Đề Xuất 12/2022 # Các Biện Pháp Giúp Học Sinh Viết Đúng Chính Tả / 2023 # Top 15 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Các Biện Pháp Giúp Học Sinh Viết Đúng Chính Tả / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Các Biện Pháp Giúp Học Sinh Viết Đúng Chính Tả / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cách rèn luyện học sinh viết đúng chính tả

Rèn học sinh viết đúng chính tả luôn là vấn đề được các phụ huynh và các thầy cô giáo quan tâm. Vậy làm thế nào để trẻ viết đúng chính tả. Trong bài viết này VnDoc xin chia sẻ một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả, mẹo viết đúng chính tả để các thầy cô giáo và các em học sinh cùng tham khảo.

Cách rèn luyện học sinh viết đúng chính tả

1. Sửa lỗi chính tả trong quá trình chấm và sửa bài.

Để chấm một bài kiểm tra của các môn học khác, giáo viên rất nhàn bởi nội dung ngắn, hoặc nội dung chỉ thể hiện trên những con số.

Song, đối với bài kiểm tra môn Văn, đặc biệt là các bài viết Tập làm văn của học sinh với thời lượng 90 phút là một sự đòi hỏi kiên trì cẩn thận của giáo viên, người thầy không chỉ vừa đọc để thẩm thấu nội dung bài viết mà còn vừa phải sửa lỗi chính tả cho các em…

Những bài văn sạch đẹp về hình thức, nội dung tương đối tốt chỉ có vài bài/ lớp. Còn lại là những bài văn rối rắm, cẩu thả, chữ nghĩa vô cùng xấu và có rất nhiều lỗi chính tả.

Nhiều khi đọc xong bài văn của các em khiến người thầy hoa mắt. Nhưng không phải vì vậy mà người thầy chấm qua loa, chiếu lệ rồi cho điểm một cách cảm tính.

Với quan niệm: Văn là người. Nếu không rèn cho các em thói cẩn thận, sự chuẩn mực trong ngôn từ thì ảnh hưởng rất nhiều đến tương lai cho các em nên trong quá trình chấm bài, bao giờ giáo viên cũng chú trọng sửa lỗi chính tả cho các một một cách chu đáo.

Đối với lời phê bao giờ cũng nhẹ nhàng và có lời khuyên nhủ để động viên, an ủi và hy vọng các em tiến bộ.

*Cách sửa lỗi trên bài kiểm tra:

Đối với những em mắc ít lỗi chính gạch dưới chữ sai bằng mực đỏ và sửa lại đúng chữ đó ở bên lề tương ứng.

Còn đối với những em có quá nhiều lỗi chính tả không thể viết lại bên lề trang giấy thì sửa trực tiếp trên chữ sai hoặc gạch dưới chữ các em trình bày sai.

*Cách sửa lỗi trong các tiết trả bài kiểm tra:

Trong một tiết trả bài kiểm tra, dành một khoảng thời gian nhất định để lướt qua nhận xét từng bài của các em. Bao giờ cũng dừng lại lâu hơn đối với những bài sai nhiều lỗi chính tả.

Đặc biệt, đối với những học sinh mà sai nhiều lỗi thì gọi các em lên bảng viết lại những chữ mà học sinh đã trình bày sai trong bài viết của mình. Thầy (cô) sẽ đọc những chữ sai cho học sinh viết lên bảng.

Sau đó, thường cho các em phía dưới nhận xét những chữ các em lên bảng mới viết, rồi cho các em khá giỏi lên chữa lại những từ viết sai, khi thấy các em đã chữa đúng yêu cầu học sinh viết sai chép lại những từ mình đã sai vào vở để lần sau không còn phạm vào các lỗi mà thầy và các bạn đã từng sửa.

*Cách sửa trong vở bài tập, vở soạn:

Thông thường, môn Ngữ văn thường có vở soạn bài nên trong mỗi học kỳ giáo viên nên thu vở của các em một, hai lần. Trong những lần thu bài như vậy, giáo viên cố gắng sửa những từ sai của các em một cách cẩn thận.

Sau khi chấm vở của các em bao giờ cũng có những nhận xét, những lời phê nêu hạn chế của học sinh để các em thấy được những điều mình chưa làm được mà cố gắng điều chỉnh lại chữ nghĩa của mình một cách đúng nhất.

Một điều chúng tôi dễ phát hiện là càng vở bài tập, vở soạn ở nhà các em lại càng viết ẩu, đó là: viết tắt, viết sang tiếng Anh một số từ, viết số và trình bày rất cẩu thả.

Chính vì thế trong khi trả vở cho học sinh bao giờ cũng nhấn mạnh cho các em việc rèn luyện và trau dồi vốn từ ở nhà là một điều thuận lợi để các em có thể tham khảo, suy nghĩ những từ đúng, trình bày sạch đẹp hơn để tạo thành thói quen cho riêng mình.

2. Hướng dẫn học sinh viết đúng dấu hỏi, dấu ngã trong từ Hán Việt.

Trong từ vựng Tiếng Việt của chúng ta có tới 60% là từ Hán Việt, chính vì thế nếu học sinh nắm được luật viết dấu hỏi, dấu ngã trong từ Hán Việt sẽ tránh được một lượng lớn lỗi chính tả mà các em thường gặp trong khi sử dụng từ ngữ.

*Những âm đầu trong từ Hán Việt viết bằng dấu ngã:

Đối với từ Hán Việt có âm đầu là các phụ âm: M, N, NH, L, D, NG thì đều dùng dấu ngã:

Ví dụ:

M: Song mã, mã hóa, mãi lộ, mãn khóa…

N: Truy nã, long não, phụ nữ, trí não, nỗ lực…

V: Vũ trang, vũ đài, hùng vĩ, vĩ nhân, vĩ tuyến, cứu vãn, vãn hồi…

L: Lễ nghĩa, lãng mạn, lãnh đạo, lãnh tụ, nguyệt lão…

D: Diễn xướng, dã man, dã tâm, dĩ vãng , diễn thuyết, diễm phúc…

NG: Ngôn ngữ, nghĩa vụ, nhân ngãi, biền ngẫu, bản ngã…

*Những âm đầu trong từ Hán Việt viết bằng dấu hỏi.

Những âm đầu không phải là 07 âm như phần trên thì được dùng bằng dấu hỏi.

Ví dụ: Quan ải, ảnh hưởng, văn bản, bảo hiểm, cảm giác, hải cảng, đả đảo, đẳng cấp, đảm nhiệm, giải phóng, khai giảng, hải đăng, hải quân, khả ái, chung khảo, kỉ luật, thế kỉ…

3. Hướng dẫn các em âm đầu “Tr” và “Ch”

Đối với hai âm đầu này, người thầy hướng dẫn các em những mẹo nhỏ thì sau này các em ít sai sót.

* Trong từ Hán-Việt mang dấu nặng và dấu huyền đều chỉ đi với Tr mà không đi với Ch.

– Tr đi với dấu nặng: Trạm xá, hỗ trợ, triệu phú, trận mạc, trịnh trọng, trị giá, trục lợi, trụ sở, vũ trụ…

– Tr đi với dấu huyền: Phong trào, lập trường, trầm tích, trừng trị, truyền thống, từ trường, trần thế , trù bị, trùng hợp….

* Khi láy âm: Ch láy âm với các phụ âm khác ở vị trí đứng trước hoặc đứng sau, trái lại Tr không láy âm đầu với các phụ âm khác, trừ bốn trường hợp ngoại lệ đều là láy với L: Trọc lóc, trụi lũi, trót lọt, trẹt lét.

– Ch đứng ở vị trí thứ nhất: Chờn vờn, chon von, chơi vơi, chót vót, chênh vênh, chạng vạng, chơi bời, chèo bẻo, cheo leo, chìm lỉm, chi li, chói lọi, chào mào, chộn rộn, chình rình…

– Ch đứng ở vị trí thứ hai: Loắt choắt, lau chau, lanh chanh, lã chã, loạng choạng, lởm chởm, loai choai…

* Khi dùng trong trường từ vựng:

– Khi dùng những từ chỉ quan hệ trong gia đình thì viết với Ch chứ không viết với Tr: Cha, chú, chị, chồng, cháu, chắt, chút , chít…

– Khi dùng những từ chỉ đồ dùng trong gia đình được viết với Ch chứ không viết với Tr: Cái chậu, cái chum, cái chai, cái chiếu, cái chăn, cái chõng, cái chày, cái chổi, cái chuồng gà, cái chĩnh…

4. Hướng dẫn các em viết âm S và X:

* Khi kết hợp âm đệm: S không đi với các vần oa, oă, oe, uê, chỉ có X là đi với các vần này.

-Ví dụ: Xoa tay, xoay xở, cây xoan, xoắn lại, tóc xoăn, xòa tay, xoen xoét, xuề xòa, xuyên qua, quả xoài, tóc xõa…(nhưng có các trường hợp ngoại lệ như soát trong rà soát, kiểm soát…soạn trong soạn bài, soạn giáo án, soạn giả…và những trường hợp điệp âm đầu trong từ láy: suýt soát, sột soạt…)

* Khi láy âm: Chỉ có X mới láy âm với các âm đầu khác, còn S không có khả năng này.

-Ví dụ: Bờm xơm, bờm xờm, lao xao, lòa xòa, liêu xiêu, loăn xoăn, liểng xiểng, lộn xộn, lì xì…

5. Những quy tắc viết hoa

Để tránh các trường hợp các em học sinh viết hoa sai, tùy tiện theo cảm hứng. Từ đó dẫn đến những sai sót trong bài viết, bản thân chúng tôi đã tìm hiểu, tham khảo, cùng với những kinh nghiệm trải qua quá trình học tập và giảng dạy nhiều năm. Chúng tôi đã hướng dẫn học sinh các quy tắc viết hoa như sau:

– Đầu câu tiêu đề, lời nói đầu, các chương, mục, điều, kết luận … của văn bản.

– Đầu câu sau dấu chấm hỏi (?), dấu chấm than (!)…

– Đầu dòng sau dấu chấm (.), dấu chấm phẩy (;), xuống dòng …

– Đầu trong dấu hai chấm mở, đóng ngoặc kép: “….” (đoạn trích đầy đủ nguyên văn câu của tác giả, tác phẩm)….

+ Chỉ tên người: Viết hoa tất cả chữ cái đầu của các âm tiết tạo thành tên riêng như: Hồ Chí Minh, Nam Cao, Chính Hữu, Phạm Tiến Duật, Viễn Phương, Chính Hữu…

+Chỉ tên riêng của các địa danh, tổ chức kinh tế, xã hội như: Việt Nam, Hà Nội, Sài Gòn, Tập đoàn Sông Đà, Hội Khuyến học…

+Chỉ các danh hiệu cao quý như: Anh hùng Lao động; Huân chương Độc lập, Nghệ sĩ Ưu tú, Nhà giáo Nhân dân…

+Tên các ngày kỷ niệm, ngày lễ như: Kỷ niệm ngày Quốc khánh; Kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5, ngày Giải phóng miền Nam 30/4; Kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh…

+Tên các Đoàn thể Trung ương như: Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội…

Để giúp học sinh phát âm, viết đúng chính tả là một việc tương đối khó khăn nhưng vô cùng cần thiết đối với những năm tháng các em đang ngồi trên ghế nhà trường.

Trước thực trạng học sinh dùng sai nhiều lỗi chính tả như hiện nay thì chúng ta – những người thầy đang trực tiếp dạy dỗ cần quan tâm đến các em nhiều hơn để giúp các em hiểu được giá trị của Tiếng Việt, rèn luyện các em viết đúng, viết chuẩn Tiếng Việt để giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt mà cha ông ta đã để lại.

Những Biện Pháp Cực Hay Giúp Học Sinh Viết Đúng Chính Tả / 2023

Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải phát âm chuẩn, cần luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh điệu, các âm đầu, âm chính, âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm “phát âm thế nào, chữ ghi lại thế ấy”.

Việc rèn phát âm không chỉ được thực hiện trong tiết Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn… mà được thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học; trọng tâm trong phân môn chính tả, tôi thường luyện viết sau đó luyện phát âm những chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn lộn (tiếng mang vần khó, tiếng có âm, vần dễ viết sai do ảnh hưởng của phương ngữ hay thói quen).

Đối với những học sinh còn yếu về mặt phát âm, tôi thường nhắc nhở các em chú ý nghe đọc để viết cho đúng. Vì vậy, giáo viên phải cố gắng phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh viết đúng được.

Song song với việc luyện phát âm cho học sinh, khâu phân tích so sánh tiếng, từ cũng rất quan trọng trong giờ học chính tả.

Với những tiếng khó, tôi đã áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh điểm khác nhau để các em ghi nhớ.

Ví dụ: Khi viết tiếng “muống” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “muốn”, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này.

So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “muống” có âm cuối là “ng” tên của một loại rau (rau muống), tiếng “muốn” có âm cuối là “n” thường ghép sau một tiếng tạo nên từ trong câu văn có nghĩa. Ví dụ: mong muốn…, ước muốn… Giúp học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ không viết sai.

Do phương ngữ của từng vùng miền khác nhau, cách phát âm đôi khi chưa thống nhất với chữ viết nên học sinh cần nắm rõ nghĩa của từ để viết cho đúng.

Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Luyện từ và câu, Tập đọc, Tập làm văn… và cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết Chính tả, khi mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng.

Có nhiều cách để giải nghĩa từ: Có thể cho học sinh đọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ), tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh,…

Ví dụ: Phân biệt mắt và mắc

+ Giải nghĩa từ mắt: Cho học sinh quan sát hình ảnh đôi mắt (cơ quan để nhìn).

+ Giải nghĩa từ mắc: Có thể cho học sinh đặt câu với từ mắc (mắc lỗi).

Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để giải nghĩa từ.

– Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng loạt từ, giúp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu. Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê. Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:

+ Luật : Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh của 2 yếu tố ở cùng một hệ (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng). Để nhớ được 2 nhóm này, tôi đã dạy cho học sinh thuộc 2 câu thơ:

Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại).

+ Đa số các từ có âm đầu là M, N, Nh, V, L, D, Ng thì viết là dấu ngã (Mình Nên Nhớ Viết Là Dấu Ngã).

+ Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn:

Một số từ có vần chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc: Chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, lênh khênh,…

Hầu hết các từ tượng thanh thì có tận cùng là hoặc loảng xoảng, leng keng, thình thịch,…

*Biện pháp 5: Giúp học sinh viết đúng chính tả qua các bài tập .

Khi tổ chức các hoạt động thực hành luyện tập, tôi lựa chọn hình thức luyện tập phù hợp với từng đối tượng học sinh và phù hợp với từng nội dung bài tập nhằm tạo hứng thú, phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học.

Ngoài ra có thể đưa thêm các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, tôi đã rút ra các quy tắc chính tả để các em ghi nhớ.

lũ lục b. lũ lụt

dang sơn d. giang sơn

xích lô g. sích lô

Khoan khoang tàu

buồn bả buồn bã

giảng bài dảng bài

A B

đổ tay

đỗ xanh

vẫy rác

vẩy cá

*Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau:

. Tiếng cô dáo giản bài trang ngiêm mà ấm áp.

. Nhà không có chó, bé đành chơi với Cún Bông, con chó của bát hàng sóm.

Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi ý từ đồng âm, từ trái nghĩa.

*Tìm các tiếng chứa tiếng bắt đầu bằng iên hoặc iêng có nghĩa như sau:

– Bộ phận trên mặt người dùng để nói, ăn uống:

– Thức ăn bằng tinh bột, chế biến bằng sợi dài:

*Tìm các tiếng có thanh hỏi hoặc thanh ngã có nghĩa như sau:

– Trái nghĩa với khó:

– Chỉ bộ phận cơ thể ở ngay dưới đầu:

– Chỉ bộ phận cơ thể dùng để ngửi:

*Chọn chữ trong ngoặc đơn để điền vào chỗ trống:

(ước/ ướt): mong ….. ; khăn……

(nổi/ nỗi): ……buồn ; …… tiếng.

* Điền tiếng có vần iêt hoặc iêc vào chỗ trống rồi giải câu đố sau:

Mùa gì cây lá….. xanh

Trăm hoa đua nở…….thành bài thơ.

* Điền tiếng có vần uôc hoặc uôt vào chỗ trống rồi giải câu đố sau:

Có sắc- để uống hoặc tiêm

Thay sắc bằng nặng- là em nhớ bài.

*Biện pháp 6: Giúp học sinh viết đúng chính tả khi chữa bài:

Sau khi học sinh viết xong bài chính tả, tôi thường cho học sinh tự chữa lỗi của mình qua bài mẫu trên bảng cụ thể và hướng dẫn kĩ để học sinh dễ nhớ.Vị trí chỗ ngồi thường 2 em trong một bàn (em khá kèm em yếu) nên tôi thường hướng dẫn sửa lỗi chính tả theo nhóm đôi. Mỗi nhóm do một em khá, giỏi phụ trách dưới sự gợi ý của giáo viên, nhóm trưởng hướng dẫn bạn trong nhóm phát hiện ra lỗi chính tả trong các bài viết của bạn, cùng bàn bạc thống nhất cách chữa lỗi đó.Qua cách chữa lỗi nhóm đôi, tôi thấy có hiệu quả hơn so với cách chữa lỗi truyền thống ( học sinh đổi vở lẫn nhau, sau đó chữa lỗi vở bạn. Biện pháp này chỉ hiệu quả đối với học sinh khá giỏi, còn học sinh yếu chưa phát hiện lỗi sai mặc dù nhìn bài mẫu của giáo viên để chữa lỗi.)

Đối với những học sinh mắc nhiều lỗi do ảnh hưởng của tiếng địa phương hoặc thói quen, giáo viên cần chữa bài cho các em đó, chỉ ra từng lỗi sai và cho các em viết lại các từ đã sửa trong vở luyện chữ (vở luyện chữ đem theo từng buổi học) vì buổi học chính khoá học sinh viết trong vở Thực hành chính tả. Nếu các em sai trên 5 lỗi thì cho chép lại toàn bài.

Qua mỗi bài tập, giáo viên tổng kết ý kiến và chốt lại nội dung kiến thức cần ghi nhớ và kĩ năng cần rèn luyện. Quá trình chữa lỗi sai trong vở bài tập Luyện từ và câu và nhất là phân môn Tập làm văn, giáo viên cần chú ý hơn vì nếu các em viết văn sai âm, vần, thanh thì nghĩa sẽ khác đi, bài văn đó sẽ không hoàn hảo và người đọc sẽ không hiểu ý bài văn viết gì.

* Biện pháp 7: Khắc phục lỗi chính tả do đặc điểm tâm sinh lí học sinh.

Cuối tiết chính tả, tôi thường tổ chức trò chơi “Em yêu Tiếng Việt” học sinh rất hứng thú, hồ hởi khi tham gia trò chơi, cụ thể các bài tập sau:

Khoanh tròn vào chữ cái trước từ ngữ viết đúng chính tả:

a – mạnh mé b – mạnh mẽ c – xôn sao

d – lười biến đ – lười biếng e – ngôi sao

hoa mai hao mai

chủ nhật giất ngủ

Qua mỗi bài tập, giáo viên tổng kết ý kiến và chốt lại nội dung kiến thức cần ghi nhớ và kĩ năng cần rèn luyện, đồng thời tạo hứng thú cho các em say mê trong mỗi giờ học chính tả.

Tóm lại việc kết hợp luyện tập chính tả với việc rèn luyện cách phát âm, củng cố nghĩa của từ, trau dồi về ngữ pháp Tiếng Việt, góp phần phát triển một số thao thác tư duy như: Nhận xét, so sánh, liên tưởng, ghi nhớ,…của học sinh.

Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Học Sinh Viết Đúng Chính Tả, Đúng Quy Tắc, Đúng Âm / 2023

Như tôi đã trình bày ở trên, bên cạnh những em đọc chuẩn, viết đúng theo nghĩa của từ, tiếng còn có một số em viết sai vì phương ngữ, nhất là địa bàn vùng ven Đà Nẵng. Tại địa bàn này, học sinh thường sai, cụ thể như sau:

Những tỉếng có nguyên âm i/iê: kim/kiêm; chim/chiêm.

Những tiếng có âm cuối:

– i/y: hay/hai; tay/tai.

– n/ng: uốn/uống; nắn(nắn nót)/nắng(trời nắng);trườn/trường.

– c/t: mặt/mặc;chiếc/chiết; tiết/tiếc.

Những từ có thanh điệu hỏi, ngã: sẻ/sẽ; rủ/rũ;

Còn học sinh ở nơi khác chuyển đến, đa số các em từ miền Bắc và Bắc Trung Bộ nên các em thường sai, cụ thể:

– Âm đầu l/n: long/năm; là/nà

– Âm đầu ch/tr: chuyện/truyện; châu/trâu; che/tre

– Âm đầu s/x: sương/xương; song/xong; sa/xa

– Thanh hỏi, thanh ngã, thanh nặng: rả/rã/rạ.

A PHẦN MỞ ĐẦU I. Lí do chọn đề tài: Trong một văn bản, dù ngắn hay dài để người đọc dể hiểu, hiểu đúng ý, đúng nghĩa của câu thì điều cần nhất là gì ? Nhất là ở thời đại thông tin này, tất cả các văn bản được in, được trình bày cân đối, rõ, đẹp. Nhưng hãy tưỏng tượng xem, nếu như trong văn bản đó, một từ, một ngữ nào in sai chính tả ( dù là một con chữ, một vần, một thanh...) thì điều gì sẽ xảy ra? Nhất định người đọc sẽ không hiểu ý nội dung mà văn bản muốn diễn đạt. Và muốn hiểu ý diễn đạt của văn bản, người đọc phải đọc lại dòng trên, phải suy ngẫm...Nói chung việc này vừa mất thời gian, lại vừa không có thẩm mĩ. Vì vậy, ta có thể nói, việc dạy chính tả trong nhà trường, nhất là ở bậc Tiểu học, có vị trí vô cùng quan trọng. Phân môn này giúp học sinh hình thành năng lực thói quen viết đúng Tiếng Việt văn hoá, Tiếng Việt chuẩn mực. Chính tả là phân môn có tính chất công cụ. Nó cung cấp cho trẻ em những quy tắc sử dụng hệ thống chữ viết, làm cho trẻ em nắm những quy tắc đó và hình thành kĩ năng viết( và đọc, hiểu chữ viết) thông thạo Tiếng Việt. Phân môn chính tả còn có nhiệm vụ giải quyết vấn đề dạy cho trẻ em biết chữ để học tiếng, dùng chữ để học các môn học khác và để sử dụng trong giao tiếp. Nên có thể nói chính tả là môn học có tính chất thực hành. Bởi lẽ để hình thành kỹ năng, kỹ xảo chính tả cho học sinh phải cho các em thông qua việc thực hành luyện tập. Do đó, trong phân môn này, các quy tắc, các quy tắc chính tả, các đơn vị kiến thức mang tính chất lí thuyết không được bố trí trong tiết dạy riêng mà dạy lồng trong hệ thống bài tập chính tả. Về cơ bản, chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm, nghĩa là mỗi âm vị được ghi bằng một con chữ. Hay nói cách khác, giữa cách đọc và cách viết phải thống nhất với nhau. Đọc như thế nào phải viết như thế ấy. Nhưng giữa đọc và viết có quy trình hoạt động trái ngược nhau dù chúng có quan hệ mật thiết với nhau. Nếu tập đọc là sự chuyển hoá văn bản viết thành âm thanh thì chính tả lại là sự chuyển hoá dưới dạng âm thanh thành văn bản viết. Như trên đã nói, giữa cách đọc và cách viết phải thống nhất với nhau là nguyên tắc chung. Nhưng trong thực tế mối quan hệ giữa đọc và viết khá phong phú, đa dạng. Cụ thể, chính tả Tiếng Việt không dựa hoàn toàn vào cách phát âm thực tế của một phương ngữ nhất định nào vì cách phát âm thực tế của một phương ngữ đều có những sai lệch so với chính âm, nên không thể thực hiện phương châm " Nói thế nào viết như thế đó" nhất là học sinh ở Đà Nẵng nói chung và nói riêng là ở địa phương nơi tôi đang công tác. Vì thế tôi đã chọn đề tài " Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3/3 viết đúng chính tả" để rèn học sinh viết đúng từng chữ, từng từ, từng câu không nhất thiết là học sinh yếu. II. Đối tượng nghiên cứu : Việc rèn kĩ năng học sinh viết đúng chính tả, đúng quy tắc, đúng âm, thanh, vần...tôi sẽ thực hiện ở lớp 3/3 trong năm học 2008-2009 này với các biện pháp đề ra III. Nhiệm vụ của đề tài: Với các biện pháp đề ra để hướng dẫn học sinh đọc đúng, viết đúng nhất là những em yếu hoặc những em nói sai về phương ngữ và như trên đã trình bày: "Không nhất thiết là học sinh yếu". Các em phải nắm được cơ bản hệ thống qui tắc chuẩn, thống nhất chính tả trong Tiếng Việt quy tắc liên kết khi viết các chữ, quy tắc nhận biết và thể hiện chức năng của chữ viết... Cùng với các phân môn khác của Tiếng Việt như: Tập viết, Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn...Chính Tả cũng góp phần bồi dưỡng những tình cảm và phẩm chất tốt đẹp qua sử dụng ngôn ngữ: Tính khoa học, tính chính xác, tính thẩm mĩ... Từ đó các em dễ áp dụng vào thực tế như viết(đọc) đúng các yêu cầu đề, đặt câu trong tiết luyện từ và câu, đặc biệt là bài làm(nói và viết) trong bài tập làm văn... IV. Vai trò của giáo viên Tiểu học: Chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm học nhưng thực tế cho thấy, muốn viết đúng chính tả thì việc nắm nghĩa từ rất quan trọng " vì hiểu nghĩa từ" là một trong những cơ sở giúp người học viết đúng chính tả. Qua nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy, trong thực tế sự lĩnh hội kiến thức của các em hoàn toàn không giống nhau. Hơn nữa cách phát âm từng vùng, phương ngữ chính đều còn có những chỗ chưa chuẩn xác mà sai lệch. Như ở địa bàn Hoà Hiệp Bắc, ngoài học sinh địa phương(Thuỷ Tú, Kim Liên...) còn có học sinh từ nơi khác chuyển đến do hoàn cảnh phải theo bố mẹ chuyển công tác từ nơi khác đến nơi này làm việc. Vì thế cho nên trong một lớp học, trong giờ học một số em rất lúng túng do chưa phân biệt rõ âm đầu, vần, hoặc thanh điệu khi nghe giáo viên nói hoặc đọc chính tả. Nên muốn các em viết đúng không riêng giáo viên văn hoá mà các giáo viên bộ môn cũng phải tham gia trong việc rèn cho các em nói đúng, nghe đúng, đọc đúng, viết đúng, đúng theo nghĩa của từ viết trong văn bản, trong văn cảnh...do đó trước khi dạy chính tả giáo viên cần nắm rõ lỗi chính tả phổ biến của học sinh để lựa chọn nội dung thích hợp. B. PHẦN NỘI DUNG I. Thực trạng viết chính tả của học sinh: Như tôi đã trình bày ở trên, bên cạnh những em đọc chuẩn, viết đúng theo nghĩa của từ, tiếng còn có một số em viết sai vì phương ngữ, nhất là địa bàn vùng ven Đà Nẵng. Tại địa bàn này, học sinh thường sai, cụ thể như sau: Những tỉếng có nguyên âm i/iê: kim/kiêm; chim/chiêm... Những tiếng có âm cuối: - i/y: hay/hai; tay/tai... - n/ng: uốn/uống; nắn(nắn nót)/nắng(trời nắng);trườn/trường... - c/t: mặt/mặc;chiếc/chiết; tiết/tiếc... Những từ có thanh điệu hỏi, ngã: sẻ/sẽ; rủ/rũ; Còn học sinh ở nơi khác chuyển đến, đa số các em từ miền Bắc và Bắc Trung Bộ nên các em thường sai, cụ thể: - Âm đầu l/n: long/năm; là/nà - Âm đầu ch/tr: chuyện/truyện; châu/trâu; che/tre - Âm đầu s/x: sương/xương; song/xong; sa/xa - Thanh hỏi, thanh ngã, thanh nặng: rả/rã/rạ... Còn phải kể đến những học sinh khuyết tật hoà nhập, nói lắp, nói ngọng và cả những em tiếp thu bài chậm...những em này một phần bị ảnh hưởng tâm lí, một phần có thể gia đình chưa quan tâm đúng mức nên việc rèn đọc, rèn viết thật khó. Vì vậy thời gian dành cho các em phải kiên trì, phải xuyên suốt trong từng tiết học và thực hiện cả năm học. Năm nay, tôi được Ban Giám Hiệu phân công chủ nhiệm lớp 3/3. Sĩ số 32 học sinh(có 14 nữ). Lớp có những mặt ưu sau: - Ngày từ đầu năm các em đủ đồ dùng học tập - Các em biết đọc biết viết - Đa số phụ huynh quan tâm đến việc học của con em mình Tồn tại: - Đa số học sinh là dân địa phương nên dễ viết sai chính tả vì phương ngữ. Ngay đầu năm, qua một tuần thực dạy và khảo sát chất lượng tôi đã chú ý đến các em và lập danh sách để phụ đạo như sau: - Huỳnh Thị Phượng yếu Toán và Tiếng Việt - Đặng Thị Như Mỹ yếu Toán và Tiếng Việt - Đinh Văn Lực đọc chậm viết sai nhiều lỗi chính tả - Lý Minh Tuấn phát âm sai(ngọng) - Trần Phước Thiện (khuyết tật học hoà nhập) Khi chấm bài trong các tiết chính tả, tôi đã chú ý, điều tra cơ bản để nắm rõ lỗi chính tả phổ biến của học sinh. Nhất là bài viết của các em thường mắc nhiều lỗi(dù mỗi em sai mỗi lỗi khác nhau) cũng như cách đọc của các em, có những từ ngữ mà các em phát âm sai không giống nhau. II. Các biện pháp rèn học sinh viết đúng chính tả: Như trên đã trình bày, chính tả Tiếng Việt là loại chính tả ngữ nghĩa. Đây là một đặc trưng quan trọng về phương diện ngôn ngữ của chính tả Tiếng Việt. Nên trong tiết dạy mỗi giáo viên cần linh hoạt để giúp học sinh nhanh chóng làm quen với hình thức của các câu chữ vì học sinh Tiểu học có khả năng ghi nhớ máy móc rất tốt. Nắm được tâm lí nầy, tôi đã vận dụng nhiều nguyên tắc, nhiều phương pháp, nhiều hình thức trong giờ dạy. Biết được em nào thường viết sai chính tả, lỗi sai thường gặp là gì, tôi chú ý chọn lựa, sử dụng để xây dựng các quy tắc chính tả giúp học sinh ghi nhớ cách viết một cách khái quát, một cách có hệ thống. Với những em viết sai các âm cuối, trong các tiết dạy tôi chú ý giúp các em hiểu nghĩa từ và nhận xét cách viết của từ, để từ đó giúp các em nhớ và viết đúng. Ví dụ: mặc và mặt: - mặc(âm cuối c):được viết trong các từ mặc áo quần, mặc cả... - mặt(âm cuối t) :được viết trong các từ mạt trời, mặt trăng, khuôn mặt,,, Những em thường sai khi viết các chữ ghép với âm ng/ ngh tôi giúp các em nhớ bằng cách luôn cho các em nhớ: - ng ghép với các âm: a, ă ,â,o, ô,ơ u, ư - ngh ghép với các âm: e,ê, i Với những em nói ngọng(như em Lý Minh Tuấn) thường sai âm đầu th(thành âm kh: VD: chiến thắng em phát âm thành chiến khắng). Giờ tập đọc( phần luyện đọc tôi luôn gọi em đọc và hướng dẫn em đọc đúng các tiếng, các từ có âm đầu "th". Và trong giờ viết chính tả tôi yêu cầu em tìm và viết bảng con các từ, tiếng em dễ viết sai đó. Còn một số em từ nơi khác chuyển đến như em Hoàng Long và em Tươi( là học sinh từ miền Bắc chuyển vô),các em hay sai âm đầu l và n.Đây là những em tiếp thu bài nhanh nên dù chưa phát âm đúng( VD: miền Nam=miền lam; cái lá=cái ná...) nhưng trong bài chính tả các em viết ít sai (có thể nói là không sai) lỗi nào. Riêng em Thiện là học sinh khuyệt tật hoà nhập nên việc viết sai chính tả không phải là điều lạ. Em tiếp thu bài chậm nhưng việc học thì lại tuỳ hứng và thích dỗ dành. Nên với em, tôi thường nhỏ nhẹ để hướng dẫn em viết từ em thường viết sai trên bảng, sau đó hướng dẫn em đọc đúng. Những từ khó, thì cho em đánh vần. Tuy nhiên, vẫn còn chờ kết quả cuối kỳ I và cuối năm. III. Biện pháp thực hiện: Để thực hiện tốt việc giúp học sinh viết đúng chính tả, tôi đã soạn ra các biện pháp sau để áp dụng trong các tiết dạy. 1. Lập đôi bạn cùng tiến: Đầu năm, sau một tuần thực dạy, tôi đã sắp xếp chỗ cho các em theo "đôi bạn cùng tiến"". Một em giỏi(khá) ngồi với em học yếu, thuận lợi hơn các em trong nhóm ở gần nhà nhau để các em dễ dàng giúp nhau trong học tập. 2. Chuẩn bị bài ở nhà: Trong một tuần có hai tiết chính tả - thứ ba và thứ sáu . Ở lớp ba có hai loại bài chính tả : Chính tả nghe đọc và Chính tả nhớ viết(Loại bài Chính tả tập chép chỉ có vài tiết ở đầu năm học), ở loại bài chính tả nào, tôi cũng cho các em về nhà đọc lại bài viết tiết trước rồi đọc bài viết tiết sau ba hoặc bốn lần. Để chuẩn bị bài tiết sau, các em tập viết các từ khó hoặc các em viết cả bài viết vào vở nháp hay viết vào vở luyện viết ở nhà. Lên lớp trong sinh hoạt 15 phút đầu giờ, lớp phó học tập sẽ kiểm tra và báo cáo giáo viên chủ nhiệm . 3. Trong giờ tập đọc: 4. Tiết chính tả: Tiết học này, tôi chú ý nội dung bài dạy với tình hình thực tế mắc lỗi của học sinh. Tôi sử dụng phương pháp "Nhớ từng chữ một". Ở lớp ba, các em đã học cơ bản về cách viết tên riêng nước ngoài và các vần khó như: ui/uôi ; iêc/ iêt ; ong/ ông...( và các từ học sinh dễ viết sai vì phương ngữ) Với tên riêng nước ngoài (thường là các phiên âm), tôi hướng dẫn cho các em cách đọc và cách viết hoa( Vì tên riêng nước ngoài có nhiều tiếng, mỗi tiếng lại có nhiều bộ phận như: Mat-xcơ-va, En-ri-cô...và giữa các bộ phận có gạch nối). Để các em đọc đúng, viết đúng, tôi đã gọi các em yếu đọc nhiều lần để hướng dẫn các em nhận biết, sửa chữa và đọc đúng hơn sau đó cho các em viết vào bảng con-viết và đọc lại. Trong quá trình hướng dẫn tôi hoặc gọi học sinh nhắc lại cách viết hoa tên nước ngoài khác với tên Việt Nam. Còn các vần khác, những vần các em dễ sai và sai nhiều do phương ngũ ngoài hình thức viết bằng bảng con tôi còn rèn các em viết đúng bằng trò chơi. 5.Vận dụng trong trò chơi: Đa số các bài tập chính tả thường được vận dụng trong trò chơi, dù có nhiều dạng bài tập như: Tìm từ qua gợi ý; điền âm hoặc vần vào chỗ trống; tìm tiếng với các vần, âm cho sẵn...Ở mỗi dạng bài tập tôi thường tổ chức cho các em chơi trò chơi khác nhau như: "Tìm nhanh tìm đúng; Bắt vần; Đố chữ... Với phương pháp trò chơi này sẽ gây cho các em sự hứng thú, tính nhanh nhẹn và qua hoạt động trò chơi kiến thức kỹ năng viết đúng chính tả của các em sẽ được góp phần củng cố. 6. Phần dặn dò: Trong một tuần có hai tiết chính tả vào thứ ba và thứ sáu. Chương trình lớp ba có ba loại bài chính tả( Chính tả tập chép, Chính tả nghe viết và Chính tả nhớ viết). Loại bài Chính tả tập chép chỉ có hai đến ba tiết ở đầu năm để các em làm quen. Còn CT nhớ viết cũng có nhưng chủ yếu chính vẫn là loại bài CT nghe viết nhiều nhất trong cả năm học. Với những em yếu viết sai nhìêu lỗi chính tả tôi dặn các em ở nhà phải đọc bài tiết trướcvà bài viết tiết sau và viết bài viết đó vào vở ở nhà vừa kết hợp giúp các em rèn chữ viết, vì thường những em học yếu thường viết chữ cẩu thả. Ngày hôm sau, tôi hoặc lóp phó học tập kiểm tra và hỏi để biết các em thấy khó viết từ nào để hướng dẫn các em viết đúng hơn, riêng loại bài CT nhớ viết thì yêu cầu học sinh tái hiện lại hình thức chữ viết của một văn bản đã được học thuộc. Tuy trong giờ tập đọc, các em đã được luyện học thuộc bài nhưng trước khi viết chính tả, tôi cũng cho học sinh đọc lại văn bản hai, ba lượt để tạo tâm thế viết bài và có cơ sở tái hiện lại văn bản. Tôi cũng không quên lưu ý các em đọc và tập viết đúng các từ khó, các từ mà các em thường viết sai. 7. Trao đổi cùng phụ huynh: IV. Kết quả đạt được : Với sự nhiệt tình trong công tác giảng dạy, với sự mong mỏi các em mau có tiến bộ cùng với các kế hoạch và các biện pháp đã đề ra để thực hiện, tôi thấy các bài viết chính tả của các em dần có tiến bộ dù chưa nhiều. Đến cuối kỳ I, em Lực đã viết khá hơn, những từ sai vì " nói thế nào viết như thế ấy do phương ngữ" em đã nhận ra (VD: các từ có âm cuối như i-y, các từ có vần mà âm cuối là c-t, n-ng, các từ có âm giữa và nguyên âm đôi i-iê...). Còn em Tuấn, dù phát âm vẫn còn ngọng nhưng em đã khắc phục được trong bài viết, bài viết ít lỗi hơn, những từ sai của em chỉ là những từ khó. Và em Thiện( HSKTHN) bài viết chưa phải hoàn toàn như mong muốn nhưng tôi tin em sẽ tiến bộ vì em rất thích được điểm cao và thích được khen trước lớp. Nói chung, việc rèn viết chính tả ở lớp tôi như vậy là đạt kết quả tuy chưa mỹ mãn nhưng tôi sẽ cố gắng tiếp tục rèn thêm cho các em trong suốt kỳ II để các em đạt kết quả cao hơn, vì đây là việc làm không phải một ngày, một tháng mà là thời gian dài, có thế suốt trong thời gian các em ngồi dưới mái trường Tiểu học. C. PHẦN KẾT LUẬN Trước kết quả đạt được ở lớp tôi đang chủ nhiệm trong năm học 2008-2009, tôi nghĩ tôi sẽ áp dụng trong những năm học tới và tôi sẽ càng cố gắng nhiều hơn để kinh nghiệm nhỏ này thêm đầy đủ, hoàn thiện, để có thêm những biện pháp mới thực hiện áp dụng, hướng đẫn giúp các em nhớ và nắm kỹ, nắm đúng cách viết chính tả(các quy tắc chính tả), để bài viết của các em cũng như cách diễn đạt của các em trong giao tiếp đúng hơn, làm cho người nghe và người đọc hiểu ý các em diễn đạt hơn. Vậy tôi rất mong nhận được sự hỗ trợ chân thành từ Ban giám hiệu, từ các bạn đồng nghiệp để đề tài này được hay hơn, trọn vẹn hơn, phong phú hơn. Tôi xin ghi nhận và chân thành cảm ơn.

Một Số Biện Pháp Rèn Kỹ Năng Viết Đúng Chính Tả Cho Học Sinh Lớp 1 / 2023

Các phương pháp rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 1

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 1

Một số biện pháp rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 1 bao gồm các ví dụ minh họa chi tiết giúp cho các thầy cô nắm được các phương pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 1 đúng chuẩn. Mời các thầy cô cùng tham khảo.

Rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 1

1. Luyện phát âm:

Muốn học sinh viết đúng chính tả, tôi phải chú ý luyện phát âm cho học sinh, giúp các em phân biệt các âm đầu, âm chính, âm cuối qua giọng đọc mẫu của giáo viên.

Việc rèn phát âm được thực hiện thường xuyên trong các tiết Tập đọc và một số môn học khác.

2. Luyện tập về phân tích, so sánh:

Trong các giờ chính tả tập chép hay nghe viết, tôi thường xuyên hướng dẫn các em phân tích về cấu tạo tiếng rồi so sánh những tiếng dễ lẫn lộn, luyện viết bảng con trước khi viết vào vở.

Vd: Khi viết tiếng “muống”, học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “muốn”, tôi yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo 2 tiếng này đồng thời giải nghĩa từ:

– Muống = M + uông + thanh sắc (rau muống)

– Muốn = M + uôn + thanh sắc (ước muốn)

So sánh thấy được sự khác nhau đó để học sinh ghi nhớ, khi viết các em sẽ không bị viết sai.

3. Giúp học sinh khắc phục lỗi chính tả bằng cách hướng dẫn các em nắm nghĩa của từ phối hợp với việc so sánh, phân tích chính tả, tôi sử dụng đồ dùng dạy học, những hình ảnh và giáo cụ trực quan để giúp học sinh quan sát và phân biệt từ khó dựa vào việc sử dụng thiết bị dạy học vừa nêu hoặc hướng dẫn học sinh hiểu nghĩa từ bằng cách cho học sinh đặt câu, đọc chú giải.

Vd:

* ch/tr

Chân: bộ phận nâng đỡ cơ thể người hoặc vật

Trân: ngó trân trân hoặc trân trọng

* s/x Sen: hoa sen, vòi sen

Xen: xen lẫn, xen kẽ

4. Rèn luyện trí nhớ cho học sinh để có kĩ năng viết đúng chính tả bằng cách hướng dẫn cho các em đọc – viết vào các buổi thứ hai trong tuần, giúp các em có kĩ năng phân biệt về thanh, về phụ âm đầu, phụ âm cuối qua các bài tập chính tả để giúp học sinh vận dụng các kiến thức đã học.

Vd:

* Bài tập phân biệt r/d/gi

Hãy điền r/d/gi thích hợp vào chỗ trống:

…ỗ dành, …ỗ chạp, mặt …ỗ

…ữ gìn, cặp …a, ..a vào

* Bài tập phân biệt các phụ âm cuối c/t, n/ng, …

Đây là lỗi mà học sinh miền Trung của chúng ta hay mắc phải do ảnh hưởng của phương ngữ.

Để giúp học sinh viết đúng các tiếng có phụ âm cuối c/t hoặc n/ng ta phải khảo sát, thống kê lỗi chính tả mà học sinh mắc phải (vd: tấc cả, gậc đầu,…). Trên cơ sở đó soạn cho học sinh 1 hệ thống bài tập chính tả “so sánh”

– viết phân biệt c/t

– viết phân biệt n/ng

Sau đó tổ chức cho học sinh thực hành luyện tập

Vd:

Điền c hoặc t: lượ.. bỏ, lần lượ…, biến mấ…, ướ mơ.

Điền n hoặc ng: ngâ… nga, yên lặ…

5. Rèn chính tả thông qua trò chơi:

Với biện pháp này nhằm giúp học sinh ghi nhớ các âm khi đọc giống nhau nhưng viết thì khác nhau.

Vd: Trò chơi thi viết từ ngữ gồm các tiếng có âm “ngờ” hoặc “gờ”

6. Giúp học snh ghi nhớ về mẹo luật khi viết chính tả:

Hướng dẫn học sinh ghi nhớ các quy tắc chính tả bằng hệ thống bài tập giúp các em nắm quy tắc khi viết âm: g/gh; ng/ngh; c/k.

Vd:

1/ Giúp học sinh ghi nhớ quy tắc chính tả sau:

* Các âm đầu: k, gh, ngh đúng trước các nguyên âm i,e, ê, iê,…

* Các âm đầu: c, g, gh đứng trước các nguyên âm o, ô, ơ, a, ă, â, u, ư,…

Bài tập điền vào chỗ chấm:

“c” hay “k” : …éo co, cổ …ính, …iên nhẫn, tổ …iến.

“g” hay “gh” : …ồ ghề, ..e thuyền, …i nhớ, chán …ét.

“ng” hay “ngh”: ngốc …ếch, ngạo …ễ, …iêng …ã

2/ Hoặc để phân biệt âm đầu ch/tr: Tôi cho các em quan sát một số hình ảnh chỉ tên đồ vật, tên con vật bắt đầu bằng âm chVd: – chổi, chảo, chén, chiếu, chum,…

– chó, chuồn chuồn, châu chấu, chim sẻ, chim sâu, …

3/ Hoặc đối với phụ âm đầu s/x: Tôi cho các em thi tìm tên chỉ cây cối hoặc tên con vật đều bắt đầu bằng âm “s”

Vd:

– sả, sầu đâu, sầu riêng, sắn, sứ, si,…

– sò, sóc, sứa, sáo, sói, sư tử, sên,…

4/ Để phân biệt dấu thanh hỏi, ngã: Tôi sủ dụng một số bài tập trắc nghiệm hoặc điền từ vào chỗ trống để luyện cho học sinh.

Vd:

a) Khoanh tròn vào những chữ cái trước những từ viết đúng:

a. sữa tươi d. thi đỗ

b. sửa sai e. nghiêng ngã

c. ngả ba g. mãi miết

Với dạng bài tập này, tôi thường đưa ra câu trả lời đúng nhiều hơn sai để giúp các em vận dụng kiến thức khi sử dụng dấu thanh.

b) Chọn từ thích hợp trong ngoặc để điền vào chỗ trống:

– (đổ, đỗ): thi … , … rác

– (giả, giã): … vờ (đò), … gạo

Hoặc để nâng cao hơn về kĩ năng viết chính tả cho học sinh tôi đưa thêm dạng bài tập khó hơn bằng các câu đố, câu tục ngữ hay các bài thơ để giúp các em phát hiện được âm, vần hoặc thanh cần điền đúng vào yêu cầu của bài tập.

Vd:

* Em chọn ch/tr để điền vào chỗ trống rồi giải câu đố sau:

Mặt …òn, mặt lại đỏ gay

Ai nhìn cũng phải nhíu mày vì sao

Suốt ngày lơ lửng …ên cao

Đêm về đi ngủ, chúng tôi vào nơi đâu?

(là gì?)

* Em chọn dấu hỏi hay dấu ngã để đặt trên những chữ in đậm sau:

– Kiến cánh vỡ tô bay ra

Bao táp mưa sa gần tới.

– Muốn cho lúa nay bông to

Cày sâu, bừa ki, phân gio cho nhiều.

7. Tích hợp việc dạy Chính tả trong các môn học khác:

Giúp học sinh viết đúng câu lời giải trong khi giải toán có lời văn bằng cách nhắc nhở, sửa lỗi sai khi chấm bài. Chỉnh sửa học sinh phát âm đúng khi trả lời miệng bài toán giải, câu hỏi bài trong khi học các môn: Tự nhiên và xã hội, Đạo đức,…

Bạn đang đọc nội dung bài viết Các Biện Pháp Giúp Học Sinh Viết Đúng Chính Tả / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!