bản, chế độ chưa hợp lý, còn chồng chéo, thiếu rõ ràng để thuận lợi trong việc tổ chức thực hiện trong thời gian tới.

Thực Hiện Chính Sách Tài Khóa Hỗ Trợ Người Dân Và Doanh Nghiệp Gắn Với Cân Đối Ngân Sách Nhà Nước / 2023

Có khoảng 740 nghìn doanh nghiệp, chiếm đến 98% số doanh nghiệp đang hoạt động sẽ được hưởng lợi từ chính sách hỗ trợ.

Đạt được đa mục tiêu trong chính sách tài khóa

Trao đổi với phóng viên báo chí, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, trong bối cảnh dịch COVID-19 gây ra nhiều khó khăn đến hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến nghĩa vụ nộp thuế của người dân, doanh nghiệp, thời gian qua, Bộ Tài chính đã thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ như: gia hạn thuế, miễn giảm nhiều khoản phí, lệ phí, cũng như nhiều giải pháp để cân đối ngân sách Nhà nước.

Cụ thể, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 41/2020/NĐ-CP về việc gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất cho đối tượng chịu ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Theo đó, thực hiện gia hạn thời hạn nộp thuế 5 tháng đối với thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp, tổ chức sản xuất, kinh doanh; gia hạn 5 tháng đối với thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân của các hộ kinh doanh; gia hạn 5 tháng đối với tiền thuê đất của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân… Được biết, theo ước tính, khi triển khai Nghị định này, có khoảng 740 nghìn doanh nghiệp, chiếm đến 98% số doanh nghiệp đang hoạt động sẽ được hưởng lợi từ chính sách.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng đã trình Chính phủ và giải quyết theo thẩm quyền miễn thuế nhập khẩu đối với mặt hàng thiết bị y tế phục vụ cho phòng chống dịch; trình Chính phủ sửa đổi Nghị định số 122/2016/NĐ-CP và Nghị định số 125/2017/NĐ-CP và Nghị định số 134/2016/NĐ-CP về thuế suất nhập khẩu để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp hoạt động lĩnh vực da giày, dệt may, chế biến nông lâm thủy sản, cơ khí, nông nghiệp, công nghiệp phụ trợ và công nghiệp ôtô.

Đồng thời, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ để đề xuất với Quốc hội tại kỳ họp tới đây về quyết định mức thực hiện chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, áp dụng từ ngày 1/7/2020. Nếu chính sách này được thông qua, khoảng 700 nghìn doanh nghiệp, chiếm khoảng 93% tổng số doanh nghiệp cả nước đang hoạt động sẽ được hưởng lợi. Qua đó, nghĩa vụ nộp ngân sách năm 2020 của số doanh nghiệp này giảm khoảng 7,8 nghìn tỷ đồng. Bộ Tài chính cũng trình Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội nâng mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân. Nếu chính sách này được thông qua, tổng số thu nhập người lao động được giữ lại để tăng thêm cho chi tiêu nhờ việc điều chỉnh này trong năm 2020 khoảng 10,3 nghìn tỷ đồng.

Thời gian qua, Bộ Tài chính đã phối hợp với các ngành để rà soát cắt giảm, miễn giảm nhiều loại phí, lệ phí. Cụ thể: Miễn lệ phí môn bài đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân thành lập mới trong năm đầu; giảm 70% mức thu lệ phí đăng ký doanh nghiệp; giảm 67% mức phí công bố thông tin doanh nghiệp; giảm 50-70% phí thẩm định cấp sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động bưu chính… Tổng số phí, lệ phí cắt giảm mà doanh nghiệp và người dân được hưởng lợi là khoảng 500 tỷ đồng.

Bộ Tài chính cũng đã ban hành thông tư điều chỉnh giảm giá từ 10-50% đối với 9 nhóm dịch vụ và miễn hoàn toàn đối với giá 6 nhóm dịch vụ trong lĩnh vực chứng khoán, áp dụng tại các sở giao dịch chứng khoán và trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam. Chính sách này đã tác động rất tốt đến thị trường chứng khoán Việt Nam.

Bộ Tài chính đã trình Chính phủ để đề xuất với Quốc hội tại kỳ họp tới đây về quyết định mức thực hiện chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, áp dụng từ ngày 1/7/2020. Nếu chính sách này được thông qua, khoảng 700 nghìn doanh nghiệp, chiếm khoảng 93% tổng số doanh nghiệp cả nước đang hoạt động sẽ được hưởng lợi. Qua đó, nghĩa vụ nộp ngân sách năm 2020 của số doanh nghiệp này giảm khoảng 7,8 nghìn tỷ đồng.

Theo phân tích của các chuyên gia kinh tế, chính sách tài khóa vừa có tính giải quyết các vấn đề cấp bách trước mắt, vừa giải quyết các vấn đề cho lâu dài, tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển sản xuất.

Do vậy, việc Bộ Tài chính đã tham mưu cho Chính phủ và các cấp có thẩm quyền cả chính sách để ban hành ngay trước mắt cũng như các chính sách về lâu dài để tháo gỡ khó khăn cho người dân và doanh nghiệp, phát triển sản xuất kinh doanh là nỗ lực kịp thời, hiệu quả rất đáng ghi nhận.

Đến nay, các chính sách này đã đón nhận sự đồng tình, đánh giá cao của giới chuyên gia, cộng đồng doanh nghiệp và người dân.

Chủ động cân đối ngân sách nhà nước, đảm bảo đáp ứng cho công tác phòng chống dịch

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết, thời gian qua, Bộ Tài chính đã cùng với các ngành báo cáo Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội dành nguồn lực thích đáng để phòng chống dịch COVID-19. Cụ thể, đã dành 16,2 nghìn tỷ đồng để phòng, chống dịch; trong đó có khoảng 9,5 nghìn tỷ đồng từ nguồn ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương để mua sắm trang thiết bị y tế.

Dự kiến, trong thời gian tới, chi cho phòng, chống dịch tiếp tục tăng thêm để tăng cường khả năng ứng phó với đại dịch này. Ví dụ như dành 6,7 nghìn tỷ đồng chi cho chế độ ưu tiên phụ cấp cho các lực lượng tham gia phòng chống dịch COVID-19; trong đó có tiền ăn cho người cách ly, chi khám chữa bệnh nền trong thời gian bị cách ly… Bộ Tài chính cũng đã báo cáo Chính phủ, tới đây báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội dành 36 nghìn tỷ đồng từ ngân sách để thực hiện nghị quyết của Chính phủ hỗ trợ bằng tiền cho 6 nhóm đối tượng bị giảm sâu từ thu nhập, mất việc làm, thiếu việc làm, gặp khó khăn, không đảm bảo cuộc sống tối thiểu, chịu ảnh hưởng của dịch COVID-19, hỗ trợ thêm cho một số đối tượng đang hưởng chính sách ưu đãi bảo trợ xã hội trong thời gian có dịch.

Chia sẻ với phóng viên báo chí về giải pháp có thể đảm bảo cân đối ngân sách như kế hoạch được giao, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết, năm nay, trước diễn biến phức tạp khó lường của dịch COVID-19, từng thời điểm, Bộ Tài chính đã xây dựng nhiều kịch bản điều hành ngân sách. Tới đây, Bộ Tài chính đã kiến nghị Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương phải tăng cường tiết kiệm chi thường xuyên. Ngoài cắt giảm 10% chi thường xuyên theo dự toán đã được Quốc hội thông qua, tiếp tục cắt giảm thêm 10% nữa cũng như tiết kiệm thêm 50% công tác phí nước ngoài; 30% kinh phí hội nghị, hội thảo. Số tiền này, riêng cơ quan trung ương đã tiết kiệm được khoảng 700 nghìn tỷ đồng.

Bên cạnh đó, trên tinh thần chia sẻ trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương, trong kinh phí phòng, chống dịch đã phân bổ cho địa phương, những địa phương có khả năng cân đối ngân sách cao thì phải chủ động. Những địa phương có điều tiết về ngân sách Trung ương dưới 50% thì Trung ương hỗ trợ và những địa phương khó khăn, ngân sách Trung ương sẽ hỗ trợ theo các mức 30%, 50% và 70%.

Cũng theo Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng, trong sử dụng nguồn dự phòng, tiết kiệm chi phải tuyệt đối tiết kiệm để đảm bảo trước mắt phục vụ cho phòng, chống dịch cũng như dành cho phòng chống thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long, thiên tai ở khu vực miền núi phía Bắc…

Tiền Ảo Và Thách Thức Đối Với Chính Sách Tiền Tệ / 2023

Một số tác động của tiền ảo đến chính sách tiền tệ

Các loại tiền ảo đặc biệt là Bitcoin cũng như nền tảng công nghệ blockchain đang ngày càng thu hút sự quan tâm của các chủ thể trong nền kinh tế (Oliver Wyman, 2016).

Vậy những thách thức mà tiền ảo đặt ra đối với hoạt động điều hành chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương nói chung và với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay là những vấn đề gì?

Thứ nhất, tiền ảo gây những ảnh hưởng đến mục tiêu kiểm soát lạm phát của chính sách tiền tệ. Tiền ảo ra đời trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 (Nakamoto, 2008) và Bitcoin là đồng tiền ảo phổ biến nhất trong hệ thống tiền ảo đang thu hút đông đảo mọi người quan tâm trong thời gian qua. Đồng tiền này không bị kiểm soát bởi bất kỳ ai, kể cả Chính phủ hay những người tạo ra nó.

Giao dịch tiền ảo Bitcoin diễn ra đầu tiên vào 2009 và tỷ giá đầu tiên được công bố bởi New Liberty Standard là 1 USD đổi được 1.309,03 Bitcoin. Gần 4 năm sau, vào thời điểm đầu tháng 1/2013, giá giao dịch của 1 Bitcoin vào khoảng 13 USD.

Đến cuối tháng 11/2013, giá tiền ảo Bitcoin lần đầu vượt mốc 1.000 USD, nhưng đến tháng 4/2018 đã giao dịch tại vùng xấp xỉ 9.000 USD/Bitcoin sau khi chạm mốc cao nhất trong lịch sử là 20.000 USD/Bitcoin vào cuối tháng 12/2017, tương đương vốn hóa thị trường bitcoin đạt hơn 320 tỷ USD (Hình 1).

Theo phương trình trao đổi M.V = P.Y (Trong đó, M là lượng tiền, V là vòng quay của tiền tệ, Y là mức sản lượng thực tế, P là giá), nếu như vòng quay tiền V và sản lượng thực tế không Y đổi thì sự gia tăng mức cung tiền M sẽ kéo theo sự gia tăng về mức giá P tức là lạm phát mà không có bất kỳ ảnh hưởng nào đối với nền kinh tế thực (Franco, 2015).

Nghiên cứu của Franco cũng chỉ ra những ảnh hưởng có thể có của tiền ảo Bitcoin tới chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Đó là, nếu tiền ảo Bitcoin được sử dụng nhiều hơn sẽ dẫn đến sự gia tăng vòng quay của tiền và sự gia tăng này có thể dẫn đến lạm phát (Franco, 2015).

Xét theo tiêu chí giá trị vốn hóa của tiền ảo Bitcoin so với tổng lượng tiền trong lưu thông được phát hành bởi một số ngân hàng trung ương thì kết quả khá khác biệt (Bảng 1).

Với Mỹ hay khu vực Liên minh châu Âu (EU), tiền ảo Bitcoin chiếm tỷ trọng khá thấp, tương ứng là 2,5% và 2,1%. Tuy nhiên, nếu so với Thụy Điển, đất nước ít sử dụng tiền mặt mà chủ yếu sử dụng thanh toán thẻ, online thì tỷ trọng lại rất lớn, lên tới 355%.

Bất chấp những cảnh báo của Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan chức năng, trong thực tế hiện hiện nay, tiền ảo tại Việt Nam đang có những biến tướng khá phức tạp như mô hình kinh doanh đa cấp dưới hình thức kêu gọi đầu tư tiền ảo.

Mặc dù, chưa có số liệu chính xác về giá trị tiền ảo và tỷ lệ giá trị của loại tiền này trong lưu thông tại Việt Nam nhưng sự “góp mặt” của loại tiền này trong thanh toán, đầu tư… dường như đã ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan chức năng và khả năng sẽ khiến mục tiêu kiểm soát lạm phát của Ngân hàng Nhà nước trở nên khó khăn hơn.

Thứ hai, tiền ảo gây khó khăn trong việc kiểm soát mức cung tiền. Nền tảng công nghệ đã giúp việc thu thập thông tin và mạng lưới giao dịch nhanh hơn, rẻ hơn. Điều này tạo động lực cho kinh tế chia sẻ và cho phép các tổ chức tài chính công nghệ nắm bắt một số hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Ví dụ, công nghệ blockchain có thể tạo nền tảng cho vay với độ tin cậy rất cao cho các giao dịch phân cấp, cho dù giao dịch đó được xác định bằng đồng tiền pháp định hay đồng tiền ảo.

Điều này tạo ra thách thức không nhỏ cho các ngân hàng trung ương (Raskin và Yermack, 2016). Cụ thể, với lợi thế cơ bản trong giao dịch tiền ảo là các hợp đồng thông minh, giải quyết các giao dịch giữa hai bên độc lập mà không cần một bên thứ ba thì tiền ảo mang bản chất phi tập trung phá vỡ các kênh giao dịch tiền tệ bình thường.

Khác với việc cung cấp các khoản tiền pháp định được dựa trên quyết định của nhà hoạch định chính sách tiền tệ thì việc cung cấp tiền điện tử về nguyên tắc không chịu sự can thiệp của con người, đồng thời được điều chỉnh dựa trên các kết quả có thể kiểm chứng được.

Với đồng tiền pháp định do ngân hàng trung ương phát hành làm phương tiện thanh toán cho nền kinh tế. Khối lượng phát hành tiền do ngân hàng trung ương quyết định căn cứ vào nhu cầu của nền kinh tế. Vì vậy, ngân hàng trung ương dễ dàng kiểm soát lượng tiền pháp định.

Ở một mức độ nào đó, sự tồn tại của tiền ảo tương tự như tình trạng nền kinh tế bị USD hóa. Cầu đối với loại tiền này được hỗ trợ bởi sự thiếu niềm tin vào các đồng tiền pháp định hay ý muốn chủ quan của các bên giao dịch muốn ẩn danh tính của họ.

Và khi các khoản thanh toán sử dụng tiền ảo được diễn ra nhiều hơn thì nhu cầu tiền mặt và dữ trữ tiền do ngân hàng trung ương phát hành sẽ ít đi; đồng thời có thêm một lượng tiền ảo từ bên ngoài vào làm gia tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế.

Tiền ảo trong một số trường hợp được sử dụng thanh toán thay thế cho tiền pháp định sẽ ảnh hưởng tới bảng cân đối tiền tệ của ngân hàng trung ương, qua đó tác động đến chính sách tiền tệ (Kastelein, 2017).

Có thể xem xét sự tác động của tiền ảo tới bảng cân đối của ngân hàng trung ương trong mối tương quan với bảng cân đối của các chủ thể kinh tế (doanh nghiệp, hộ gia đình, tổ chức kinh tế) và các ngân hàng thương mại (Bảng 2).

Khi giao dịch tiền ảo tăng trưởng hay tiền ảo được sử dụng như một phương tiện trao đổi thì các hộ gia đình sẽ giảm lượng tiền mặt nắm giữ, tiền có xu hướng trở lại hệ thống ngân hàng. Từ đó, thu nhập từ phát hành tiền của ngân hàng trung ương sẽ giảm.

Một điều chỉnh khác cũng có thể xảy ra, đó là các hộ gia đình sẽ giảm lượng tiền gửi ngắn hạn mà họ thường sử dụng để chi trả thanh toán các khoản chi phí bằng thẻ tín dụng hay các giao dịch ngân hàng bên cạnh việc nắm giữ ít tài sản tài chính như chứng khoán hơn khi họ xem tiền ảo là một loại tài sản mới.

Từ đó, tiền gửi có xu hướng co lại và nhu cầu tiền gửi của các ngân hàng tại ngân hàng trung ương cũng có xu hướng giảm dẫn đến quy mô bảng cân đối ngân hàng trung ương nhỏ hơn và do đó thu nhập từ phát hành tiền cũng ít đi.

Sự khác biệt của đồng tiền ảo với đồng tiền pháp định, chính là một thách thức lớn cho thực thi chính sách tiền tệ. Bởi để thực thi chính sách tiền tệ hiệu quả thì một trong những điều kiện quan trọng là ngân hàng trung ương phải kiểm soát và thống kê được toàn bộ lượng tiền tệ lưu thông trong quốc gia.

Nhưng thực tế hiện nay, ngân hàng đang khó khăn trong việc thống kê các loại đồng tiền ảo vào tổng phương tiện thanh toán, do thanh toán bằng tiền ảo có thể được thực hiện mà không cần có sự tham gia của bên trung gian như ngân hàng.

Thứ ba, một số hệ lụy khác. Tiền ảo với những vụ đầu tư, lừa đảo còn gây ra những hệ lụy khác ảnh hưởng đến hiệu quả chính sách tiền tệ. Ma lực của tiền ảo đã lôi kéo không ít người vào kênh đầu tư với hy vọng mức lợi nhuận “khủng” nhưng khi rớt giá nhanh chóng, tiền ảo đã tạo nên sự hỗn loạn trong xã hội, gây bất ổn kinh tế vĩ mô.

Một bộ phận công chúng bỏ thời gian, công sức vào kinh doanh tiền ảo mà không được pháp luật thừa nhận, sản phẩm họ làm ra không được tính trong GDP, làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Hậu quả nữa là tín dụng đen, dẫn đến lãi suất thị trường bị đẩy lên, nguy cơ nợ xấu gia tăng, đi ngược với nỗ lực của ngân hàng trung ương về chính sách tín dụng phục sản xuất lưu thông hàng hóa, hạ mặt bằng lãi suất, cải thiện tình trạng nợ xấu…

Khuyến nghị về chính sách quản lý tiền ảo tại Việt Nam

Quản lý tiền ảo tại Việt Nam là một vấn đề cấp thiết. Quản lý tốt không chỉ giúp bảo vệ sự ổn định của nền kinh tế mà còn tạo điều kiện để thực thi chính sách tiền tệ an toàn, hiệu quả.

Tháng 8/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1255/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo, trong đó nhấn mạnh việc rà soát, đánh giá thực trạng khung pháp lý, đề xuất điều chỉnh để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo của Việt Nam.

Tuy vậy, để hạn chế tác động tiêu cực của tiền ảo đối với chính sách tiền tệ và nền kinh tế, xã hội nói chung, cần tập trung vào các vấn đề sau:

Thứ nhất, Nhà nước cần có các chính sách nâng cao cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin. Hệ thống tài chính – ngân hàng của Việt Nam hiện nay vẫn còn ở giai đoạn đang phát triển, chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro. Các yếu tố như cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin, trình độ còn kém xa so với các nước phát triển, do vậy việc chấp nhận hoàn toàn đồng tiền ảo tại Việt Nam trong giai đoạn này là chưa phù hợp.

Để nâng cao hiệu quả quản lý tiền ảo Bitcoin và các đồng tiền ảo trong dài hạn, qua đó hạn chế các tác động tiêu cực tới mục tiêu trong điều hành chính sách tiền tệ, cần có các chính sách nâng cao cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng và nâng cao năng lực đội ngũ chuyên gia tài chính, chuyên gia mã hóa và bảo mật, nâng cao nhận thức của người dân về bản chất của bitcoin cũng như các loại tiền ảo khác.

Thứ hai, đẩy nhanh quá trình nghiên cứu, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý quản lý tiền ảo tại Việt Nam. Tại Quyết định số 1255/QĐ-TTg ngày 21/8/2017, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Bộ Tư pháp phối hợp với Ngân hàng Nhà nước đẩy nhanh quá trình nghiên cứu, đề xuất việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để quản lý tiền ảo tại Việt Nam, từ đó, tháo gỡ những thách thức trong công tác thống kê tiền tệ, quy mô thanh toán của nền kinh tế, tạo cơ sở đảm bảo sự ổn định, tính thông suốt của thị trường tiền tệ, kiểm soát được lãi suất, mức tăng trưởng tín dụng và lạm phát.

Do đó, công tác truyền thông cần đẩy mạnh thông tin tuyên truyền, cảnh báo qua các kênh thông tin chính thức (truyền hình, báo giấy, báo mạng, tuyên truyền tại địa phương…), mạng xã hội để các chủ thể kinh tế nhìn nhận rõ các dấu hiệu rủi ro, tránh các mất mát trong giao dịch thanh toán hay đầu tư đồng tiền ảo tại Việt Nam, đảm bảo sự phát triển an toàn, hiệu quả của hệ thống tài chính Việt Nam.

Thứ tư, xử lý nghiêm các hành vi tổ chức đầu tư tiền ảo. Theo quy định tại khoản 6, Điều 27 Nghị định số 96/2014/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, hành vi phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính ở mức phạt tiền 150 – 200 triệu đồng. Từ ngày 1/1/2018, những hành vi này còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điểm h khoản 1 Điều 206 Bộ luật Hình sự quy định: Người nào thực hiện hành vi phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp; làm giả chứng từ thanh toán, phương tiện thanh toán; sử dụng chứng từ thanh toán phương tiện thanh toán giả gây thiệt hại cho người khác từ 100 triệu đến dưới 300 triệu đồng sẽ bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 300 triệu đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Trường hợp gây thiệt hại từ 3 tỷ đồng trở lên, thì có thể phạt tù đến 20 năm.

Như vậy, với sự phát triển khoa học công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin, sự lan tỏa nhanh chóng của các đồng tiền ảo ở Việt Nam đã hiện hữu và diễn biến phức tạp. Do đó, nếu không thực hiện việc kiểm soát hiệu quả đồng tiền này thì rủi ro không chỉ cho những nhà đầu tư mà cho cả hệ thống tài chính, chính sách tiền tệ.

Thách thức này đòi hỏi, Ngân hàng Nhà nước cần sớm có những đánh giá chính xác tác động của tiền ảo lên chính sách tiền tệ, tiếp tục có những biện pháp hữu hiệu và phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Công an đề xuất các nội dung quản lý theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Chính Sách Đối Với Người Có Công Thực Trạng Và Một Số Kiến Nghị / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!