Đề Xuất 2/2023 # Chiến Lược Phát Triển Của Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Trong Giai Đoạn Hậu Covid # Top 10 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Chiến Lược Phát Triển Của Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Trong Giai Đoạn Hậu Covid # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Chiến Lược Phát Triển Của Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Trong Giai Đoạn Hậu Covid mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

(DHVO). Việc lựa chọn chiến lược phát triển một cách khoa học và phù hợp sẽ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thiết kế được các giải pháp chiến lược hiệu quả để có thể tận dụng được các cơ hội tốt nhất do thị trường mang lại, chủ động với những biến động của môi trường kinh doanh trong bối cảnh thị trường trong giai đoạn hậu Covid. Với các giải pháp chiến lược hiệu quả, DNNVV có thể duy trì và phát triển  được thị phần, đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng, từ đó, đạt được mục tiêu, phát triển ổn định, bền vững và sử dụng hiệu quả nhất nguồn lực có hạn. Bài báo đề xuất những giải pháp chiến lược phát triển của DNNVV, giúp doanh nghiệp (DN) có thể hoạch định được một chiến lược phát triển hiệu quả và khả thi, đảm bảo hiệu quả công tác quản trị chiến lược nói riêng và hiệu quả kinh doanh nói chung.

1. Đặt vấn đề

Chiến lược là một tập hợp các lựa chọn của DN nhằm đạt được mục tiêu trong điều kiện giới hạn về nguồn lực, và với những ưu điểm và kỳ vọng khác biệt. Chiến lược phản ánh ưu tiên của DN trước các lựa chọn khác nhau về phân khúc thị trường, đặc tính của sản phẩm, giá cả, kênh phân phối, hay thông điệp thương hiệu….

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại và tác động của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đến nền kinh tế của mọi quốc gia, khoa học, công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, dẫn đến môi trường cạnh tranh giữa các DN trở nên ngày càng khốc liệt, xu hướng cạnh tranh giữa các DN đang có xu hướng chuyển từ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh về chất lượng và khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Mặt khác, trong bối cảnh môi trường kinh doanh có nhiều biến động do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 như sự thay đổi trong nhu cầu của thị trường, sự biến động về ngành nghề và phương thức kinh doanh… đòi hỏi những DN yếu thế như DNNVV cần hoạch định và thực thi chiến lược phát triển nhằm chủ động thích ứng với biến động của môi trường kinh doanh, ổn định hoạt động và đạt hiệu quả kinh doanh. Trong điều kiện kinh doanh hiện nay, việc hoạch định và thực thi chiến lược phát triển của các DNNVV là tất yếu khách quan, là đòi hỏi cấp thiết giúp DN nhằm tận dụng tối đa những cơ hội từ thị trường và biến những lợi thế của mình thành sức mạnh cạnh tranh trên thị trường.

2. Tác động của đại dịch Covid-19 tới doanh nghiệp nhỏ và vừa

2.1. Tác động đến doanh thu của doanh nghiệp nhỏ và vừa

2.2. Tác động đến nguồn nhân lực của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Do sụt giảm các đơn đặt hàng và gián đoạn nguồn cung đầu vào, hầu hết các DNNVV đều thu hẹp quy mô hoạt động bằng việc cắt giảm lực lượng lao động. Trong hai tháng đầu của quý 2 năm 2020, có 23,8% số DNNVV phải cắt giảm tới 50% số lượng lao động so với tháng 12 năm 2019. Những DN càng có qui mô nhỏ càng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid và mức độ cắt giảm lao động càng cao. Vào tháng 5 năm 2020, tỷ lệ quy mô lao động trung bình trong các DNNVV đã giảm xuống mức 70% so với tháng 12 năm 2019.

2.3. Tác động đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo số liệu khảo sát, có 34% DNNVV được khảo sát cho rằng Covid-19 ảnh hưởng lớn đến hoạt động tài chính của DN. Trong giai đoạn này, các DN xác định ưu tiên trước mắt là sống sót qua cuộc khủng hoảng và theo dõi chặt chẽ dòng tiền để xây dựng và tăng trưởng trở lại. Hầu hết các DNNVV có đòn bẩy tài chính thấp và không có nhiều khả năng tiếp cận đối với các khoản vay chính thức theo đặc tính kinh doanh quy mô nhỏ của DN. Trong khi đó, chỉ có một vài DNNVV có thể tiếp cận được các gói hỗ trợ, do thiết kế ưu tiên cho các khách hàng hiện tại trong hệ thống của ngân hàng.

3. Chiến lược phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa

3.1. Bối cảnh kinh tế trong nước và thế giới

a. Bối cảnh kinh tế thế giới

Trên thế giới, tất cả các nền kinh tế đều đồng thời bị tác động bởi đại dịch Covid-19, dẫn đến cả cung và cầu về hàng hóa đồng thời bị suy giảm, kinh tế và thương mại sa sút do hiệu ứng từ những biện pháp hành chính cần thiết để đối phó đại dịch như phong tỏa, giãn cách hay cách ly xã hội, phong toả biên giới quốc gia…. Chuỗi cung ứng và chuỗi tạo giá trị sẽ thay đổi theo hướng vừa được đa dạng hơn, dễ dàng và nhanh chóng có thể thay thế được cho nhau hơn, và tạo thành mạng lưới kết nối nhiều chuỗi với nhau để “bọc đỡ” lẫn nhau. Trong thời gian tới, kinh tế và thương mại thế giới sẽ còn thay đổi bởi sự hình thành của một nhu cầu đảm bảo an ninh mới – như đảm bảo an ninh lương thực hay đảm bảo an ninh năng lượng – là các đối tác đảm bảo luôn tự chủ về cung ứng những sản phẩm, thiết bị hay vật liệu cần thiết để đối phó khủng hoảng, đặc biệt về thuốc men, trang thiết bị y tế và tăng cường khả năng có thể nhanh chóng chuyển đổi sản xuất bình thường sang sản xuất những vật dụng hay thiết bị cần thiết cho việc ứng phó khủng hoảng. Cơ cấu kinh tế và thương mại quốc gia và quốc tế vì thế sẽ thay đổi, ưu tiên chính sách kinh tế và thương mại quốc gia vì thế cũng thay đổi. Những ngành kinh tế như ngành du lịch và vận tải, đặc biệt hàng không, sẽ thay đổi rất cơ bản. Tất cả các đối tác đều phải định hình lại chính sách xuất nhập cảnh và quản lý biên giới quốc gia, chiến lược phát triển du lịch và hoạt động giao thông vận tải trên bộ, trên không cũng như trên biển. Các quốc gia và vùng lãnh thổ sẽ không co về đóng cửa hay khép kín, nhưng việc kiểm soát thông thương, đặc biệt về dịch tễ, sẽ phải thắt chặt hơn và đảm bảo hiệu quả hơn rất nhiều.

b. Bối cảnh kinh tế trong nước

Do hội nhập kinh tế sâu rộng, nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19, nhưng cũng thể hiện sức chống chịu đáng kể. Kinh tế vĩ mô và tài khóa ổn định với mức tăng trưởng GDP ước đạt 1,8% trong nửa đầu năm 2020, dự kiến đạt 2,8% trong cả năm. Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới không dự báo suy thoái kinh tế, nhưng tốc độ tăng trưởng dự kiến năm nay thấp hơn nhiều so với dự báo trước khủng hoảng là 6-7%. Tuy nhiên, tác động của cuộc khủng hoảng Covid-19 đang diễn ra là khó dự đoán, và sức ép lên tài chính công sẽ gia tăng do thu ngân sách giảm xuống trong khi chi ngân sách tăng lên do gói kích cầu được kích hoạt để giảm thiểu tác động của đại dịch đối với các DN. Mặc dù vậy, theo dự báo của World Bank, nhờ có nền tảng cơ bản tốt và nếu tình hình dịch bệnh Covid-19 được kiểm soát ở Việt Nam cũng như trên thế giới, kinh tế Việt Nam sẽ hồi phục vào năm 2021. Mặt khác, nhu cầu của thị trường thế giới có khả năng sẽ được cải thiện trong quý 4 và thúc đẩy tăng trưởng của lĩnh vực sản xuất – ước đạt khoảng 7,3% trong 2020. Hoạt động xuất nhập khẩu, do đó cũng sẽ gia tăng và tiếp tục tạo ra thặng dư thương mại trong năm nay. Hoạt động xây dựng dự kiến hồi phục trong quý 4 nhờ đầu tư công vào cơ sở hạ tầng được thúc đẩy. Tiêu dùng cá nhân, vốn đóng góp 68% vào GDP, được dự báo sẽ tăng mạnh trong quý cuối cùng của năm nhờ yếu tố tâm lý thị trường được cải thiện. Tuy nhiên, đầu tư của lĩnh vực tư nhân có khả năng sẽ không mấy khởi sắc trước những lo ngại về nhu cầu trong trung hạn. Dòng vốn FDI đăng ký mới vào Việt Nam sẽ suy giảm trong năm nay, nhưng vẫn ở mức cao, đạt 13 tỷ USD. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì chính sách linh hoạt trong ngắn hạn để hỗ trợ tăng trưởng. Việc Ngân hàng Nhà nước liên tục cắt giảm lãi suất từ đầu năm đến nay và nền kinh tế được mở cửa trở lại được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trong ngắn hạn. Trong thời gian tới, Việt Nam tiếp tục tập trung thực hiện hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân vừa phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội trong trạng thái bình thường mới trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; thúc đẩy mạnh mẽ cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ và sức cạnh tranh; phát triển mạnh thị trường trong nước…nhằm đạt mục tiêu tăng GDP khoảng 6% so với năm 2020; quy mô GDP bình quân khoảng 3.700 USD/người, tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4%.

3.2. Khả năng phục hồi của doanh nghiệp nhỏ và vừa sau dịch Covid-19

3.3. Giải pháp chiến lược phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa

a. Đổi mới sản phẩm và dịch vụ

Đại dịch Covid-19 đã làm thay đổi sâu sắc nhu cầu và thói quen mua hàng của khách hàng theo hướng ưa chuộng hàng nội địa, chuyển từ tương tác trực tiếp, truyền thống sang tương tác trực tuyến nhiều hơn, kỳ vọng của khách hàng chuyển từ cá nhân hóa sang các dịch vụ trực tuyến theo nhu cầu. Khách hàng cũng sẵn sàng chia sẻ thông tin cá nhân nhưng đòi hỏi mức độ bảo mật cao hơn. Trước những biến đổi về nhu cầu và thói quen mua hàng của khách hàng, DNNVV cần đảm bảo chất lượng sản phẩm, dịch vụ, đáp ứng yêu cầu khách hàng, đồng thời tăng năng suất lao động, hiệu quả hoạt động của DN. Để nâng cao chất lượng sản phẩm và năng suất lao động, DNNVV cần tăng cường đầu tư, đổi mới công nghệ, áp dụng đổi mới sáng tạo trong thiết kế sản phẩm, quy trình sản xuất, quản lý quá trình, trong đó, việc coi trọng đầu tư cho khoa học công nghệ là điểm mấu chốt giúp DN vượt qua khó khăn trong bối cảnh Covid-19 và tận dụng được cơ hội để phát triển.

b. Tái cấu trúc doanh nghiệp

Với các DN yếu thế như DNNVV, cần đảm bảo tính chuyên nghiệp và linh hoạt để có thể nhanh chóng thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Với sự tác động đến mọi khía cạnh của đại dịch Covid-19, các DNNVV cần phải thực hiện một cuộc tái cấu trúc, từ chiến lược, tài chính, nhân sự, hệ thống quản lý đến văn hóa DN… để chủ động và nhanh chóng có những giải pháp ứng phó với sự biến động của môi trường kinh doanh. Để thực hiện tái cấu trúc, DNNVV cần thực hiện: (1) tái thiết lập lực lượng bán hàng và khả năng tương tác với khách hàng; (2) đẩy mạnh tích hợp giữa các mô hình kinh doanh mới và hiện tại (ví dụ: truyền thống so với thương mại điện tử, sản phẩm so với dịch vụ, trực tiếp so với kỹ thuật số); (3) chuyển đổi chi phí marketing sang các kênh có khả năng nắm bắt nhu cầu khách hàng; (4) cắt giảm những sản phẩm mang lại lợi nhuận thấp, cắt giảm chi phí hàng tồn kho…

c. Thực hiện chuyển đổi số

Trong bối cảnh hậu Covid-19, quá trình hội nhập và kinh tế số đã trở thành một xu thế tất yếu đối với các quốc gia trên giới, các DNNVV cần làm chủ công nghệ, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực của mình thông qua việc thay đổi phương thức kinh doanh truyền thống sang chuyển đổi số, thương mại điện tử. Doanh thu của hoạt động bán hàng trực tuyến trên toàn cầu quý II/2020 đã tăng vọt 71% so với cùng kì năm trước, lượng truy cập của trang thương mại điện cũng tăng 37%. Tỷ lệ chuyển đổi từ khách truy cập thành khách mua hàng tăng tới 35% và mức chi tiêu của người dùng cũng tăng 34%. Tuy nhiên, hiện nay mới có khoảng 30% DNNVV biết đến chuyển đổi số và số hóa, việc áp dụng của các DN mới chỉ ở bước đầu. Các DNNVV vẫn đang loay hoay trong quá trình chuyển đổi từ DN truyền thống sang DN số do đa phần DNNVV vẫn giữ lối tư duy sản xuất cũ, đặc biệt là tư duy về quản lý chất lượng  và quản trị kinh doanh. Ngoài ra, khả năng tiếp cận và xây dựng hệ thống quản lý chất lượng và quản trị kinh doanh tại các DNNVV còn hạn chế do lãnh đạo DN và người lao động chưa thực sự quan tâm đến vấn đề tái cấu trúc….

Chuyển đổi số không chỉ là hoạt động đầu tư và vận hành công nghệ số mà còn là quá trình ứng dụng công nghệ để tạo ra hoặc thay đổi các quy trình quản trị DN, phương thức kinh doanh, văn hóa và trải nghiệm khách hàng đáp ứng nhu cầu của thị trường… Chính vì vậy, để thực hiện chuyển đổi số, các DNNVV không chỉ cần đầu tư đổi mới công nghệ mà cần đầu tư thích đáng cho nguồn nhân lực, bởi vì, nguồn nhân lực của DN là một trong những yếu tố cốt lõi đảm bảo sự thành công của chuyển đổi số. Doanh nghiệp cần đảm bảo và duy trì một tinh thần sáng tạo, có tâm thế sẵn sàng tiếp nhận cái mới của toàn bộ người lao động trong DN.

d. Tăng cường thực hiện cắt giảm chi phí

Kinh doanh trong giai đoạn hậu Covid-19, các DNNVV cần phải thực hiện tốt những quy định về y tế như sử dụng sử dụng khẩu trang, nước sát khuẩn tay và giãn cách xã hội. Việc tuân thủ các quy định này sẽ làm tăng chí phí sản xuất kinh doanh của DN. Để cắt giảm chi phí, tạo điều kiện giảm giá bán nhằm duy trì thị trường, ổn định doanh thu, các DNNVV cần thực hiện các biện pháp cắt giảm chi phí như: (1) thay đổi phương thức của hoạt động thương mại theo hướng ưu tiên thương mại điện tử, hoạt động trực tuyến, thực hiện đẩy mạnh mở rộng sang các thị trường mới ở các tỉnh và thành phố lớn khác, thông qua việc tăng cường kết nối với thị trường thông qua nền tảng thương mại điện tử và các công cụ marketing trực tuyến như Amazon, alibaba, Facebook và Zalo…; (2) tái cấu trúc dây chuyền, khu vực sản xuất, thực hiện đổi mới công nghệ sản xuất và cải tiến quy trình sản xuất theo hướng tăng năng suất lao động, loại bỏ tối đa các thao tác dư thừa gây tốn sức người, nguyên, nhiên liệu; (3) thiết kế cơ cấu tổ chức sản xuất tinh gọn, tối thiểu hoá thời gian chờ việc của công nhân và giảm tối đa xung đột trong giữa các công đoạn sản xuất; (4) thiết kế hệ thống quản trị chuỗi cung ứng đảm bảo thông suốt giữa các công đoạn từ khâu tiếp nhận đơn đặt hàng – xác định tiêu chuẩn nguyên liệu – lựa chọn nhà cung cấp – tiếp nhận lưu kho – xuất kho nguyên vật liệu; (5) xác định lượng vật tư, hàng hóa tồn kho tối ưu theo hướng tối thiểu hoá chi phí tồn trữ, chi phí dự trữ an toàn và chi phí mua hàng, sử dụng các nguồn cung ứng và dịch vụ kho vận đa dạng hơn, thực hiện tốt chức năng dự báo nhu cầu tiêu thụ và nguyên vật liệu để chủ động trong kế hoạch sản xuất giảm thiểu sự thiếu hụt cũng như dư thừa nguyên vật liệu, thành phẩm tồn kho.

e. Ưu tiên đầu tư vào thị trường ngách

4. Kết luận

Hoạch định và thực thi chiến lược kinh doanh là một trong những yêu cầu tất yếu đối với DNNVV hoạt động trong điều kiện môi trường kinh doanh đầy biến động do đại dịch Covid-19. Những giải pháp chiến lược đối với DNNVV trong giai đoạn hậu Covid-19 được xác định là: đổi mới sản phẩm, dịch vụ và cách tiếp cận thị trường đảm bảo phù hợp với biến động về nhu cầu, thói quen mua hàng của khách hàng và đảm bảo cắt giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh; thực hiện tái cấu trúc về tài chính, nhân lực… nhằm đạt được mô hình quản trị chất lượng và quản trị doanh nghiệp phù hợp nhất với sự biến động của môi trường kinh doanh; thực hiện chuyển đổi số; thực hiện cắt giảm chi phí và ưu tiên đầu tư vào thị trường ngách. Để thực hiện được các giải pháp chiến lược trên, đòi hỏi cần có sự hỗ trợ của Nhà nước, của các tổ chức, hiệp hội đặc biệt là tạo nguồn tài chính thuận lợi cho DN tiếp cận được vốn đầu tư, từ đó có thể thực hiện đổi mới công nghệ, thiết lập nền tảng kỹ thuật số, tái đào tạo nguồn nhân lực chất lượng, có thể đáp ứng yêu cầu của sự tái cấu trúc DN…/.

TS. Nguyễn Thị Hồng Loan

Đại học Công nghệ và Quản lý hữu nghị

Bài viết được đăng trên Tạp chí Đồng Hành Việt số chuyên đề  “Giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xử lý vướng mắc pháp sinh trong bối cảnh dịch Covid-19” do Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp 2015-2020 của Bộ Tư pháp (Chương trình 585) hỗ trợ thực hiện. Thông qua các bài viết được trong số chuyên đề mong muốn các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhất là các doanh nghiệp của và vì người khuyết tật cũng như doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật sẽ có thêm một số kiến thức, bài học, kinh nghiệm cùng cacs giải pháp để vượt qua khó khăn, lớn mạnh phát triển góp phần vào hoàn thành mục tiêu kinh tế mà Chính phủ đã đề ra trong bối cảnh bình thường mới do đại dịch hoành hành cũng như tiếp tục đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước…

Chiến Lược Marketing Cho Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ: Làm Gì Để Chiến Thắng?

     Hiểu được điều đó, với kinh nghiệm tư vấn triển khai Marketing Online thành công cho nhiều doanh nghiệp, chúng tôi đã đúc kết những kinh nghiệm thực tiễn, hi vọng nó sẽ hỗ trợ giúp các doanh nhân định hình được hướng đi, chiến lược để phát triển marketing cho công ty đi đến thành công. 

Chiến lược Marketing Online 1: Triển khai đa kênh, yếu tố sống còn cho Marketing

     Do đó khi xây dựng chiến lược Marketing Online các doanh nghiệp cần lên định hướng cho việc xây dựng đa kênh sẽ giúp các kênh liên kết với nhau tạo thành hiệu quả tối đa và tránh phụ thuộc vào một kênh duy nhất.

Chiến lược Marketing Online 2: Định vị, truyền thông thương hiệu mọi lúc, mọi nơi

     Đầu tiên bạn cần “ĐỊNH VỊ” được thương hiệu của bạn sẽ phục vụ cho phân khúc khách hàng nào? Điểm khác biệt của thương hiệu bạn là gì? Làm thế nào để khách hàng nhớ đến bạn thay vì đối thủ?

Chiến lược Marketing Online 3: Xây dựng nội dung Media chuyên nghiệp

     Do đó ngay từ ban đầu phải có chiến lược nội dung cụ thể cho các chiến dịch Marketing, bài viết, hình ảnh, video phải nêu bật được điểm khác biệt, điểm thu hút của sản phẩm, dịch vụ. Cần chuẩn bị nhân sự chuyên nghiệp cho từng mảng để có thể đưa ra các nội dung marketing chất lượng nhất.

     Công ty nội thất nhựa Hải Minh đã triển khai nhiều hoạt động Marketing trong một thời gian dài, chi phí dành cho Marketing tiêu tốn lớn nhưng chưa mang lại hiệu quả mặc dù có cả nhân sự Marketing tại công ty lẫn thuê ngoài Marketing. Sau khi nhận định điểm yếu trong Marketing của Công ty nội thất nhựa Hải Minh là nội dung chưa được các đội Marketing trước đây chăm chút kỹ lưỡng, do chỉ tập trung vào việc kéo khách hàng đến website nhưng khi khách vào web lại không tìm thấy và thiếu thông tin về sản phẩm mình cần. Do đó sau khi bổ sung đầy đủ sản phẩm, đưa hình ảnh hấp dẫn, chân thực về các loại nội thất, mô tả sản phẩm đầy đủ, lượng khách hàng liên hệ và đặt hàng ngay lập tức tăng 60% mà chưa cần tối ưu đối tượng khách hàng trên các kênh Online.

Chiến lược Marketing Online 4: Đánh ngách thay vì đánh trực diện: Tập trung Marketing du kích.

     Với sự phát triển ngày càng lớn mạnh của thị trường Việt Nam, việc cạnh tranh với các doanh nghiệp đã phát triển lâu năm và tiềm lực lớn trở nên vô cùng khó khăn, rủi ro, do đó việc tìm ra ngách riêng của mình là một việc vô cùng quan trọng, sẽ giúp doanh nghiệp tập trung được năng lực, tiềm lực tài chính và Marketing để trở thành người dẫn đầu trong phân khúc của mình.

     Trúc Chỉ Hà Nội là công ty chuyên cung cấp dòng tranh cao cấp Trúc Chỉ, một dòng tranh mới làm từ bột tre và giấy, mỗi bức tranh đều là độc bản và có giá từ vài chục đến vài trăm triệu. Sau khi nhận định nếu trực tiếp bán tranh thì đối tượng khách hàng chỉ là những người yêu tranh, hiểu về nghệ thuật nhưng số lượng người đủ khả năng tài chính mua tranh sẽ rất thấp. Do đó công ty đã kết hợp tranh trúc chỉ với nội thất không gian thờ, tạo nên điểm độc đáo cho không gian thờ mà không đối thủ nào cạnh tranh được, hơn nữa có thể mở rộng tập khách hàng lớn hơn rất nhiều, từ đó đội ngũ Marketing đã tập trung lọc dữ liệu các khách hàng quan tâm đến thiết kế không gian thờ phụng và triển khai các kênh tiếp cận chính xác đến nhóm đối tượng này trên: Google tìm kiếm (Với các từ khóa về thiết kế không gian thờ), Facebook (với những hình ảnh rất đẹp về không gian thờ kết hợp tranh trúc chỉ), Google banner, youtube… Giúp doanh nghiệp tăng trưởng 200% mỗi năm.  

Chiến lược Marketing Online 5: Không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm/dịch vụ

     Với kinh nghiệm triển khai Marketing lâu năm cho các doanh nghiệp, chúng tôi đúc rút ra một điểm chung của các doanh nghiệp thành công bền vững chính là chất lượng sản phẩm, dịch vụ tốt, không ngừng hoàn thiện và nâng cao. Dù bạn Marketing giỏi đến đâu, ngân sách lớn ra sao nhưng chất lượng sản phẩm, dịch vụ kém thì sẽ khiến chi phí Marketing ngày càng lớn do khách hàng cũ không quay lại và phải liên tục tìm kiếm khách hàng mới, khách hàng đã dùng rỉ tai nhau về chất lượng sản phẩm, sẽ khiến doanh nghiệp ngày càng đi xuống. Ngược lại với những doanh nghiệp đầu tư nâng cao chất lượng liên tục, đáp ứng nhu cầu khách hàng tốt thì sẽ ngày càng khẳng định thương hiệu, doanh số tăng trưởng bền vững, hiệu quả marketing ngày càng được nâng cao. 

“Bài Toán” Chiến Lược Phát Triển Giáo Dục Nghề Nghiệp Giai Đoạn 2022

Ngày 24/7, tại Quảng Ninh, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) đã tổ chức Hội thảo quan điểm, mục tiêu, chiến lược và phát triển GDNN giai đoạn 2021-2030.

Phát biểu khai mạc hội thảo, TS. Trương Anh Dũng, Tổng cục trưởng Tổng cục GDNN nhấn mạnh, chiến lược phát triển GDNN được coi là “sợi dây” xuyên suốt, làm cơ sở, làm định hướng để thúc đẩy sự phát triển hệ thống GDNN trong thời gian 10 năm tới.

Chính phủ và Bộ LĐ-TB&XH đã giao Tổng cục GDNN tổ chức xây dựng Chiến lược phát triển GDNN giai đoạn 2021-2030. Đến nay, đã có một số công việc được triển khai, và đã định hình được những nét cơ bản của chiến lược.

Tiến sĩ Trương Anh Dũng – Tổng cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp phát biểu tại hội thảo.

Tại hội thảo, các chuyên gia nhóm nghiên cứu xây dựng chiến lược đã trình bày những chuyên đề mang tính nghiên cứu định hướng phục vụ công tác xây dựng chiến lược: Tiếp cận xây dựng chiến lược phát triển GDNN, kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam; quan điểm, mục tiêu và các đột phá chiến lược phát triển GDNN giai đoạn 2021-2030; các xu hướng dịch chuyển trong thị trường lao động và nhu cầu lao động kỹ năng ở Việt Nam.

Kết hợp tổng thể các nguồn lực để phục vụ chiến lược

Theo các chuyên gia, trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, Chiến lược phát triển GDNN được cho là việc xác định định hướng phát triển GDNN của quốc gia trong một giai đoạn nhất định, trên cơ sở kết hợp tổng thể các nguồn lực và đề ra các giải pháp các bước đi để thực hiện mục tiêu trong bối cảnh hội nhập.

Việc xây dựng chiến lược được đặt ra trước các yêu cầu về tăng trưởng kinh tế cao và bền vững với khát vọng đưa Việt Nam trở thành một nền kinh tế công nghiệp hóa, hiện hóa và có thu nhập trung bình cao vào năm 2035 hoặc thu nhập cao vào năm 2045, yêu cầu từ hiện đại hóa nền kinh tế với nền công nghiệp hiện đại chiếm tỷ trọng cao và giữ vai trò chủ đạo trong tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, trong đó tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ chiếm trên 90% GDP, trên 70% lao động của nền kinh tế làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ; các yêu cầu khác từ sự biến đổi cơ cấu dân số, tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế. Để đáp ứng các yêu cầu đó cần lực lượng lao động có kỹ năng tay nghề cao, có đủ năng lực tiếp thu công nghệ hiện đại tiên tiến trên thế giới.

PGS.TS Dương Đức Lân, Chủ tịch Hiệp hội GDNN và Nghề công tác xã hội Việt Nam cho rằng công tác xây dựng chiến lược có nhiều thuận lợi bởi hệ thống pháp lý hiện nay như Luật GDNN, Luật Giáo dục sửa đổi, Bộ Luật Lao động sửa đổi. Các giải pháp đưa ra cho chiến lược phải có tính đột phá, huy động tốt các nguồn lực để thúc đẩy phát triển, thay đổi về chất đối với GDNN.

PGS.TS Dương Đức Lân, Chủ tịch Hiệp hội giáo dục nghề nghiệp và Nghề công tác xã hội Việt Nam phát biểu tại hội thảo.

Một số nội dung được đề cập để xây dựng chiến lược như đào tạo hệ 9+, hệ trung học chuyên nghiệp, đào tạo cập nhật kỹ năng cho lao động, mô hình hội đồng kỹ năng nghề, đào tạo nghề gắn với doanh nghiệp, tập nghề, trung tâm thực hành vùng, phân bổ nguồn lực theo đầu ra là những nội dung mới và cần nghiên cứu để đưa vào chiến lược.

TS. Nguyễn Hồng Minh, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục GDNN nhận định công tác xây dựng chiến lược gặp khó khăn do chưa có chiến lược phát triển kinh tế xã hội, chiến lược phát triển nhân lực thời kỳ mới.

Ông Minh đề nghị có đánh giá cụ thể đối với gần 500 trường thuộc khối chuyên nghiệp, định hướng rõ ràng về vị trí vai trò của các trường trung cấp, hệ đào tạo trung cấp trong hệ thống, nghiên cứu mô hình đã triển khai tốt trước đây như mô hình trung học kỹ thuật, quan tâm phát triển đội ngũ nhà giáo, đào tạo gắn doanh nghiệp, huy động các nguồn lực xã hội hóa cho GDNN. Chiến lược phải thể hiện tính tổng thể, quan điểm, giải pháp của chiến lược đảm bảo tính tập trung, có ưu tiên.

TS Nguyễn Hồng Minh, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp phát biểu tại hội thảo.

Cơ hội để đổi mới toàn hệ thống giáo dục nghề nghiệp

PGS.TS Trần Đình Thiên, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng cho rằng chiến lược luôn có sứ mệnh lịch sử đặc biệt, cần định hình rõ ràng. Đây là cơ hội để đổi mới toàn hệ thống GDNN. Cơ cấu nguồn nhân lực GDNN phải là một bộ phận của cơ cấu nhân lực quốc gia, chiến lược phát triển nhân lực quốc gia.

PGS.TS Trần Đình Thiên, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng phát biểu.

PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh cần có đánh giá đầy đủ, sâu sắc về nguyên nhân, hạn chế của thực hiện chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn trước đó, đánh giá một cách đầy đủ thực trạng nguồn lực hiện có.

Nhân lực Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế, chỉ đáp ứng ở mức thấp các yêu cầu của công nghiệp. Đứng trước yêu cầu thay đổi cơ cấu công nghiệp, sự tác động của kinh tế số dẫn đến thay đổi cơ cầu ngành nghề, 10 năm tới cơ cấu nghề nghiệp Việt Nam sẽ ra sao, kỹ năng của người lao động thay đổi như thế nào điều này cần định hình rõ.

Bên cạnh đó, TS. Jurgen Harwigt, Giám đốc chương trình Đổi mới đào tạo nghề Việt Nam cho rằng trong 10 năm qua, Việt Nam gặt hái được nhiều thành tựu trong phát triển hệ thống GDNN.

Hiện nay, Việt Nam có hệ thống GDNN với sự thống nhất trong quản lý Nhà nước, nhìn nhận của xã hội về GDNN đã có sự thay đổi tích cực, tuyển sinh GDNN đã tăng lên. GDNN cần có sự đổi mới trước nhiều thách thức của sự già hóa dân số, tác động của dịch bệnh toàn cầu, cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và hội nhập quốc tế.

TS. Jurgen Harwigt đề nghị giai đoạn tới, GDNN cần tập trung cải thiện hệ thống thông tin dữ liệu, báo cáo, dự báo đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống; xây dựng các tiêu chuẩn ở nhiều cấp trình độ khác nhau, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý. Ưu tiên phát triển mô hình hội đồng kỹ năng nghề ở nhiều ngành nghề khác nhau, đào tạo trong nội bộ doanh nghiệp và đưa GDNN tiếp cận tốt hơn đối với người dân và xã hội.

TS. Nguyễn Văn Lân, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhấn mạnh sự cần thiết về phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở GDNN, cần có một trung tâm tích hợp vùng thực hiện nhiều chức năng đào tạo bồi dưỡng, chiến lược cần làm rõ cơ chế đặt hàng trong đào tạo để giảm bớt đầu tư từ nguồn kinh phí nhà nước.

Lệ Thu

Phát Triển Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Ở Việt Nam Hiện Nay

Tóm tắt: Trong những năm gần đây, môi trường kinh doanh của Việt Nam đã có những thay đổi hết sức căn bản tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) phát triển. Đến nay, DNNVV chiếm 96,7% tổng số doanh nghiệp cả nước. Sự lớn mạnh cả về số lượng, quy mô hoạt động và cả về nội lực của khu vực DNNVV có tác động to lớn, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.

1. Mở đầu

Trong hơn 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn kiên định và nhất quán đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng, Chính phủ đã có nhiều chính sách phát triển đồng bộ các thành phần kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế hoạt động bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển. Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. 

Để phát triển kinh tế tư nhân trong tình hình mới, Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua gần 2 năm thực hiện Nghị quyết, kinh tế tư nhân đã có sự phát triển nhanh chóng và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, nhất là góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thương mại đầu tư, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện an sinh xã hội.

DNNVV là bộ phận quan trọng trong thành phần kinh tế tư nhân và chiếm tỷ lệ lớn trong cộng đồng doanh nghiệp (DN) Việt Nam. Hiện nay, cả nước có khoảng 541.753 DNNVV đang hoạt động trong nền kinh tế, với tổng số vốn đăng ký khoảng 130 tỷ USD, chiếm khoảng 1/3 tổng số vốn đăng ký của các DN [3, tr.26]. Hàng năm, các DNNVV đóng góp khoảng 40% GDP, nộp ngân sách nhà nước 30%, đóng góp giá trị sản lượng công nghiệp 33%, giá trị hàng hóa xuất khẩu 30% và thu hút gần 60% lao động… Mặc dù số lượng DNNVV đông đảo, song quy mô DN nhỏ và siêu nhỏ chiếm tỷ lệ rất lớn, số DN quy mô vừa chỉ chiếm 1,6% tổng số DNNVV. Chính bởi quy mô nhỏ, nên hoạt động của khu vực DN này đang gặp khá nhiều khó khăn, như là khả năng tiếp cận các nguồn vốn để đầu tư vào máy móc, công nghệ hiện đại, phục vụ cho sản xuất, kinh doanh; thiếu kinh nghiệm quản trị điều hành DN; khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường ngay trên thị trường nội địa… Trong thời gian tới, rất cần có những giải pháp hữu hiệu để khu vực DN này, tuy rất năng động, nhưng cũng dễ tổn thương có sự phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh mới. Bài viết phân tích sự đổi mới cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm hỗ trợ phát triển DNNVV; đánh giá làm rõ những thành tựu và hạn chế của khu vực DNNVV hiện nay. Trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp cơ bản phát triển DNNVV ở Việt Nam.

2. Đổi mới cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trong những năm gần đây, Chính phủ đã không ngừng triển khai thực hiện các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, hoàn thiện khung pháp lý nhằm đổi mới, tạo động lực cho DN phát triển. Trong năm 2014, Chính phủ trình và Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư và Luật DN (sửa đổi); Luật Chuyển giao công nghệ và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng (năm 2017); Luật Cạnh tranh (năm 2018)… Việc triển khai một số luật quan trọng này nhằm tạo sự thay đổi tích cực môi trường đầu tư kinh doanh. Cùng với đó, Luật Đất đai, Luật Thương mại, Luật Phá sản, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Thuế thu nhập DN và hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, tác động tích cực tới cộng đồng DN.

Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành và chỉ đạo thực hiện việc đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, ban hành Quyết định số 225/QĐ-TTg ngày 4 tháng 2 năm 2016 phê duyệt kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016-2020. Điều đó đã tạo sự chuyển biến, nâng cao chất lượng phục vụ của Chính phủ, chính quyền các cấp đối với người dân và DN, xóa bỏ mọi rào cản, đảm bảo quyền tự do bình đẳng kinh doanh của cá nhân và DN.

Nhằm tăng cường các chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV và phong trào khởi nghiệp, Chính phủ ban hành các Nghị định số 34/NĐ-CP ngày 8 tháng 3 năm 2018 về thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV; Nghị định số 38/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2018 quy định chi tiết về đầu tư cho DNNVV khởi nghiệp sáng tạo. Cùng với đó là cụ thể hóa các quy định, chính sách về hỗ trợ DNNVV, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo theo quy định tại Luật Hỗ trợ DNNVV [1, tr.8]. Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo ngày càng được hoàn thiện. Cụ thể là, Chính phủ đẩy mạnh vận hành, khai thác và phát triển Cổng thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia; xây dựng cơ sở dữ liệu về hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Việt Nam với quốc tế. Đồng thời, hỗ trợ DN áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, các hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng. Khuyến khích hoạt động liên kết ngành, tham gia chuỗi giá trị của các DN trong nước với chính sách thu hút đầu tư nước ngoài.

Chính phủ triển khai việc rà soát và hoàn thiện các quy định pháp luật về hải quan để tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, bao gồm việc sửa đổi các quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, kiểm soát hải quan. Trong năm 2018, đa số bộ, ngành đã xây dựng các nghị định về điều kiện kinh doanh, trong đó một số điều kiện kinh doanh không cần thiết, không hợp lý, thiếu rõ ràng đã được cắt bỏ. Đồng thời, chú trọng tới việc cắt giảm chi phí khởi sự kinh doanh và gia nhập thị trường của DNNVV2. Để hỗ trợ các DNNVV khai thác được các cơ hội trong hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là triển khai các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, Chính phủ đã thực hiện nhiều giải pháp cụ thể3 góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu, tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị, mạng lưới sản xuất toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh, tiếp cận vốn đầu tư, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý hiện đại.

3. Những thành tựu và hạn chế phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 

3.1. Thành tựu phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trong những năm vừa qua, nhờ có việc ban hành hàng loạt cơ chế, chính sách và triển khai nhiều giải pháp tích cực, môi trường kinh doanh của Việt Nam đã có sự chuyển biến tích cực; khơi dậy tinh thần doanh nhân và sự đăng ký quay trở lại hoạt động mạnh mẽ của các DNNVV. Số lượng DN thành lập mới và số lượng DN tạm ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động tăng lên. Từ năm 2016, mỗi năm có thêm hơn 100 nghìn DN thành lập mới. Trong hai năm 2017-2018, cả nước có 258.134 DN đăng ký thành lập mới và 60.458 DN tạm ngừng hoạt động quay trở lại nhờ môi trường kinh doanh được cải thiện và các chính sách của Nhà nước hỗ trợ, phát triển DN [1, tr.22-23]. Sự gia tăng trở lại này trùng với thời điểm Luật DN 2014 và Luật Đầu tư 2014 chính thức có hiệu lực từ tháng 7/2015. Thực tế, các luật này tạo cơ chế thông thoáng, tác động trực tiếp, thuận lợi cho DN trong quá trình kinh doanh, khi DN có quyền tự quyết về số lượng, hình thức, nội dung của con dấu; được tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm; đồng thời, thời gian đăng ký thành lập DN đã được rút ngắn còn 03 ngày. Tính chung trong 9 tháng năm 2018, cả nước có 96.611 DN thành lập mới với số vốn đăng ký là 963.411 tỷ đồng, tăng 2,8% về số DN và tăng 6,7% về số vốn đăng ký. Riêng trong quý III/2018, cả nước có 32.080 DN thành lập mới, giảm 15% so với quý II/2018 và giảm 1,9% so với cùng kỳ năm 2017. Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một DN đạt 10,0 tỷ đồng, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2017. Số lao động đăng ký của các DN thành lập mới là 819.742 lao động, giảm 7,5% so với cùng kỳ năm 2017. Số DN quay trở lại hoạt động là 22.897 DN, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2017. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế là 2.845.331 tỷ đồng, tăng 32,7% so với cùng kỳ năm 2017, bao gồm: 936.411 tỷ đồng của DN đăng ký thành lập mới (tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2017) và 1.881.920 tỷ đồng (tăng 51,6%) thông qua 32.144 lượt đăng ký tăng vốn của các DN đang hoạt động (tăng 16,6%) [7].

Trong một vài năm gần đây, xu hướng phát triển các mô hình kinh doanh khởi nghiệp sáng tạo (startup) diễn ra sôi động, tập trung vào một số lĩnh vực như: xây dựng, chế biến, chế tạo, công nghiệp ô tô, vận tải hàng không, tài chính, ngân hàng. Hiện nay, có hơn 3.000 công ty khởi nghiệp sáng tạo đang hoạt động, trong đó có nhiều DNNVV thành công [1, tr.23].

Cùng với sự bùng nổ về số lượng, DNNVV đã góp phần quan trọng trong chuyển dịch về cơ cấu ngành nghề thông qua tạo việc làm, thu hút lao động từ lĩnh vực nông nghiệp, tham gia đầu tư vào các thị trường ngách, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh. Bình quân mỗi năm (giai đoạn 2016-2017), khối DNNVV thu hút nhiều lao động nhất với 8,69 triệu lao động (chiếm 60,9% tổng lao động toàn bộ khu vực DN trong nền kinh tế) [3, tr.31]. Trong hai năm 2017-2018, số DNNVV thành lập mới cũng đã tạo gần 2,3 triệu việc làm mới.

Khu vực DNNVV đã thể hiện vai trò và những đóng góp quan trọng thúc đẩy sự chuyển mình và cất cánh của nền kinh tế. Trong giai đoạn 2015-2017, khu vực kinh tế tư nhân (trong đó DNNVV là bộ phận quan trọng) đóng góp khoảng 50% GDP, trên 30% thu ngân sách nhà nước, 45% vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội. Năm 2018, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 42,1% GDP của nền kinh tế và có dấu hiệu tăng lên [1, tr.24]. Thu ngân sách nhà nước từ các DN tư nhân liên tục tăng lên trên 16%. Thu ngân sách nhà nước từ sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân vượt khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và khu vực DN nhà nước. Những tín hiệu này phản ánh sự lớn mạnh về quy mô, số lượng chủ thể và sự cải thiện về hiệu quả của kinh tế tư nhân [1, tr.24]. Tốc độ tăng năng suất lao động (NSLĐ) của khu vực này tương đối ổn định. Mặc dù những năm gần đây, tốc độ tăng NSLĐ của cả nước liên tục có những biến động thì tốc độ tăng NSLĐ của khu vực kinh tế tư nhân, trong đó chủ yếu là DNNVV vẫn ổn định hơn so với các khu vực kinh tế nhà nước và khu vực FDI, xung quanh mức 4,8%-5,8% [7]. Tính chung trong 2 năm 2016-2017, các DNNVV tạo ra doanh thu chiếm tỷ lệ chi phối trong toàn bộ khu vực DN, bình quân mỗi năm các DNNVV tạo ra 10,8 triệu tỷ đồng, chiếm 56,4% doanh thu toàn bộ khu vực DN, tăng 64,4% so với bình quân giai đoạn 2011-2015 [3, tr.36].

3.2. Những hạn chế, yếu kém của các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Mặc dù các năm gần đây, số lượng DNNVV thành lập mới nhiều, nhưng cũng có một bộ phận không nhỏ DN không có khả năng tồn tại, đứng vững trong cạnh tranh hoặc hoạt động kém hiệu quả. Hiện nay, các  DNNVV vẫn rất khó tiếp cận các nguồn lực của xã hội để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh như: việc tuyển dụng lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao, về tiếp cận đất đai, về vốn tín dụng từ các ngân hàng, nguồn vốn từ các quỹ, về ứng dụng khoa học và công nghệ. Theo Báo cáo đánh giá môi trường kinh doanh năm 2018 của Ngân hàng Thế giới, chỉ số tiếp cận tín dụng của Việt Nam năm 2018 được xếp hạng 29/190 nền kinh tế. Trong 6 tháng đầu năm 2018, dư nợ tín dụng đối với DNNVV chiếm khoảng 21% dư nợ toàn nền kinh tế. Đến nay vẫn có khoảng 60% DNNVV chưa tiếp cận được nguồn vốn tín dụng của ngân hàng [7]. Việc tiếp cận đất đai còn nhiều khó khăn chưa đáp ứng được yêu cầu (thủ tục xin cấp đất rất chậm và chi phí quá cao làm mất đi cơ hội kinh doanh của DN). Các DNNVV thiếu thông tin thị trường cũng như cổng đối thoại với các bộ, ngành để tìm kiếm sự hỗ trợ và sự bảo vệ, đặc biệt là các thông tin về giá cả hàng hóa, thủ tục mua bán, xuất nhập khẩu hàng hóa cũng như quy trình sản xuất và chất lượng yêu cầu [1, tr.38].

Điểm nổi bật hiện nay là, sự liên kết của các DNNVV Việt Nam yếu kém, có rất ít mối liên kết giữa các DN nhỏ và DN có quy mô lớn hơn. Theo báo cáo triển vọng phát triển Châu Á của Ngân hàng Phát triển Châu Á, hiện nay mới chỉ có 21% các DNNVV của Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu so với 30% của Thái Lan và 46% của Malaysia [7].

Sự hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế tư nhân ở Việt Nam chủ yếu là sau một giai đoạn tích lũy ngắn, dựa vào vốn tự có và ít được Nhà nước hỗ trợ. Quá trình phát triển theo mô hình tập đoàn của nhóm các tập đoàn kinh tế tư nhân hiện gặp phải một số khó khăn về quản trị, mô hình, do phần lớn phát triển từ quy mô DN gia đình. Các liên kết trong mô hình tập đoàn còn khá đơn giản, chưa triển khai được các hình thức liên kết “mềm” khác thông qua thỏa thuận, hợp tác sử dụng thương hiệu, dịch vụ, kết quả nghiên cứu đổi mới, ứng dụng khoa học, công nghệ chung trong tập đoàn theo nguyên tắc thị trường. Lĩnh vực hoạt động của các tập đoàn kinh tế và DN thuộc khu vực tư nhân mới chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực như dịch vụ, bất động sản… Vì vậy, còn thiếu vắng một lực lượng DN “đầu tàu” đủ mạnh để có thể dẫn dắt “đoàn tàu” DN Việt Nam tham gia chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.

Do phần lớn DN Việt Nam hiện có quy mô nhỏ nên rất khó tăng NSLĐ nhờ chuyên môn hóa hay tận dụng lợi thế quy mô được. Mặt khác, vì quy mô nhỏ nên khả năng tích tụ và tập trung vốn để đầu tư, đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất hầu như không có. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của DNNVV, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay [7].

4. Giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh mới

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách, hệ thống pháp luật về kinh doanh minh bạch, công bằng, lành mạnh nhằm mục đích tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh cho DN, tạo thuận lợi tối đa cho các DN khi tham gia vào thị trường trong nước và ngoài nước. Ban hành hệ thống chính sách đồng bộ, ổn định lâu dài đối với hoạt động của khu vực DNNVV. Phát triển đa dạng các thị trường tài chính và thị trường chứng khoán để hỗ trợ cho DN huy động vốn trên thị trường chứng khoán, vay vốn trên thị trường trái phiếu DN. Đồng thời, hỗ trợ DNNVV bằng cách giải đáp các vấn đề vướng mắc về luật pháp, đăng ký kinh doanh; cũng có thể mở thêm hoạt động tư vấn kinh doanh cho DN hoặc thành lập riêng một cơ quan chuyên trách giúp cho sự phát triển của DNNVV tại Việt Nam.

Thứ hai, tiếp tục thực hiện các cơ chế chính sách của Chính phủ trong việc cải cách các mức thuế quan, cắt giảm các thủ tục đăng ký DN cùng với các “chi phí không chính thức”. Các bộ, ngành cần giảm bớt các cuộc thanh, kiểm tra không cần thiết với DNNVV, nhất là phải quyết liệt trong công tác xóa bỏ tệ nạn tham nhũng, nhũng nhiễu DN. Có cơ chế cắt giảm thuế thu nhập DN để hỗ trợ DNNVV giải quyết bài toán tạo việc làm cho xã hội, với quy định cụ thể về sử dụng phần ưu đãi thuế thu nhập DN đó để tái đầu tư, tạo công ăn việc làm mới. Hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV được tiếp cận các nguồn lực (đất đai, tài chính, lao động, khoa học công nghệ…). Xây dựng và phát triển hạ tầng thông tin dữ liệu về DN hoạt động cùng ngành hàng về thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ… 

Thứ ba, phát huy vai trò của xã hội, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp thúc đẩy sự phát triển của DNNVV, nâng cao ý thức của cộng đồng xã hội đối với sự phát triển của DNNVV tại Việt Nam. Theo đó, cần nâng cao vai trò, năng lực của các Hiệp hội nhằm hỗ trợ DNNVV và tăng cường chức năng tham vấn và phản biện xã hội. Mặt khác, tăng cường tiếp nhận các phản hồi, ý kiến, nhu cầu từ người tiêu dùng sử dụng sản phẩm của DNNVV để tự hoàn thiện DN trong hoạt động kinh doanh, cung cấp hàng hóa, dịch vụ đến khách hàng bằng các giải pháp như: nâng cao trách nhiệm xã hội, trách nhiệm kinh doanh của DN đối với người tiêu dùng; cân bằng lợi ích của thương nhân và người tiêu dùng.

Thứ tư, bản thân mỗi DNNVV phải nêu cao ý thức vươn lên, phát huy lợi thế, nâng cao sức cạnh tranh của mình. DNNVV Việt Nam có nhiều lợi thế về kinh doanh, phạm vi thị trường, khách hàng để tham gia vào hoạt động thương mại trong nước, khu vực và quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) thì việc tận dụng những lợi thế vốn có của DNNVV sẽ thúc đẩy sự phát triển lớn mạnh về kinh tế đất nước trong khu vực Đông Nam Á.

Việc nắm bắt nhu cầu, tâm lý của khách hàng hoặc nhóm khách hàng phù hợp với loại hình, ngành nghề kinh doanh của mỗi DN cũng là một giải pháp mà các DNNVV có thể thực hiện được và tạo ra những kết quả khả quan. Bên cạnh đó, DN cần có chiến lược phát triển thông qua các kế hoạch, chiến lược, tầm nhìn, sứ mệnh hoạt động cụ thể. Một giải pháp cũng được áp dụng đối với DNNVV, đó là xây dựng tầm nhìn trong sự phát triển của DN mình bằng việc xác định rõ các vấn đề về kinh tế, khách hàng, sự cạnh tranh, định hướng tương lai, triển vọng của DN, tính chuyên môn hóa cao trong tiếp xúc với khách hàng, uy tín, thương hiệu và giá trị cốt lõi mà mỗi DN cung cấp cho thị trường, xã hội…

Để hạn chế tối đa các thất bại như buộc phải giải thể, tự giải thế, tình trạng kinh doanh bị trì trệ, tạm ngưng hoạt động, các DNNVV cần phải xác định được phạm vi và đối tượng mà mình hướng tới. Nói cách khác, trên cơ sở quy mô, tiềm lực, loại hình hoạt động, các DNNVV cần có chiến lược phù hợp trong việc lựa chọn thị trường, phân khúc thị trường để khai thác, kinh doanh. Chọn lựa phân khúc thị trường phù hợp là một giải pháp và đồng thời cũng là sự chuẩn bị kỹ lưỡng, an toàn cho sự phát triển ổn định của mỗi DN. Mặt khác, mỗi DN cần khai thác hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ, thúc đẩy cho sự phát triển như: các giải pháp hỗ trợ từ nhà đầu tư trong và ngoài nước; các chính sách, kế hoạch hỗ trợ của Nhà nước về nguồn vốn, tài chính, công nghệ, quản trị, kinh doanh… Đồng thời, sự liên minh, liên kết của nhóm DN kinh doanh, hoạt động cùng ngành nghề dưới các hình thức như hợp tác kinh doanh, liên doanh, liên danh… cũng là một giải pháp phù hợp nhằm phát huy vai trò, thế mạnh của mình.

Thứ năm, trong bối cảnh mở cửa và hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam đã ký kết hàng loạt các FTA thế hệ mới, để nâng cao năng lực cạnh tranh, DNNVV cần biết tận dụng tối đa những tiềm lực về vốn, nhân lực, thị trường, văn hóa, kinh nghiệm kinh doanh của các DN… Đây chính là sự tự thân vận động quan trọng của mỗi DNNVV trong kế hoạch thực hiện các chiến lược, mục tiêu kinh doanh của mình cùng với các đối thủ nặng ký trên thị trường. Hiểu về đối thủ và cân bằng hài hòa được các lợi ích với đối thủ trong kinh doanh sẽ tạo những cơ hội phát triển ổn định cho các DNNVV. Điều đó đồng nghĩa rằng, các DNNVV cần biết cách giữ mối quan hệ tốt đẹp với các DN lớn trong bối cảnh thị trường cạnh tranh khốc liệt. Đặc biệt, các DNNVV cần minh bạch hoạt động và báo cáo tài chính, nâng cao chất lượng quản trị DN, quản lý rủi ro.

5. Kết luận

 

Chú thích

1  Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

2  Theo báo cáo của các bộ, ngành, hầu hết cắt giảm điều kiện kinh doanh đạt trên 50%, trong đó đã cắt giảm, đơn giản hóa 61% điều kiện kinh doanh và 60% thủ tục kiểm tra chuyên ngành hàng hóa xuất, nhập khẩu, đạt mục tiêu Nghị quyết số 19/NQ-CP đề ra [3, tr.20]. Từ tháng 1/2018, lệ phí đăng ký DN đã giảm 50% so với quy định trước đây (từ 200.000 đồng còn 100.000 đồng) và miễn 100% nếu DN đăng ký qua mạng điện tử) [7].

3 Cập nhật, hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế để phục vụ các hoạt động đầu tư, kinh doanh của các DN; xây dựng và kết nối hệ thống Cơ chế một cửa quốc gia; tích cực, chủ động đàm phán các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương với các đối tác nước ngoài; tham gia đàm phán nội dung đầu tư trong các FTA, như: Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu (EVFTA) đã ký kết, thông qua Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)… [1, tr.14].

Tài liệu tham khảo

[1]     Ban Kinh tế Trung ương (2019), Báo cáo 2 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Hà Nội, tháng 4.

[2]     Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Phát triển doanh nghiệp (2017), Sách trắng Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Hà Nội.

[3]     Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam năm 2019, Nxb Thống kê, Hà Nội.  

[4]     Nguyễn Trường Sơn (2014), Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[5]     Ninh Thị Minh Tâm, Lê Ngự Bình (2017), Hiệu quả kinh doanh của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[6]     Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2018), Đổi mới phương thức hỗ trợ tín dụng cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Kinh nghiệm quốc tế và một số kiến nghị cho Việt Nam, Hà Nội.

[7]     https://baomoi.com/phat-trien-doanh-nghiep-nho-va-vua-trong-boi-canh- moi/c/29562534.epi

[8]     http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/tai-chinh-doanh-nghiep/doanh-nghiep-nho-va-vua-chiem-981-144150.html

[9]     http://doanhnghiephoinhap.vn/thach-thuc-cua-doanh-nghiep-nho-va-vua-trong-nam-2019.html

Bạn đang đọc nội dung bài viết Chiến Lược Phát Triển Của Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Trong Giai Đoạn Hậu Covid trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!