Đề Xuất 2/2023 # Cần Giải Pháp Dài Hạn Để Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững # Top 4 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Cần Giải Pháp Dài Hạn Để Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cần Giải Pháp Dài Hạn Để Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phát triển nông nghiệp bền vững nhiều năm qua được xem như xu thế tất yếu, và Việt Nam được xác định là quốc gia có nhiều lợi thế.

Tuy nhiên, từ lợi thế đến thực tiễn còn đòi hỏi phải cấp thiết cải thiện môi trường và chính sách để khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực này.

Trong giai đoạn 2011 – 2017, tăng trưởng bình quân của ngành nông nghiệp đạt 4,5 – 5%/năm, trong đó giá trị của ngành chăn nuôi chiếm 30 – 32% tổng giá trị ngành nông nghiệp. Đây là tín hiệu đáng mừng để tiếp thêm động lực cho người chăn nuôi, tuy nhiên, thực tế trong suốt năm qua giá heo hơi trên thị trường luôn trồi sụt thất thường khiến nhiều người chăn nuôi thua lỗ.

Sau khi Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vào cuộc, sự thua lỗ đã giảm đáng kể (hơn 3.000 tỷ đồng mỗi tháng). Song, theo tính toán của Hội Chăn nuôi, sự khủng hoảng về cung – cầu thịt heo vừa qua đã làm người chăn nuôi mất đi phần lãi khoảng 100 nghìn tỷ đồng trên tổng số tiền đầu tư mà lẽ ra họ được hưởng.

Không chỉ ngành chăn nuôi heo, hầu hết các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam hằng năm đều có thể rơi vào tình trạng biến động thất thường. Những sản phẩm chăn nuôi nói riêng và nông sản Việt Nam nói chung luôn đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt mà chỉ riêng ngành nông nghiệp và nông dân không thể tự giải quyết được. Điều này thể hiện qua việc thị trường năm nào cũng lặp lại tình trạng sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, hoặc tiêu thụ với giá rất thấp, thậm chí dưới giá vốn. Phần thua thiệt chủ yếu vẫn thuộc về người sản xuất.

Vấn đề này thôi thúc và đòi hỏi những chính sách nhằm phát triển nông nghiệp bền vững. Chúng ta có thể kỳ vọng gì khi mới đây Chính phủ đã ban hành Nghị định 57/2018/NĐ-CP (ngày 17/4/2018) về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp (DN) đầu tư vào nông nghiệp – nông thôn, thay thế Nghị định 210/2013/NĐ-CP? Nghị định mới cho thấy hàng loạt bất cập trong chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp – nông thôn đã được thay đổi.

Ví dụ, nghị định này quy định một số cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư bổ sung của Nhà nước và quy định trình tự, thủ tục thực hiện ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cho các DN đầu tư vào nông nghiệp – nông thôn. Điển hình, DN có dự án nông nghiệp được miễn tiền chuyển mục đích sử dụng đất đối với diện tích đất xây dựng nhà ở cho người lao động làm việc tại dự án, miễn tiền sử dụng đất cho phần đất sau khi được chuyển đổi.

Chính sách khuyến khích cũng cho thấy nhiều sự đổi mới hơn: DN đầu tư vào dự án nông nghiệp – nông thôn được ngân sách địa phương hỗ trợ lãi suất vay thương mại. Mức hỗ trợ bằng chênh lệch lãi suất vay thương mại so với lãi suất tín dụng Nhà nước ưu đãi đầu tư, tính trên số dư nợ thực tế tại thời điểm xem xét hồ sơ hỗ trợ. Hạn mức vay vốn được hỗ trợ lãi suất tối đa 70% tổng mức đầu tư dự án, thời gian tối đa 8 năm.

Nghị định 57 đề cập những giải pháp cấp thiết về cải thiện môi trường. Chẳng hạn đối với vùng đất nhiễm mặn phục vụ sản xuất nông nghiệp, đảm bảo sinh kế cho người dân đã đưa ra giải pháp trước hết là quy hoạch công trình thủy lợi phục vụ cho chuyển đổi mục đích sản xuất, đảm bảo có thể lấy đủ nước mặn, nước ngọt cho phát triển nuôi trồng thủy sản trong mùa khô, cung cấp đủ nước ngọt và thoát nước trong mùa mưa lũ.

Đồng thời áp dụng các giải pháp đồng bộ phát triển nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng chống sạt lở như chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi các vùng ven biển, xây dựng các vùng nuôi thâm canh thủy sản nước mặn -lợ.

Rà soát quy hoạch lại hạ tầng thủy lợi ở các vùng đồng bằng phù hợp phát triển nông nghiệp phục vụ tái cơ cấu ngành, chỉnh trang bố trí đồng ruộng, đảm bảo tưới tiêu chủ động, đáp ứng cơ giới hóa sản xuất.

Quy hoạch cho các trạm bơm lớn tưới tiêu có quy mô tiểu vùng từ 300 – 500ha thay cho các trạm nhỏ từ 5 – 100ha, cùng lúc hoàn thiện tổ chức quản lý tưới tiêu, bảo vệ môi trường, áp dụng các phương thức kỹ thuật tiên tiến để tiết kiệm nước, liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản… Điểm rõ nhất ở các quy định mới là đưa ra cơ chế, chính sách về đất đai, khuyến khích dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất, quy hoạch lại đồng ruộng…

Có thể nói, khá nhiều quy định mới sâu sát hơn với thực tiễn sản xuất và những đòi hỏi của thị trường. Tuy nhiên, lâu nay các chính sách ra đời đều cho thấy để có thể đưa vào thực tiễn hữu hiệu là khó khăn rất lớn, đòi hỏi một cơ chế vận hành và áp dụng năng động, sự am hiểu của nhà quản lý lẫn người dân. Nếu không, tình trạng “giải cứu” nông sản, hay khủng hoảng trong nghề chăn nuôi heo như đề cập ở trên vẫn lặp lại mà không thể thiết lập giải pháp khơi thông dài hạn phục vụ cho chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững.

Đình Quý

Giải Pháp Phát Triển Nông Nghiệp Xanh Bền Vững

(TN&MT) – Tại Hội thảo “Phát triển và nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp xanh” diễn ra ngày 26/11, các đại biểu đều có chung nhận định, sản xuất nông nghiệp xanh để phát triển nông nghiệp bền vững là giải pháp hiệu quả trong ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng thu nhập cho người dân… “Quang cảnh Hội thảo “phát triển, nhân rộng mô hình sản xuất nông nghiệp xanh” – Ảnh: Lê Hùng Thách thức từ BĐKH, nước biển dâng…

ĐBSCL là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp ĐBSCL chiếm hơn 50% sản lượng lúa hàng hóa, cung ứng 70% lượng trái cây, 52% sản lượng thủy sản, đặc biệt cung cấp đến 80% lượng tôm xuất khẩu và đóng góp khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp tại ĐBSCL đang gặp rất nhiều rủi ro, bấp bênh và chịu sự tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng…

Nhiều đại biểu cho rằng, phát triển sản xuất nông nghiệp xanh là yêu cầu tất yếu nhằm đảm bảo phát triển kinh tế theo hướng nhanh, hiệu quả, bền vững. Thực tế thời gian qua, các địa phương trong vùng đã tích cực triển khai đồng loạt nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp xanh, sạch, như: mô hình “ruộng lúa bờ hoa”, “ba giảm ba tăng”, mô hình “cánh đồng mẫu lớn”, mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp xanh của Hợp tác xã Vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim (Tiền Giang), Hợp tác xã Bưởi Năm Roi (tỉnh Vĩnh Long), sản xuất rau các loại an toàn theo hường GAP tại xã Tân Đông, Gò Công Đông (Tiền Giang), mô hình mẫu sử dụng khí sinh học trong chăn nuôi heo… đã mang lại hiệu quả thiết thực.

Hậu Giang triển khai trồng hoa ven đường, áp dụng mô hình công nghệ sinh thái, chuẩn bị sản xuất vụ Đông xuân 2013-2014. Ảnh: Hùng Long.

Thế nhưng việc nhân rộng mô hình gặp rất nhiều khó khăn. Sản xuất nông nghiệp tại vùng ĐBSCL hiện vẫn còn dựa nhiều vào việc khai thác các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên mà chưa bền vững về môi trường. Giá bán nông sản sạch không cao hơn mô hình sản xuất truyền thống, khiến nông dân không mặn mà tham gia mô hình.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT – Trần Thanh Nam, cho rằng: “Sản xuất nông nghiệp thường xuyên gặp rủi ro, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và tổ chức sản xuất nhỏ lẻ, liên kết “4 nhà” yếu kém, khâu tiêu thụ còn nhiều khó khăn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nhân rộng mô hình. Một số nông dân tham gia mô hình sản xuất điểm được hỗ trợ chi phí sản xuất, khi mô hình kết thúc, thì họ không quan tâm duy trì mô hình, có khi quay về kiểu sản xuất truyền thống. Nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp cũng là thách thức lớn”.

Theo các đại biểu đại diện các địa phương trong vùng ĐBSCL, việc nhân rộng các mô hình rất cần được sự quan tâm hỗ trợ của các Bộ, ngành trung ương và sự vào cuộc tích cực hơn của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, trước thách thức của biến đổi khí hậu, xu thế toàn cầu hóa, nông sản sẽ chật vật trong cuộc cạnh tranh, do đó yêu cầu bức bách đặt ra cho người nông dân ĐBSCL hiệ nay là phải đổi mới tư duy sản xuất, năng động hội nhập.

“Cách mạng xanh” trong nông nghiệp

Theo Bộ NN& PTNT, đối với ngành nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp xanh sạch là việc áp dụng đồng bộ các quy trình, công nghệ sử dụng hợp lý, tiết kiệm vật tư đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Qua đó, giảm phát thải khí nhà kính thông qua phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao tính cạnh tranh của nông sản, phát triển công nghệ xử lý và tái sử dụng phụ phẩm, phế thải… đảm bảo bền vững cho nền kinh tế, xã hội và môi trường, góp phần vào sự phát triển kinh tế xanh.

“Ngày nay, nông nghiệp xanh không chỉ tạo ra những sản phẩm sạch, mà còn là yếu tố quan trọng cho sự ổn định kinh tế- xã hội. Đây là hướng đi bền vững và ưu việt nhất để ngành nông nghiệp nước ta vừa đảm bảo an ninh lương thực,vừa tăng cường xuất khẩu nông sản ra thế giới. Hiện sản xuất nông nghiệp xanh hay nông nghiệp sinh thái, phòng trừ dịch hại tổng hợp theo hướng GAP… được nhiều tỉnh, thành quan tâm thực hiện. Đây là con đường tạo ra nông sản an toàn, đảm bảo sức khỏe của người tiêu dùng và giảm thiểu tác động xấu của biến đổi khí hậu”- ông Phan Anh Vũ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long khẳng định. Song, phát triển nông nghiệp xanh cần thực hiện rất nhiều giải pháp đồng bộ.

Thu hoạch lúa ở ĐBSCL – Ảnh: Hoài Thanh

Theo các nhà khoa học, trong sản xuất nông nghiệp xanh cần chú ý đến giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. chúng tôi Nguyễn Văn Sánh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL – Đại học Cần Thơ, cho biết: Trong canh tác lúa, giảm khí thải nhà kính là thực thi chính sách kép, vì giảm yếu tố đầu vào mà hiện nay nông dân quản lý nước không tốt và sử dụng dư thừa về mật độ sạ, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… vừa làm tăng chi phí vừa làm tăng khí gây hiệu ứng nhà kính. Do đó việc áp dụng mô hình “1 phải 6 giảm” sẽ giảm chi phí sản xuất trung bình từ 5- 10% nhờ cắt giảm được 40 đến 50% giống, giảm từ 15 đến 30% lượng phân, giảm 20 đến 40% lượng nước tưới, tăng năng xuất từ 5 đến 10%, lợi nhuận mang lại cho nông dân cao hơn khoảng 10% và các đồng lợi ích cho môi trường như giảm lượng khí thải, giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước, môi trường.

Nhiều đại biểu kiến nghị: cần đánh giá thành tựu, hạn chế của các mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng xanh mà vùng ĐBSCL đã phát triển thời gian qua để có hướng đi cụ thể thời gian tới. Bởi, hiện tại lực lượng sản xuất (số lượng các trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp, khoa học công nghệ…) liên tục phát triển trong khi các quan hệ sản xuất trong nông nghiệp lại chưa có sự đổi mới tương xứng; nhu cầu liên kết sản xuất cao, nhưng việc triển khai vẫn chậm, qui mô sản xuất manh mún, diện tích đất sản xuất bình quân trên nông hộ nhỏ. Vai trò của quy hoạch và chiến lược phát triển vùng chưa rõ ràng. Các mối liên kết dọc và ngành hình thành và phát triển khó khăn. Liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân để tạo ra chuỗi giá trị nông sản hàng hóa lớn còn lòng lẻo, không gắn kết được lợi ích và trách nhiệm các bên tham gia…

Những khó khăn này cần được giải quyết rốt ráo mới có thể tạo ra “cách mạng xanh” cho ngành nông nghiệp. Và để giải quyết hiệu quả, nhất thiết phải có sự nhập cuộc tích cực của các bộ, ngành Trung ương cùng các địa phương, doanh nghiệp và người nông dân.

Giải Pháp Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững Tại Gia Lai

Moitruong24h – Trên cơ sở đánh giá năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu, khả năng phối hợp của người dân cùng với chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, tỉnh Gia Lai đã đề xuất các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững. Một trang trại trồng dứa của người dân tại Gia Lai.

Gia Lai là một trong các tỉnh ở khu vực Tây Nguyên, với diện tích đất tự nhiên 1,5 triệu ha lớn thứ 2 cả nước. Gia Lai có thế mạnh về phát triển các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như cà phê, hồ tiêu, cao su… Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do sự tác động biến đổi khí hậu làm thời tiết trở nên khắc nghiệt, thiên tai xảy ra thường xuyên, làm giảm năng suất và sản lượng cây trồng, vật nuôi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống nhân dân.

Do đặc điểm mùa khô kéo dài và lượng mưa ít (dưới 1.500 mm/năm), nên tại các khu vực thuộc phía tây Gia Lai như Chư Prông, Krông Pa, Đắk Đoa, Chư Păh, Chư Sê luôn ở tình trạng thiếu nước thường xuyên, làm ảnh hưởng đến năng suất các loại cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp dài ngày khác như lúa, cà phê, hồ tiêu…

Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai, năm 2014 đã có hơn 5.000 ha cây cà phê thiếu nước tưới do cạn kiệt nguồn nước. Trong đó, khoảng 3.000 ha cây cà phê đang thời kỳ ra hoa rộ bị hạn nặng làm giảm năng suất. Còn tại phía đông của tỉnh, tình trạng nắng nóng cũng làm cho mực nước các công trình thủy lợi, ao, hồ, đập đều ở mức rất thấp, làm tổng thiệt hại của nông dân càng thêm nặng nề, với gần 4.800ha cây trồng các loại bị chết. Chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là hai huyện Kông Chro, Đăk Pơ, với ước tính thiệt hại do hạn hán ở Gia Lai đã lên tới 15 tỷ đồng.

Ngoài ra, tác động của biến đổi khí hậu cũng làm thay đổi trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đối với nhóm cây ngắn ngày, như tăng diện tích trồng sắn, mía (các cây có khả năng chịu hạn) và giảm diện tích lạc, thuốc lá (các cây có nhu cầu nước tưới cao)… Mặt khác, biến đổi khí hậu cùng làm gia tăng khả năng phát sinh dịch bệnh, gây ảnh hưởng lớn năng suất, sản lượng và chất lượng nông sản.

Với diện tích trên 600.000 ha, Gia Lai là địa phương có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất khu vực Tây Nguyên. Khí hậu khô nóng làm gia tăng diện tích rừng bị cháy gây những tác động không nhỏ đến môi trường đất, nước và không khí. Đất không có sự che phủ của tán rừng và lớp thực bì sẽ dẫn tới tình trạng mất đi lớp bảo vệ bề mặt và nguồn cung cấp dinh dưỡng. Khi đó đất sẽ bị rửa trôi, xói mòn, sạt lở… nhanh chóng bị thoái hóa bạc màu.

Diện tích rừng bị mất đi dẫn tới khả năng điều tiết nguồn nước bị giảm. Như vậy, khi xảy ra mưa lớn rất dễ xảy ra tình trạng lũ quét khi ở điều kiện địa hình thích hợp, dẫn tới khả năng giữ nước không có và ảnh hưởng tới lượng nước bề mặt và nước ngầm, làm thay đổi đặc điểm thủy văn và gây ô nhiễm nguồn nước ở vùng thấp hơn.

Đó là đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn kết hợp với quy hoạch tổng thể vùng sản xuất cũng như vùng nguyên liệu trọng điểm trên địa bàn tỉnh.

Bên cạnh đó, tỉnh cần nghiên cứu về các giải pháp canh tác tổng hợp cho từng loại cây trồng, trên từng vùng sinh thái theo hướng thích ứng cao với biến đổi khí hậu, trước mắt ưu tiên tập trung nghiên cứu canh tác cà phê, hồ tiêu. Sử dụng các giống kháng, chịu hạn (cà phê, lúa, ngô…), giống ra hoa nhiều lần (đối với cây điều), bộ giống cây lương thực, thực phẩm ngắn ngày; bố trí thời vụ thích hợp để tránh hạn, lũ.

Đồng thời, tỉnh cần chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải theo hướng tăng diện tích trồng cây công nghiệp dài ngày có hiệu quả kinh tế cao, giảm diện tích đất trồng cây hàng năm kém hiệu quả. Mặt khác chuyển dịch các diện tích cây ngắn ngày theo hướng tăng cường thâm canh cây lúa, nhất là lúa nước, mở rộng diện tích đối với các cây ngắn ngày chịu hạn, hình thành các vùng chuyên canh, chăn nuôi tập trung có sử dụng công nghệ cao để ứng phó với sự tác động biến đổi khí hậu đến sản xuất.

Bên cạnh đó, Gia Lai nên tăng cường xây dựng các công trình thủy lợi, hệ thống tưới tiêu. Trong quá trình canh tác cần thực hiện các biện pháp chống xói mòn, rửa trôi đất và thất thoát phân bón do sử dụng, bón phân không đúng cách, thiếu cân đối, gây ngộ độc đất. Cũng như áp dụng công nghệ tưới nước tiết kiệm và bón phân qua hệ thống tưới để giảm chi phí đầu tư, đồng thời cũng góp phần sử dụng nguồn tài nguyên nước hợp lý, bảo vệ môi trường sinh thái. Bón phân cân đối, hợp lý; sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc 4 đúng cũng góp phần thiết thực trong việc giảm thiểu phát thải nhà kính, từ đó làm hạn chế sự tăng nhanh nhiệt độ trái đất.

Tăng cường các tiến bộ khoa học trong lĩnh vực trồng, chế biến nông sản sạch và bền vững; tăng cường công tác xúc tiến thương mại giúp cho nông dân và doanh nghiệp tìm kiếm thị trường. Xây dựng các trạm thời tiết thông minh nhằm cung cấp các thông tin về thời tiết nông nghiệp, cảnh báo các bệnh cây trồng, thiên tai… thông qua dịch vụ thông tin nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu.

TD (theo TTXVN)

Chú Trọng Triển Khai Nhiều Giải Pháp Để Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, ngoài việc ban hành nghị quyết, quyết định, đề án, dự án hỗ trợ sản xuất lương thực, thực phẩm theo hướng hàng hóa, tạo ra sản phẩm có thương hiệu, sức cạnh tranh trên thị trường, thành phố đã lồng ghép phát triển nông nghiệp với chương trình xây dựng nông thôn mới.

Thông qua chương trình này, thành phố đã tập trung cho công tác dồn điền đổi thửa tạo tiền đề tích tụ ruộng đất, phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, tạo nên những vùng sản xuất chuyên canh quy mô lớn. Đến nay, toàn thành phố đã thực hiện dồn điền, đổi thửa được 79.454,3/75.980ha.

Thành phố Hà Nội đang tập trung phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả cao. (Ảnh L.H)

Sau dồn điền đổi thửa, thành phố đã chỉ đạo đẩy mạnh việc chuyển đổi vùng đất lúa kém hiệu quả sang các mô hình canh tác hiệu quả cao hơn, giúp gia tăng giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích canh tác, nâng cao thu nhập cho người nông dân. Đến nay, toàn thành phố chuyển đổi được 40.227,3ha sang các mô hình sản xuất hiệu quả kinh tế cao.

Cùng với việc dồn điền đổi thửa và tập trung phát triển các mô hình sản xuất hiệu quả kinh tế cao, thành phố Hà Nội cũng đã mở hàng trăm lớp tập huấn cho hàng nghìn nông dân cả về khoa học, kỹ thuật sản xuất nông nghiệp và kiến thức quản lý.

Các lớp tập huấn kỹ thuật đã trở thành cầu nối chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật tới cho bà con nông dân để xây dựng các chương trình sản xuất lương thực, thực phẩm một cách hợp lý, đạt năng suất, hiệu quả cao…

Qua các lớp tập huấn cũng đã xây dựng được các tổ, nhóm liên kết cùng hỗ trợ nhau trong sản xuất nông nghiệp, từng bước hình thành các vùng sản xuất chuyên canh tập trung, quy mô lớn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Thủ đô; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kết nối các chuỗi giá trị từ sản xuất đến phân phối, tiêu thụ sản phẩm đến tay người tiêu dùng bền vững.

Tính đến nay, toàn thành phố đã có 3.066 trang trại trồng trọt, chăn nuôi. Cạnh đó, trên địa bàn thành phố đã củng cố, phát triển được 1.096 hợp tác xã nông nghiệp và hình thành 115 mô hình liên kết trong sản xuất nông nghiệp. Các địa phương đã có nhiều mô hình liên kết như: Ứng Hòa 21 mô hình, Gia Lâm 18 mô hình, Đông Anh 14 mô hình, Quốc Oai 9 mô hình, Mỹ Đức 8 mô hình…

Các mô hình liên kết hiện nay đã tạo ra chuyển biến tích cực, giúp người dân phát triển sản xuất bền vững và tạo ra những sản phẩm nông nghiệp có thương hiệu; tạo nền tảng liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân, bảo đảm đầu ra cho nông sản có thị trường tiêu thụ ổn định. Qua đó, góp phần thúc đẩy ngành Nông nghiệp Thủ đô phát triển bền vững.

Mạnh Quân

Nguồn :

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cần Giải Pháp Dài Hạn Để Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!