Đề Xuất 12/2022 # Các Giải Pháp Tăng Trưởng Xanh / 2023 # Top 20 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Các Giải Pháp Tăng Trưởng Xanh / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Các Giải Pháp Tăng Trưởng Xanh / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hội thảo được tổ chức với mục đích tập hợp các chuyên gia, các đơn vị cung cấp thông tin toàn cảnh về Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam, tình hình triển khai thực hiện, những cơ hội và thách thức, giới thiệu những mô hình thành công, một số đề xuất giải pháp cụ thể. Những kết quả của Hội thảo sẽ giúp cơ quan quản lý, các nhà hoạch định đưa ra các chính sách phù hợp, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng bền vững của Việt Nam.

Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012, trong đó chỉ ra ba nhiệm vụ quan trọng: Một là, giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo. Hai là, xanh hoá sản xuất. Thực hiện chiến lược “công nghiệp hoá sạch” thông qua rà soát, điều chỉnh những quy hoạch ngành hiện có, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên, khuyến khích phát triển công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường, đầu tư phát triển vốn tự nhiên; tích cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm. Ba là, xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải chỉ rõ, để đảm bảo triển khai Chiến lược bằng các hành động thiết thực, hiệu quả, ưu tiên giai đoạn hiện nay là tuyên truyền nâng cao nhận thức, truyền thông đúng định hướng, cũng như giới thiệu những mô hình tốt trong thực hiện Chiến lược này cho các cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức chính trị – xã hội là việc làm cần thiết để cổ vũ, nhân rộng các mô hình, báo cáo lãnh đạo Đảng và Nhà nước để có những chính sách kịp thời.

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Thế Phương phát biểu tại Hội thảo.Ảnh: Mai Phương (MPI Portal)

Về nghiên cứu đề xuất và các chính sách thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Thế Phương cho biết, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với các bộ, ngành, các đối tác phát triển xây dựng và ban hành Khung hướng dẫn lựa chọn ưu tiên đầu tư thích ứng với biến đổi khí hậu. Hướng dẫn lồng ghép đầu tư cho biến đổi khí hậu trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hằng năm, 5 năm và hiện đang xây dựng hướng dẫn đầu tư công cho tăng trưởng xanh.. Đồng thời, chỉ ra các đột phá để thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh trong giai đoạn hiện nay. Thứ nhất, cần hình thành các kế hoạch hành động, xác định các hành động ưu tiên cho biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh. Thứ hai, cần nâng cao năng lực và kiện toàn các tổ chức hiện có, tăng cường năng lực dịch vụ tài chính và tiền tệ để huy động các nguồn lực tài chính cho tăng trưởng xanh. Thứ ba, sử dụng kết quả nghiên cứu về đầu tư cho tăng trưởng xanh và biến đổi khí hậu để hoàn thiện nuôi dưỡng đầu tư công xanh. Thứ tư, thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân, đầu tư của Chính phủ và ODA sẽ là chất xúc tác để thu hút, tạo điều kiện cho đầu tư tư nhân cho biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh thông qua chuyển giao công nghệ, dự án thí điểm, triển khai thí điểm. Những hành động này cần được triển khai một cách đồng bộ thông qua việc hoàn thiện thể chế, chuyển đổi mô hình kinh tế ngành, địa phương và doanh nghiệp và đổi mới công nghệ.

Cập nhật tiến độ và định hướng thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam, TS. Phạm Hoàng Mai, Vụ trưởng, Vụ Khoa học, Giáo dục, Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, đây là Chiến lược thúc đẩy quá trình tái cấu trúc và hoàn thiện thể chế kinh tế theo định hướng sử dụng hiệu quả hơn tài nguyên thiên thiên nhiên, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, thông qua tăng cường đầu tư vào đổi mới công nghệ, vốn tự nhiên, công cụ kinh tế, từ đó góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nghèo và phát triển kinh tế bền vững.

Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh: Mai Phương (MPI Portal)

Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 – 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 20/3/2014 đã đưa ra 12 nhóm nhiệm vụ với 66 hành động. Trong đó, việc huy động và phân bổ nguồn lực đã có tổng 177 chương trình, dự án với 10,8 tỷ USD cho 36 hành động. Cụ thể, 48 chương trình, dự án cho 10 hành động ưu tiên; 129 chương trình, dự án cho 26 hành động và 30 hành động chưa có sự hỗ trợ của ODA.

Tại Hội thảo, Ths. Nguyễn Quang Vinh, Phó Tổng Thư ký VCCI, Tổng Thư ký Hội đồng doanh nghiệp vì sự Phát triển bền vững Việt Nam trình bày những công việc VCCI đã triển khai nhằm góp phần thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh. Trong đó có 4 công việc chính bao gồm: Thúc đẩy hình thành và phát triển văn hoá “doanh nghiệp phát triển bền vững” trong giới doanh nghiệp cả nước; Tập hợp và triển khai các giải pháp kinh doanh bền vững thông qua Chương trình hành động 2020; Đưa ra các tiêu chuẩn “doanh nghiệp phát triển bền vững” vào hệ thống đánh giá công khai và minh bạch kết quả hoạt động kinh doanh và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; Hỗ trợ doanh nghiệp triển khai sản xuất sạch hơn.

Hiện nay, cộng đồng doanh nghiệp đang có những thay đổi nhận thức, xu hướng đầu tư để sản xuất xanh, sạch, thể hiện trách nhiệm xã hội. Một trào lưu đầu tư vào nông nghiệp, ứng dụng sản xuất xanh đã và đang hình thành. Xu hướng này cần được tuyên truyền cổ động để trở thành một hướng đi chủ yếu trong đổi mới doanh nghiệp. Mặt khác, sẽ cần nhiều diễn đàn, kênh trao đổi để các cơ quan quản lý nhà nước sẽ cùng cộng đồng doanh nghiệp tìm các giải pháp xây dựng chính sách thúc đẩy phát triển sản xuất xanh./.

Theo mpi.gov.vn

Muốn Thúc Đẩy Tăng Trưởng Xanh, Phải Đồng Bộ Các Giải Pháp / 2023

TS. Nguyễn Quốc Hùng

Đó là đánh giá của TS. Nguyễn Quốc Hùng – Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) khi trao đổi với phóng viên Thời báo Ngân hàng.

Ngành Ngân hàng đã có quyết sách gì để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh, tạo động lực kinh tế phát triển bền vững, thưa ông?

Nhận thức tầm quan trọng của tăng trưởng và phát triển bền vững, để triển khai nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 -2010, năm 2015, Thống đốc đã ban hành Chỉ thị số 03/CT – NHNN về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội (MT – XH) trong hoạt động cấp tín dụng; kế hoạch hành động của ngành Ngân hành thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng tín dụng xanh đến năm 2020.

Đặc biệt, NHNN thể hiện rõ trách nhiệm cũng như quyết tâm khi đã lồng ghép nội dung về định hướng phát triển tín dụng xanh – ngân hàng xanh vào nội dung Chiến lược Phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030…

Tháng 8/2018, NHNN đã phối hợp với IFC ban hành Sổ tay hướng dẫn đánh giá rủi ro MT – XH trong hoạt động cấp tín dụng cho 10 ngành kinh tế. Để hỗ trợ các TCTD triển khai chính sách tín dụng xanh một cách toàn diện, trên cơ sở thành công của cuốn sổ tay đã ban hành, mới đây, NHNN tiếp tục phối hợp với IFC ban hành Hướng dẫn đánh giá rủi ro MT – XH đối với 5 ngành kinh tế nữa gồm sản xuất nhiệt điện, sản xuất giấy và bột giấy, nhuộm vải, chế biến thủy sản, pin và sắc quy.

Đây sẽ là “cẩm nang” giúp các TCTD nhận diện và chủ động quản lý các rủi ro MT – XH có thể gây tác động xấu, ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án được cấp tín dụng cũng như khả năng trả nợ của khách hàng. Từ đó giúp các TCTD giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng.

Những giải pháp trên đã mang lại kết quả ra sao đối với tín dụng xanh, thưa ông?

Với nỗ lực của NHNN và các TCTD trong việc đưa chính sách tín dụng xanh vào thực tiễn, hoạt động tín dụng xanh đã có những chuyển biến tích cực. Tính đến hết tháng 6/2019, dư nợ tín dụng đối với các dự án xanh đạt khoảng 317.600 tỷ đồng, tăng 32% so với năm 2018. Lãi suất cho vay các lĩnh vực xanh khá ưu đãi vay ngắn hạn là 5-8%/năm, trung – dài hạn là 9-12%/năm. Dư nợ tín dụng xanh chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp xanh, chiếm 45% tổng dư nợ tín dụng xanh; năng lượng tái tạo, năng lượng sạch chiếm 17%…

Ngoài ra, qua khảo sát của NHNN sự hiểu biết của các TCTD về tín dụng xanh đã được cải thiện đáng kể. Cụ thể, đã có 17 TCTD áp dụng khi đánh giá các rủi ro MT – XH trong hồ sơ thẩm định tín dụng các dự án, phương án kinh doanh của khách hàng; 19 TCTD đã xây dựng chiến lược quản lý rủi ro MT – XH. 10 TCTD đã xây dựng các sản phẩm tín dụng, dịch vụ ngân hàng cho các ngành/lĩnh vực xanh và đã quan tâm dành nguồn vốn huy động của ngân hàng để cấp tín dụng cho các lĩnh vực này với kỳ hạn chủ yếu là trung, dài hạn và có sự ưu đãi về lãi suất cho các dự án xanh…

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động tín dụng – ngân hàng xanh góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường hiện nay còn gặp một số khó khăn khiến cho cả ngân hàng lẫn khách hàng vẫn e ngại với tín dụng xanh.

Tuy nhiên việc đầu tư vào các ngành/lĩnh vực xanh, nhất là lĩnh vực năng lượng tái tạo, tiết kiệm và hiệu quả năng lượng tại Việt Nam hiện nay thường đòi hỏi thời gian hoàn vốn dài, chi phí đầu tư lớn, rủi ro thị trường cao nên rất cần các ưu đãi về thời hạn và chi phí vốn vay. Trong khi nguồn vốn huy động của các TCTD thường là ngắn hạn, huy động theo chi phí vốn thương mại trên thị trường. Do đó, để có thể cung cấp các khoản tín dụng ưu đãi cho các ngành, lĩnh vực xanh, các TCTD cần được hỗ trợ tiếp cận các nguồn vốn dài hạn, ưu đãi hoặc có cơ chế chia sẻ lãi suất cho vay với các TCTD.

Đối với bất kỳ lĩnh vực ngành nghề nào để phát triển bền vững đòi hỏi đồng bộ các giải pháp, nhất là lĩnh vực mới như kinh tế xanh. Do vậy, để phát triển ngành kinh tế xanh cần đồng bộ các giải pháp, cơ chế từ chính sách thuế, phí, vốn, kỹ thuật, thị trường, đến quy hoạch, chiến lược phát triển của từng ngành, lĩnh vực. Trên cơ sở đó mới thu hút và phát huy được tác dụng của nguồn vốn tín dụng xanh.

Vậy NHNN sẽ có định hướng chính sách ra sao để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh trong thời gian tới?

Trên cơ sở bám sát các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh, NHNN tiếp tục thực thi các chính sách tín dụng nhằm thúc đẩy hoạt động của ngành Ngân hàng hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh.

Thứ hai, NHNN sẽ tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hướng dẫn đánh giá rủi ro MT- XH cho một số ngành chưa có hướng dẫn trong hoạt động cấp tín dụng của các TCTD.

Thứ ba, xây dựng các giải pháp tập trung nguồn lực để cấp tín dụng cho các dự án, phương án sản xuất kinh doanh sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến; sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả…

Xin cảm ơn ông!

Cần Tập Trung Các Giải Pháp Kích Thích Tăng Trưởng / 2023

– Ngoài việc hỗ trợ các ngành, lĩnh vực còn gặp khó khăn, cần tập trung các giải pháp để kích thích tăng trưởng, thúc đẩy phục hồi toàn diện nền kinh tế.

Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng đã nhấn mạnh điều này tại phiên họp Chính phủ thường kỳ diễn ra chiều 31/3 sau khi cập nhật kịch bản tăng trưởng năm 2021.

GDP quý I: Thấp hơn 0,64 điểm phần trăm so với mục tiêu

Cập nhật kịch bản tăng trưởng kinh tế, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho biết, tốc độ tăng trưởng GDP quý I đạt 4,48%, tuy cao hơn mức tăng trưởng dự báo trong Báo cáo tháng 1/2021 nhưng vẫn thấp hơn 0,64 điểm phần trăm so với mục tiêu đặt ra trong Nghị quyết 01/NQ-CP.

Do đó, để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2021 là 6,5% thì quý II/2021 GDP cần đạt mức tăng trưởng 7,19% (cao hơn 0,08 điểm phần trăm so với Nghị quyết 01); quý III cần tăng 6,78% (cao hơn 0,07 điểm phần trăm) và quý IV cần tăng 7,16% (cao hơn 0,49 điểm phần trăm).

Mặc dù nhận định rằng, để đạt mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, nhiệm vụ đặt ra là khá nặng nề, nhưng Bộ trưởng cũng chỉ rõ, xu hướng phục hồi kinh tế thế giới và trong nước đã rõ ràng hơn.

Toàn cảnh phiên họp Chính phủ thường kỳ cuối cùng của nhiệm kỳ

Thúc đẩy giải ngân đầu tư công, tạo động lực cho tăng trưởng

Về giải pháp thúc đẩy kinh tế trong thời gian tới, ngoài việc hỗ trợ các ngành, lĩnh vực còn gặp khó khăn, Bộ trưởng cho rằng, cần tập trung các giải pháp để kích thích tăng trưởng, thúc đẩy phục hồi toàn diện nền kinh tế, với 09 nội dung trọng tâm.

Thực hiện quyết liệt các biện pháp kiểm soát, phòng chống dịch bệnh, đẩy mạnh việc mua và triển khai tiêm vắc-xin Covid-19. Kiểm soát chặt chẽ hoạt động xuất nhập cảnh, các tuyến đường biên giới, kiên quyết không để dịch bệnh bùng phát trên diện rộng. Tập trung nguồn lực để đẩy nhanh quá trình phổ biến vắc-xin, coi đây là giải pháp trọng tâm không chỉ giúp bảo đảm an toàn sức khỏe cho người dân mà còn để hỗ trợ phục hồi các ngành dịch vụ, du lịch, vận tải… đang gặp nhiều khó khăn.

Khẩn trương nghiên cứu, hợp tác quốc tế để triển khai “hộ chiếu vắc-xin”, tận dụng tối đa cơ hội để tạo lợi thế cạnh tranh, phục hồi và chiếm lĩnh thị phần các thị trường du lịch, lữ hành quốc tế.

Bộ trưởng cho rằng, chỉ số giá ở mức thấp, trong khi cân đối ngân sách được bảo đảm là những điều kiện thuận lợi để tiếp tục mở rộng chính sách tài khóa, kích thích tăng trưởng kinh tế; triển khai chính sách tiền tệ linh hoạt, thực hiện ngay các chính sách hỗ trợ bổ sung các ngành, lĩnh vực đối tượng gặp khó khăn do đại dịch COVID-19; xem xét điều chỉnh hợp lý việc tăng giá, phí một số mặt hàng do nhà nước quản lý theo lộ trình.

Bộ trưởng đề nghị tập trung theo dõi sát diễn biến của các thị trường tiềm ẩn rủi ro. Ngân hàng Nhà nước giám sát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực bất động sản, chứng khoán, BOT giao thông. Tích cực triển khai các biện pháp xử lý nợ xấu, kiểm soát, hạn chế nợ xấu mới phát sinh; giám sát các tổ chức tín dụng có các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ.

Bộ Tài chính tập trung theo dõi thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đánh giá tình hình thực hiện Nghị định 153/2020/NĐ-CP về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ. Tăng cường giám sát biến động của thị trường chứng khoán, chống thao túng giá, phòng ngừa rủi ro tăng nóng của thị trường. Phát triển các quỹ đầu tư dài hạn và các tổ chức xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp. Tận dụng cơ hội thúc đẩy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước gắn với niêm yết trên thị trường chứng khoán để phát triển thị trường.

Cùng với đó, đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh, cắt giảm chi phí cho các doanh nghiệp. Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa thủ tục kiểm tra chuyên ngành. Khẩn trương triển khai Quyết định 221/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics.

Thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư ngân sách nhà nước, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.

“Các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương cần đặc biệt quan tâm, chú ý và chịu trách nhiệm trong việc thẩm định, phê duyệt tổng mức đầu tư của các dự án đầu tư từ tất cả các nguồn vốn, trong đó có các dự án đầu tư công. Tổng mức đầu tư của các dự án phải được xây dựng và phê duyệt trên cơ sở các quy định của nhà nước về định mức, suất đầu tư… tránh tình trạng phê duyệt tổng mức đầu tư vượt quá nhiều so với đầu tư thực tế, nhằm lợi dụng ngân sách nhà nước, gây lãng phí, thất thoát, ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách, hiệu quả dự án, lợi ích người dân và sức cạnh tranh của nền kinh tế”, Bộ trưởng lưu ý.

Bộ cũng đề xuất, quản lý chặt chẽ, hiệu quả việc sử dụng và khai thác tài nguyên, nhất là tài nguyên đất. Các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương đang xây dựng và phê duyệt các dự án đầu tư sử dụng diện tích đất lớn.

“Tuy nhiên trên thực tế, nhiều dự án có diện tích sử dụng đất lớn được lập ra với mục đích chiếm dụng đất, trông chờ chênh lệch địa tô, bán lại dự án, không phải mục đích đầu tư phát triển… cản trở đến hiệu quả sử dụng đất, phát triển kinh tế của các địa phương”, Bộ trưởng chỉ rõ và đề xuất, phải thực sự tiết kiệm, quản lý chặt chẽ, hiệu quả việc cấp đất, sử dụng đất cho các dự án; cấp đất phải căn cứ vào nhu cầu, khả năng thực tế triển khai gắn với các điều kiện nhất định về tiến độ, kết quả thực hiện dự án, nghĩa vụ với nhà nước và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.

“Việc cấp và giao đất phải được thực hiện hiệu quả, công khai, minh bạch thông qua các hình thức đấu thầu, đấu giá theo đúng quy định và bảo đảm hài hòa lợi ích của nhà nước, người dân và doanh nghiệp”, Bộ trưởng nói.

Ngoài ra, Bộ trưởng cho rằng, cần đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu, giảm bớt việc phụ thuộc vào một thị trường. Rà soát, tìm hiểu thông tin các thị trường có khả năng cung ứng nguồn nguyên liệu, đặc biệt là các thị trường đối tác có ký kết hiệp định FTA như CPTPP, EVFTA.

Cùng với đó, Bộ trưởng cũng đề xuất, cần tập trung hỗ trợ phát triển thị trường trong nước. Nghiên cứu, xây dựng các chính sách kích cầu tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa sản xuất trong nước. Tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ để nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng thu được từ xuất khẩu. Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp trong nước triển khai phân phối hàng hoá trên nền tảng thương mại điện tử.

“Triển khai, sử dụng hiệu quả các công cụ phòng vệ thương mại, rà soát các ưu đãi dành cho doanh nghiệp FDI nhằm tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho sản xuất trong nước”, Bộ trưởng phát biểu./.

Chuyên Đề: “Các Giải Pháp Thúc Đẩy Tăng Trưởng Kinh Tế Việt Nam” / 2023

1. Nghiên cứu đóng góp của các thành phần kinh tế đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam/ Phạm Quang Tín

Tóm tắt: Từ sau Đại hội Đảng IV (1986), các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế Việt Nam đều ưu tiên tập trung nguồn lực phát triển khu vực kinh tế nhà nước làm động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Bài viết cho thấy mức độ đóng góp của thành phần kinh tế nhà nước vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam chưa xứng tầm với mức độ ưu đãi nguồn lực sản xuất, tình trạng lấn át đầu tư và hiệu quả đầu tư thấp ở thành phần kinh tế nhà nước so với các thành phần kinh tế khác ở Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế/ 2018, Số.10, Tr. 11-22 2. Bằng chứng thực nghiệm tác động của niềm tin xã hội đến tăng trưởng kinh tế/ Phạm Đình Long, Lê Văn Thành, Phạm Thị Bích Ngọc

Tóm tắt: Bài viết đánh giá tác động của niềm tin xã hội đến tăng trưởng kinh tế và các kênh truyền dẫn mà thông qua đó niềm tin xã hội tác động đến tăng trưởng kinh tế. Dựa trên kết quả nghiên cứu, bài viết khuyến nghị các giải pháp phát huy vai trò của niềm tin xã hội đối với tăng trưởng kinh tế. Số liệu được thu thập từ cơ sở dữ liệu của Chương trình Khảo sát các giá trị thế giới – WVS, cơ sở dữ liệu WDI, WGI của Ngân hàng Thế giới và được tổng hợp lại dưới dạng trung bình của mỗi giai đoạn 5 năm, với 5 giai đoạn: 1990-1994, 1995-1999, 2000-2004, 2005-2009, 2010-2014.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế/ 2018, Số 10, Tr. 30-38 3. Tương quan giữa y tế và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 1990-2016/ Ngô Gia Lương

Tóm tắt: Trong nghiên cứu này, tác giả xây dựng mô hình hồi quy tổng thể các yếu tố y tế có khả năng ảnh hưởng đến GDP đầu người ở Việt Nam dựa trên số liệu thu thập trong giai đoạn 1990-2016. Kết quả cho thấy, các yếu tố tác động đáng kể đến tăng GDP đầu người bao gồm: Chi tiêu cho y tế/GDP và tỷ lệ bác sĩ.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và Dự báo/ 2018, Số 33, Tr.3-6 4. Quy mô chi ngân sách nhà nước hợp lý cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam/ Vũ Thị Huyền Trang

Tóm tắt: Chính sách tài khóa tác động lên các định hướng phát triển của nền kinh tế thông qua những thay đổi trong chi tiêu chính phủ và thuế khóa. Trong nhiều năm qua, có nhiều nghiên cứu cả về lý thuyết lẫn thực nghiệm, tập trung xem xét, đánh giá vai trò của chi ngân sách tới tăng trưởng và lạm phát ở trong và ngoài nước. Các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách vẫn tranh luận về vấn đề chi ngân sách nhà nước có vai trò thúc đẩy hay làm chậm tăng trưởng kinh tế. Có bài toán tối ưu nào cho chi tiêu chính phủ thực hiện được mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn duy trì được mức lạm phát hợp lý? Có một số quan điểm cho rằng, khi tăng chi tiêu chính phủ quá lớn trong khi hiệu quả hoạt động khu vực kinh tế nhà nước còn kém, năng suất còn thấp có thể sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế trong tương lai do sự dịch chuyển nguồn lực từ khu vực sản xuất hiệu quả sang kém hiệu quả, đặc biệt ở các nước đang phát triển và chuyển đổi. Vì vậy, việc điều hành chính sách tài khóa, đặc biệt là chính sách chi ở Việt Nam không đạt được hiệu quả như mong muốn do chưa xác định được quy mô hay ngưỡng chi ngân sách nhà nước, quy mô hợp lý cho chi ngân sách nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế Tài chính Việt Nam/ 2018, Số 3, Tr. 42-526. Bàn thêm về rào cản đối với quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và gợi ý chính sách/ Phạm Thị Khanh Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và Quản lý/ 2018, Số 26, Tr. 17-23 7. Tăng trưởng kinh tế và thay đổi về tầm vóc của trẻ em Việt Nam/ Phạm Minh Thái, Vũ Thị Vân Ngọc 5. Những vấn đề “nóng” trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2017 và một số khuyến nghị/ Ngô Thắng Lợi Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương/ 2018, Số 530, Tr.16 – 18 8. Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với chính sách giải quyết việc làm ở thành phố Hồ Chí Minh – thực trạng và giải pháp/ Nguyễn Minh Trí

Tóm tắt: Giai đoạn 2011-2017 Việt Nam đã đạt được khá nhiều thành quả kinh tế, tạo cơ sở tốt cho những dự báo tốt đẹp về khả năng thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh của cả giai đoạn 2011-2020. Tuy nhiên, bài viết muốn đi sâu vào một khía cạnh ngược lại: Đằng sau những thành quả đạt được là những vấn đề “nóng” đang chi phối khá đậm nét bức tranh tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2011-2017 cả về mặt số lượng và chất lượng, trong đó phải kể đến tính chất đậm nét của mô hình tăng trưởng nhờ vào gia công, sự phụ thuộc lớn của tăng trưởng. Những khoảng tối đó, trên một mức độ nhất định, đã cản trở tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm qua và cần phải có sự đột phá trong những năm tới để có thể đạt được tăng trưởng nhanh, bền vững và hiệu quả cao.Nguồn trích: Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội/ 2018, Số 3, Tr. 3-10

Nguồn trích: Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội/ 2018, Số 07, Tr.43-50 9. Chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2017/ Nguyễn Thị Thơm

Tóm tắt: Việt Nam đang trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh kết quả đã đạt được như tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng trưởng kinh tế bước đầu gắn với nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân… đã nảy sinh thách thức mới, khó lường tiềm ẩn nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn so với trình độ phát triển của thế giới. Vì vậy, nắm bắt, hiểu rõ những rào cản đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, tìm ra những giải pháp khắc phục, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững là vấn đề hết sức cần thiết.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và Quản lý/ 2018, Số 25, Tr. 22-27 10. Giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa – động lực cho tăng trưởng kinh tế ở Thành phố Hồ Chí Minh/ Trần Thị Hạnh Dung, Nguyễn Thu Hà

Tóm tắt: Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế và giảm nghèo. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo đầu người đã tăng hơn 20 lần, từ mức chưa tới 100 đô la vào năm 1990 lên khoảng 2.215 đô là vào năm 2016. Tỷ lệ nghèo giảm nhanh chóng từ 58% vào năm 1993 xuống còn 13,5% vào năm 2014 và khoảng 8,58% vào năm 2016, nhờ đó khoảng 40 triệu người Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng nghèo. Kết quả tăng trưởng ấn tượng này giúp Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất châu Á trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp trên thế giới.

Nguồn trích: Tạp chí Phát triển Nhân lực/ 2018, Số 05, Tr.72-78 11. Tác động của Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đến đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam và những gợi ý về chính sách/ Phạm Thị Khanh

Tóm tắt: Thực trạng và giải pháp thực hiện quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với chính sách giải quyết việc làm ở thành phố Hồ Chí Minh sau hơn 30 năm đổi mới. Tăng trưởng kinh tế theo hướng hiện đại đã góp phần giải quyết việc làm bền vững, đảm bảo sinh kế cho mọi người lao động ở thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Từ sự phân tích thành tựu và hạn chế, đưa ra những giải pháp để thực hiện tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với chính sách giải quyết việc làm ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và Quản lý/ 2017, Số 24, Tr. 10-15 12. Một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2018-2020/ Nguyễn Xuân Thắng

Tóm tắt: Chất lượng tăng trưởng kinh tế phản ánh bản chất bên trong của quá trình tăng trưởng kinh tế. Tức là phản ánh trạng thái, phương thức, hiệu quả của tăng trưởng kinh tế và khả năng duy trì tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Bài viết phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam qua 7 năm thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở bốn mặt thể hiện trên. Qua đó chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế yếu kém của chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2017. Từ đó, đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

Tóm tắt: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là thành tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và là động lực của cả nền kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tập trung làm rõ những khó khăn và trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp hỗ trợ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Tổng hợp: Võ Hồng Thơ

Tóm tắt: Thời gian qua, các hiệp định thương mại tự do đã có những tác động tích cực, tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam. Trong bối cảnh Việt Nam tăng cường tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới thì cần phải có những đánh giá khách quan tác động của hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đến nền kinh tế. Bài viết tập trung phân tích bản chất của Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, những tác động của nó tới mô hình tăng trưởng của Việt Nam và đề xuất một số chính sách nhằm phát huy những tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của Hiệp định thương mại tự do trong quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế của Việt Nam.

Tóm tắt: Để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP giai đoạn 2016-2020 từ 6,5%-7% đang là một thách thức đối với kinh tế Việt Nam. Năm 2016, tăng trưởng GDP chỉ đạt 6,21% so với mục tiêu 6,7%. Quý I năm 2017, tăng trưởng thấp chỉ ở mức 5,1% – thấp nhất so với cùng kỳ 2 năm trở lại đây (năm 2015 là 6,12%; năm 2016 là 5,48%). Tăng trưởng quý II dù có cải thiện lên 6,17% những tính chung 6 tháng đầu năm tăng trưởng cũng chỉ ở mức 5,73% so với cùng kỳ, thấp hơn mức 6,28% của năm 2015. Năm 2017, nếu tăng trưởng kinh tế không đạt mục tiêu đã đề ra thì khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII sẽ không hoàn thành. Do đó, việc xác định rõ nguyên nhân và đề xuất các giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho năm 2017 và giai đoạn 2018-2020 là hết sức cấp thiết.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và Quản lý/ 2017, Số 22, Tr. 5-14

Bạn đang đọc nội dung bài viết Các Giải Pháp Tăng Trưởng Xanh / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!