Đề Xuất 11/2022 # Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học / 2023 # Top 18 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ là sử dụng biện pháp ẩn dụ, so sánh, nói quá, chơi chữ,…Trong một câu, một đoạn văn hay một bài thơ để tạo ra một hiệu quả nhất định. Làm cho câu văn trở nên hay hơn sinh động hơn và ấn tượng, biểu cảm, hấp dẫn hơn với người đọc người nghe.

1. Biện pháp tu từ so sánh

Biện pháp tu từ so sánh là sử dụng biện pháp so sánh, đối chiếu sự vật này với sự vật kia có nét tương đồng với nhau.

Cấu trúc của dạng so sánh mà chúng ta thường gặp: …là…; …như…; chúng tôi nhiêu……bấy nhiêu.

Biện pháp tu từ so sánh có tác dụng làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu văn, lời nói. Nếu một bài văn, câu văn có chứa biện pháp tu từ bạn sẽ thấy nó sinh động, hấp dẫn bạn đọc hơn.

Một số ví dụ biện pháp tu từ: Cấu trúc A như B:

Ví dụ 1: “Trẻ em như búp trên cành” – Trích câu nói của Bác Hồ

Ví dụ 2: “Công cha như núi Thái Sơn.

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” – Trích ca dao

Ví dụ 3: Trích tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên

“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

Cấu trúc A là B:

Ví dụ 1: Nhà là nơi bình yên nhất, hay nhà là nơi để về

Ví dụ 2: ” Quê hương là chùm khế ngọt” – Quê Hương ( Trung Đỗ Quân)

Cấu trúc bao nhiêu..Bấy nhiêu:

Ví dụ 1:

“Qua đình ngả nón trông đình

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu” – Trích Ca dao

Ví dụ 2: “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang,

Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu” – Trích Ca dao

Ví dụ 3:

“Ngó lên nuộc lạt mái nhà Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” – Trích Ca dao

Trong pháp tu từ so sánh sẽ có các kiểu so sánh: Ngang bằng, không ngang bằng; theo đối tượng: so sánh theo đối tượng cùng loại, So sánh khác loại,; so sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại.

Ví dụ: Trích Sáng tháng năm – Tố Hữu

“Người là cha, là bác, là anh

Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ” – Sử dụng so sánh ngang bằng.

” Cô giáo em hiền như cô Tấm”- So sánh đối tượng cùng loại,…

2. Biện pháp tu từ nhân hóa

Biện pháp tu từ nhân hóa là biện pháp sử dụng từ ngữ để chỉ hoạt động, suy nghĩ, tên gọi, tính cách,..vv. vốn chỉ để miêu ta con người lại sử dụng để miêu tả đồ vật, con vật, sự vật, cây cối làm cho câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên sinh động, hấp dẫn, có hồn và thu hút bạn đọc hơn.

Cách nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa là: Gọi sự vật, hiện tượng, cây cối , con vật,..bằng tên người như ông mặt trời, chị ong,..

Một số ví dụ về biện pháp tu từ nhân hóa:

Dùng vốn từ để chỉ sự vật: Bác cối xay gió, Chị hoa mặt trời, chị gió, chị ong nâu nâu, Bác xe điện,..

Sử dụng các hoạt đống, tính chất của con người để chỉ sự vật:

Ví dụ:

” Heo hút cồn mây súng ngửi trời”- Trích bài thơ “Tây tiến” – Quang Dũng’

“Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ” – Sang Thu -Hữu Thỉnh

“Sông Đuống trôi đi

Một dòng lấp lánh

Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì” – Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm

Vốn dĩ con người chỉ nói chuyện được với con người, nhưng thông qua biện pháp nhân hóa con người nói chuyện với con vật, đồ vật,..

Ví dụ:

“Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta” – Trích Ca dao

3. Biện pháp tu từ ẩn dụ

Biện pháp tu từ ẩn dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ tương đồng. Sử dụng biện pháp ẩn dụ làm cho bài văn, câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên hấp dẫn, gợi hình gợi cảm hơn cho người đọc.

Có nhiều kiểu ẩn dụ khác nhau: Ẩn dụ hình thức, cách thức , phẩm chất, chuyển đổi cảm giác.

Các kiểu biện pháp và lấy ví dụ:

Ẩn dụ hình thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng về hình thức

Ví dụ:

” Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”- Truyện Kiều – Nguyễn Du

” Về thăm nhà Bác làng sen Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác

“Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” – Truyện Kiều – Nguyễn Du

Ẩn dụ cách thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng cách thức

Ví dụ:

“Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh

” Về thăm nhà Bác làng sen Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác. Đây là đoạn trích vừa có ẩn dụ hình thức và ẩn dụ cách thức.

” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

” Không thầy đó mày làm nên”

Ẩn dụ phẩm chất: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng phẩm chất

Ví dụ:

“Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” – Viếng Lăng Bác – Viễn Phương

” Người cha mái tóc bạc

Đốt lửa cho anh nằm” – Đêm nay Bác không ngủ – Nguyễn Huệ

“Thuyền về có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” – Ca dao

Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác : Đây là ẩn dụ cho người đọc có sự chuyển đổi cảm giá; chuyển từ cảm giác này sang cảm giác khác, cảm nhận bằng giác quan khác.

Vì dụ:

” Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về” – Sang Thu – Hữu Thỉnh

” Cát lại vàng giòn Ánh nắng chảy đầy vai” – Những cánh buồm -Hoàng Trung Thông

” Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” – Khương Hữu Dụng

“Ngoài thêm rơi chiếc lá đa

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”- Đêm côn Sơn – Trần Đăng Khoa

4. Biện pháp tu từ hoán dụ

Biện pháp tu từ hoán dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật – hiện tượng này bằng một tên sự vật – hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ gần gũi, thân thiết để làm cho câu văn, bài thơ, đoạn văn, lời nói trở nên hấp dẫn hơn, tăng sức gợi hình, gợi cảm cho người đọc, người nghe.

Có 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ mà chúng ta thường gặp: Lấy bộ phận để chỉ toàn thể, lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng, lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật, lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

Ví dụ cho 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ:

Ví dụ lấy bộ phận để chỉ toàn thể:

” Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” – Tục ngữ

“Bàn tay ta làm nên tất cả

Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” – Bài ca vỡ đất – Hoàng Trung Thông

” Một trái tim lớn đã từ giã cuộc đời

Một khối óc lớn đã ngừng sống ” – Xuân Diệu

Ví dụ lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng:

“Vì sao trái đất nặng ân tình,

Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh” -Tố Hữu

Ví dụ lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật:

” Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” – Việt Bắc – Tố Hữu

” Sen tàn, cúc lại nở hoa

Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân” – Nguyễn Du

” Áo nâu cùng với áo xanh

Nông thôn cùng với thành thị đứng lên” – Tố Hữu

Ví dụ lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng:

” Một cây làm chẳng nên non

3 cây chụm lại nên hòn núi cao” -Ca dao

” Ngày Huế đổ máu

Chú Hà Nội về

Tình cờ chú cháu

Gặp nhau hàng bè” – Tố Hữu

5. Biện pháp tu từ nói quá( Phóng đại, cường điệu, khoa trương,..)

Một số ví dụ về biện pháp thu từ nói quá:

” Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm đón chàng sang chơi” – Ca dao

“Độc ác thay, trúc Nam sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay, nước Đông hải không rửa sạch mùi” – Bình ngô đại cáo – Nguyễn Trãi

“Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung Gió lay như sóng biển tung trắng bờ” – Mẹ suốt – Tố Hữu

“Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”- Việt Bắc – Tố Hữu

6. Biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

Biện pháp tu từ nói giảm nói tránh là biện pháp sử dụng tu từ dùng trong diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác đau thương,ghê sợ, nặng nề, thô tục, thiếu lịch sự trong một hoàn cảnh nhất định nào đó trong đời sống, trong bài văn, bài thơ.

Một số ví dụ về biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

“Bác Dương thôi đã thôi rồi Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta” – Khóc dương khuê – Nguyễn Khuyến.

Hãy nói ” Anh ấy đã hi sinh anh dũng trên chiến trường” thay vì nói” Anh ấy đã chết trên chiến trường”

“Bác đã đi rồi sao Bác ơi!”- Bác ơi – Tố Hữu

7. Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ

Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ là sử dụng biện pháp nhắc đi nhắc lại nhiều lần 1 cụm từ . Cụm từ này có tác dụng trong việc làm tăng cường điệu, gợi liên tưởng, cảm xúc diễn đạt của người nói, người viết đối với người đọc, người nghe.

Điệp ngữ gồm có nhiều dạng khác nhau: Điệp ngữ cách quãng, điệp ngữ nối tiếp, điệp ngữ vòng tròn.

Một số ví dụ về biện pháp tu từ điệp ngữ, điệp từ:

“… Nhớ sao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa…” – Việt Bắc – Tố Hữu. Đây là một ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

“Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

Buồn trông nội cỏ dàu dàu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” – Truyện kiều – Nguyễn Du. Cũng là 1 ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?’ – Trích Chinh phụ ngâm khúc. Sử dụng điệp ngữ vòng

“Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” – Điệp ngữ nối tiếp

8. Biện pháp tu từ chơi chữ

Biện pháp tu từ chơi chưa là biện pháp tu từ sử dụng các sắc thái về âm, về nghĩa của từ để tạo cho câu nói, đoạn văn, đoạn thơ trở nên dí dỏm, hấp dẫ và thú vị hơn người đọc, người nghe.

Một số lối chơi chữ mà chúng ta thường gặp: Từ đồng âm, cách điệp âm, lối nói lái, lối nói trại âm, dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

Một số ví dụ về biện pháp tu từ chơi chữ:

” Bà già đi chợ cầu Đông Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng? Thầy bói xem quẻ nói rằng, Lợi thì có lợi, nhưng răng không còn” – Ca dao

” Không răng đi nữa cũng không răng, Chỉ có thua người một miếng ăn. Miễn được nguyên hàm nhai tóp tép, Không răng đi nữa cũng không răng” – Không răng- Tôn Thất Mỹ

“Em đây là gái năm con, Chồng em rộng lượng, em còn chơi xuân” – Ca dao ( sử dụng lối chơi chữ đồng nghĩa)

” Nắng cực lúa mất mùa, đứng đầu làng xin xỏ, Nở lòng nào chị chẳng cho'” – sử dụng lối chơi chữ nói lái.

9. Biện pháp tu từ liệt kê

Biện pháp tu từ liệt kê là cách sắp xếp các từ, cụm từ cùng loại nối tiếp nhau để diễn tả đầy đủ, sâu sắc hơn về tư tưởng, tình cảm trong các đoạn văn, bài thơ, lời nói tạo sự gợi hình, gợi cảm, hấp dẫn cho người đọc, người nghe.

Một số kiểu liệt kê: Liệt kê tăng tiến, liệt kê không tăng tiến, liệt kê theo từng cặp

Một số ví dụ về biện pháp tu từ liệt kê:

“Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

Em đã sống lại rồi, em đã sống!

Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

Không giết được em, người con gái anh hùng!” – Người con gái anh hùng – Trần Thị Lý

” Nhà em nuôi rất nhiều con vật: Con mèo, con chó, con trâu, con bò, con lợn, con dê, con gà,..”

“Hoan hô chiến sĩ Điện Biên Chiến sĩ anh hùng Đầu nung lửa sắt Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt Máu trộn bùn non Gan không núng Chí không mòn!” – Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu

10. Biện pháp tu từ tương phản

Biện pháp tu từ tương phản là cách cách sử dụng từ ngữ đối lập, trái ngược nhau để tăng hiệu quả diễn đạt.

Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu

Ra thế, to gan hơn béo bụng

Anh hùng đâu cứ phải mày râu”.

Nguồn : Nhóm sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Sài Gòn năm 2019

Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Khái Niệm Và Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ / 2023

Biện pháp tu từ là cách sử dụng ngôn ngữ theo một cách đặc biệt ở một đơn vị ngôn ngữ (về từ, câu, văn bản) trong một ngữ cảnh nhất định nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt và tạo ấn tượng với người người độc về một hình ảnh, một cảm xúc, một câu chuyện trong tác phẩm.

Mục đích của biện pháp tu từ là gì?

– Tạo nên những giá trị đặc biệt trong biểu đạt và biểu cảm hơn so với việc sử dụng ngôn ngữ thông thường.

Các biện pháp tu từ đã học là:

So sánh

Nhân hóa

Ẩn dụ

Hoán dụ

Nói quá, phóng đại, kho trương, ngoa dụ, thậm xưng, cường điệu

Nói giảm, nói tránh

Điệp từ, điệp ngữ

Chơi chữ

Liệt kê

Tương phản

Chi tiết khái niệm, tác dụng của các Biện pháp tu từ đã học

1/ Biện pháp tu từ so sánh

a/ Khái niệm: So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.

Chi tiết nội dung bài học trong trương trình: Soạn bài So sánh

b/ Cấu tạo của biện pháp so sánh:

– A là B:

“Người ta là hoa đất”(tục ngữ)

“Quê hương là chùm khế ngọt”

(Quê hương – Đỗ Trung Quân)

– A như B:

“Nước biếc trông như làn khói phủ

Song thưa để mặc bóng trăng vào”

(Thu vịnh – Nguyễn Khuyến)

“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

– Bao nhiêu…. bấy nhiêu….

“Qua đình ngả nón trông đình

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu “

(Ca dao)

+ A – sự vật, sự việc được so sánh

+ B – sự vật, sự việc dùng để so sánh

+ “Là” “Như” “Bao nhiêu…bấy nhiêu” là từ ngữ so sánh, cũng có khi bị ẩn đi.

c/ Các kiểu so sánh:

– Phân loại theo mức độ: + So sáng ngang bằng:

“Người là cha, là bác, là anh

Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”

(Sáng tháng Năm – Tố Hữu)

+ So sánh không ngang bằng:

“Con đi trăm núi ngàn khe

Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

Con đi đánh giặc mười năm

Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi”

(Bầm ơi – Tố Hữu)

– Phân loại theo đối tượng:

+ So sánh các đối tượng cùng loại:

“Cô giáo em hiền như cô Tấm”

+ So sánh khác loại:

“Anh đi bộ đội sao trên mũ

Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

Em sẽ là hoa trên đỉnh núi

Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm!”

(Núi đôi – Vũ Cao)

+ So sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại:

“Trường Sơn: chí lớn ông cha

Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào”

(Nguyễn Văn Trỗi – Lê Anh Xuân)

“Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”

(Ca dao)

2/ Biện pháp tu từ nhân hóa

a/ Khái niệm: Nhân hóa là biện pháp tu từ sử dụng những từ ngữ chỉ hoạt động, tính cách, suy nghĩ, tên gọi … vốn chỉ dành cho con người để miêu tả đồ vật, sự vật, con vật, cây cối khiến cho chúng trở nên sinh động, gần gũi, có hồn hơn.

Ôn lại kiến thức và làm bài tập vận dụng: Soạn bài Nhân hóa

b/ Các kiểu nhân hóa:

– Dùng những từ vốn gọi người để gọi sự vật: Chị ong nâu, Ông mặt trời, Bác giun, Chị gió,…

– Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động tính chất của vật:

“Heo hút cồn mây súng ngửi trời”

(Tây Tiến – Quang Dũng)

“Sông Đuống trôi đi

Một dòng lấp lánh

nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì”

(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)

– Trò chuyện với vật như với người:

” Trâu ơi ta bảo trâu này…”

(Ca dao)

3/ Biện pháp tu từ ẩn dụ

a/ Khái niệm: Ẩn dụ là biện pháp tu từ gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

Bài học lý thuyết đã học: Soạn bài Ẩn dụ

b/ Có bốn kiểu ẩn dụ thường gặp: + Ẩn dụ hình thức – tương đồng về hình thức

“Đầu tường lửa lự u lập lòe đơm bông”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Hình ảnh ẩn dụ: hoa lựu màu đỏ như lửa.

+ Ẩn dụ cách thức – tương đồng về cách thức

“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

(Ca dao)

“Về thăm quê Bác làng Sen,

Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng”

(Nguyễn Đức Mậu)

+ Ẩn dụ phẩm chất – tương đồng về phẩm chất

“Thuyền về có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”

(Ca dao)

+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác – chuyển từ cảm giác này sang cảm giác khác, cảm nhận bằng giác quan khác.

“Ngoài thêm rơi chiếc lá đa

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng“

(Đêm Côn Sơn – Trần Đăng Khoa)

“Cha lại dắt con đi trên cát mịn

(Những cánh buồm – Hoàng Trung Thông)

“Ơi con chim chiền chiện

Hót chi mà vang trời

(Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải)

“Một tiếng chim kêu cả rừng”

(Từ đêm Mười chín – Khương Hữu Dụng)

c/ Lưu ý:

– Phân biệt ẩn dụ tu từ và ẩn dụ từ vựng:

+ Ẩn dụ tu từ: có tính lâm thời, tính cá thể, phải đặt trong từng văn cảnh cụ thể để khám phá ý nghĩa.

“Lặn lội khi quãng vắng”

(Thương vợ – Tú Xương)

+ Ẩn dụ từ vựng: cách nói quen thuộc, phổ biến, không có/ ít có giá trị tu từ: cổ chai, mũi đất, tay ghế, tay bí, tay bầu,…

4/ Biện pháp tu từ hoán dụ

a/ Khái niệm: Hoán dụ là biện pháp tu từ gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm này bằng tên của một sự vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

Bài học đã học: Soạn bài Hoán dụ

b/ Có bốn kiểu hoán dụ thường gặp:

+ Lấy một bộ phận để chỉ toàn thể:

đến quá nửa thì chưa thôi”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

” ta làm nên tất cả

Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”

(Bài ca vỡ đất – Hoàng Trung Thông)

+ Lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng:

“Vì sao trái đất nặng ân tình,

Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh”

(Tố Hữu)

+ Lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật:

” Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

(Việt Bắc – Tố Hữu)

+ Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng

” Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao “

Ẩn dụ và hoán dụ cùng chung cấu trúc nói A chỉ B nhưng khác nhau:

– Ẩn dụ: A và B có quan hệ tương đồng (giống nhau)

– Hoán dụ: A và B có quan hệ gần gũi, hay đi liền với nhau.

5) Biện pháp tu từ nói quá, phóng đại, kho trương, ngoa dụ, thậm xưng, cường điệu

– Nói quá là phép tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

Để ôn lại kiến thức và các bài tập vận dụng có thể xem: Soạn bài nói quá

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi“

(Bình NGô đại cáo – Nguyễn Trãi)

“Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”

(Việt Bắc – Tố Hữu)

6) Biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh

Nói giảm nói tránh là một biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, nhằm tránh gây cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng nề; tránh thô tục, thiếu lịch sự.

Cùng ôn lại kiến thức: Soạn bài nói giảm nói tránh

“Bác đã đi rồi sao Bác ơi!”

(Bác ơi – Tố Hữu)

“Bác Dương thôi đã thôi rồi

Nước mây man mác, ngậm ngùi lòng ta”

(Khóc Dương Khuê – Nguyễn Khuyến)

7) Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ

Là biện pháp tu từ nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ, cụm từ có dụng ý làm tăng cường hiệu quả diễn đạt: nhấm mạnh, tạo ấn tượng, gợi liên tưởng, cảm xúc… và tạo nhịp điệu cho câu/ đoạn văn bản.

(Cây tre Việt Nam – Thép Mới)

– Điệp ngữ có nhiều dạng:

+ Điệp ngữ cách quãng:

” Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

Buồn trông nội cỏ dàu dàu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

+ Điệp nối tiếp:

“Mai sau

Mai sau

Mai sau

Đất xanh, tre mãi xanh màu tre xanh”

(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

+ Điệp vòng tròn:

“Cùng trông lại mà cùng chẳng

xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”

(Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm)

8) Biện pháp tu từ chơi chữ

Chơi chữ là biện pháp tu từ lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước,…. làm câu văn hấp dẫn và thú vị.

Bài soạn đã học trước đó: Soạn bài Chơi chữ

– Chơi chữ được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, thường trong văn thơ, đặc biệt là trong văn thơ trào phúng, trong câu đối, câu đố,….

– Các lối chơi chữ thường gặp:

+ Dùng từ ngữ đồng âm

“Bà già đi chợ cầu đông

Xem một que bói lấy chồng chăng

Thầy bói gieo quẻ nói rằng:

+ Dùng lối nói trại âm (gần âm)

Sánh với Na-va “ranh tướng” Pháp (Danh tướng)

Tiếng tăm nồng nặc ở Đông Dương.

(Tú Mỡ)

+ Dùng lối nói lái

Khi đi cưa ngọn, khi về con ngựa ( Cưa ngọn – Con ngựa)

+ Dùng từ ngữ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa

Đi tu Phật bắt ăn chay

Thịt chó ăn được, thịt cầy thì không.

+ Dùng cách điệp âm

“Mênh mông muôn mẫu một màu mưa

Mỏi mắt miên mang mãi mịt mờ

Mộng mị mỏi mòn mai một một

Mĩ miều mai mắn mây mà mơ”

(Tú Mỡ)

9/ Biện pháp tu từ liệt kê

Liệt kê là biện pháp tu từ sắp xếp nối tiếp hàng loạt từ hay cụm từ cùng loại để diễn tả đầy đủ, sâu sắc hơn những khía cạnh khác nhau của thực tế hay tư tưởng, tình cảm.

Bài soạn đã học: Soạn bài Liệt kê

“Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

Em đã sống lại rồi, em đã sống!

Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

Không giết được em, người con gái anh hùng!”

(Người con gái anh hùng – Trần Thị Lý)

10/ Biện pháp tu từ Tương phản

Tương phản là biện pháp tu từ sử dụng từ ngữ đối lập, trái ngược nhau để tăng hiệu quả diễn đạt.

“O du kích nhỏ giương cao sung

Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu

Ra thế, to gan hơn béo bụng

Anh hùng đâu cứ phải mày râu”

(Tố Hữu)

Các Biện Pháp Tu Từ Vựng / 2023

SO SÁNHTrên trời mây trắng như bôngThuyền về có nhớ bến chăng?Ngập ngừng mép núi quanh coÁo chàm đưa buổi phân li * Cách cấu tạo: A như B (A: Sự vật chưa biết hoặc chưa được rõ), (B: Sự vật đã biết). Qua B để hiểu A. Giữa A và B có từ so sánh: như, tựa, bằng, là… Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây

* Cách cấu tạo: A giống B. A là sự vật ẩn đi, nhưng vẫn có thể nhận biết được, mô tả đựơc. B là sự vật xuất hiện trực tiếp nhằm để gợi ra A, nói về A. Giữa sự vật A và sự vật B có những nét giống nhau. Vì vậy ẩn dụ được hình thành dựa trên sự liên tưởng, tưởng tượng… Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền. * Chức năng, tác dụng: Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang.

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.B: Áo chàm-trang phục quen thuộc của đồng bào các dân tộc Việt Bắc. A: Áo chàm chỉ người dân Việt BắcTrong dòng thơ trên có ẩn dụ tu từ “ngập ngừng”, “ngập ngừng” dùng để chỉ trạng thái quanh co của mép núi: lúc hiện ra, lúc khuất đi trong tầm mắt. Từ này còn đựơc dùng để chỉ tâm trạng của người đi đường xa, vừa muốn bước tiếp, lại vừa muốn dừng chân, bước chân cũng “ngập ngừng” như e sợ một cái gì đó ở trước mặt. * Các loại ẩn dụ: – Nhân hoá: ẩn dụ lấy từ ngữ chỉ hiện tượng, tính chất, trạng thái của con người để chỉ hiện tượng, tính chất của sự vật. – Vật hoá: ẩn dụ lấy từ ngữ chỉ vật dùng cho người. – Ẩn dụ cảm giác: Ẩn dụ lấy cảm giác của giác quan này để gọi tên cảm giác thuộc giác quan khác.

HOÁN DỤ * Cách cấu tạo: A (gần) B. A là sự vật ẩn đi nhưng có thể nhận biết, mô tả đựơc. B là sự vật xuất hiện trực tiếp, nhằm để gợi ra A, nói về A. Giữa sự vật A và sự vật B có mối quan hệ gần gũi với nhau, đi đôi với nhau. Vì vậy hoán dụ được hình thành dựa trên sự liên tưởng tiếp cận. * Chức năng, tác dụng: – Nhận thức: Nghĩa là qua B biết về A. – Gợi hình ảnh cảm xúc ở người đọc, người nghe. – Dùng tính chất tiêu biểu, đại diện ở sự vật B để nói về sự vật A, cho nên có tác dụng nhấn mạnh, gây ấn tượng ở người đọc, người nghe. * VD: – Nhận thức: qua B biết về A – Gợi hình ảnh, cảm xúc ở người đọc, người nghe, là cách nói mang tính hàm súc, cô đọng, giá trị biểu đạt cao. VD: Bài ca dao mở đầu bằng kiểu so sánh chéo (mây như bông, bông như mây) từng sự vật, kết thúc bằng việc so sánh hợp nhất (đội bông như thể đội mây). Như vậy chủ yếu không phải là miêu tả bông hay miêu tả mây, mà để gây ấn tượng về độ tràn ngập màu trắng của “bông”, của 1 vụ bội thu “bông”. Con người như lâng lâng bay trong khoảng không gian mênh mông màu trắng. Đó là những con người mà lao động không còn là gánh nặng đè họ xuống, mà thực sự là niềm vui nâng họ lên ngang tầm của trời mây. Bài ca dao là 1 bức tranh rất sáng, rất đẹp với sự láy đi láy lại của bông mây, láy đi láy lại màu trắng, loáng thoáng điểm chút màu đỏ của những đôi má trẻ tươi.

Mấy cô má đỏ hây hây Đội bông như thể đội mây về làng. (Ngô Văn Phú) * Chức năng, tác dụng: – Nhận thức: Nghĩa là nhờ B ta hiểu thêm về A – Gợi hình ảnh và cảm xúc ở người đọc, người nghe… VD: Cặp ẩn dụ thuyền- bến, thuyền: Sự vật có đặc tính động, nay đây, mai đó trên sông nước. Bến là sự vật có đặc tính tĩnh, cố định ở một nơi, một chốn trên sông nước. A-thuyền: Gợi đến hình ảnh người con trai thời xưa đi làm ăn xa, tung hoành ngang dọc. B- bến gợi tới hình ảnh người con gái ở nhà thuỷ chung chờ đợi. Như vậy cặp ẩn dụ trên nói về tình yêu nam nữ.

Sử Dụng Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Miêu Tả / 2023

Sáng kiến kinh nghiệm

TRƯỜNG tiÓu häc b ẠC H ĐẰNG

S¸ng kiÕn kinh nghiÖm

Người dạy: Lê Thị Tuyết

Líp: 5 B

N¨m häc: 200 8 – 200 9

Giáo viên: Lê Thị Tuyết – Trường Tiểu học Bạch Đằng

SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG VĂN MIÊU TẢ

I. Lý do chọn đề tài:

Mỗi một môn học đều có mục đích nhất định. Mục đích của môn học được đề ra do đặc trưng của môn học chứ không phải đơn thuần là do ý đồ giáo dục. Mục đích học tiếng Việt là để giúp học sinh sử dụng đúng, thành thạo tiếng Việt trong giao tiếp và trong tư duy. Môn văn là một môn học mang tính tổng hợp nhằm trang bị cho học sinh những tri thức để hiểu đúng các vấn đề trong văn học, bao gồm: Tác phẩm, tác giả, các quá trình văn học. Có nghĩa là góp phần tạo được khả năng khám phá vẻ đẹp của các tác phẩm văn học trong tiếp nhận cũng như năng lực biết đánh giá một cách đúng đắn khoa học các hiện tượng văn học, đồng thời hình thành khả năng phát triển và phát sinh văn bản nói và viết. Đó chính là mục đích và nhiệm vụ của môn tập làm văn. Môn học này giúp học sinh có những khả năng cần thiết để làm một bài văn.

Môn tập làm văn là một môn học đòi hỏi có tính chất tổng hợp, đòi hỏi học sinh phải học tất cả các môn tiếng Việt và văn. Qua thực tế giảng dạy tôi thấy, việc vận dụng kiến thức của môn văn và môn tiếng Việt vào môn tập làm văn còn hạn chế, khi làm văn các em thường mắc các lỗi như: Sai kiểu bài, bố cục chưa rõ ràng, câu viết sai, thiếu thành phần, dùng từ sai nên dẫn đến kết quả làm bài văn không hay, không hấp dẫn sinh động.

Ở lớp 5, các em được làm quen với loại văn miêu tả. Để làm tốt loại văn này đòi hỏi các em phải có khả năng quan sát thực tế bằng các giác quan, từ đó cảm nhận được thực tế sau đó tái hiện lại trong bài văn của mình. Việc dùng từ ngữ trong bài văn miêu tả cũng rất quan trọng. Bài văn có hay, hấp dẫn hay không, phần lớn phụ thuộc vào các biện pháp tu từ. Đặc biệt là từ tượng hình, tượng thanh, từ có tính biểu cảm. Chính vì vậy mà tôi đã đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “Sử dụng các biện pháp tu từ trong văn miêu tả” mục đích tìm tòi để rút ra cho mình phương pháp tốt nhất khi dạy môn tập làm văn, cụ thể là loại văn miêu tả với việc sử dụng các từ ngữ gợi hình, gợi cảm xúc… (từ tượng hình, tượng thanh).

II. Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu phương pháp dạy và học môn tập làm văn nói chung và kiểu bài văn miêu tả nói riêng với việc sử dụng các biện pháp tu từ. Góp phần soi sáng phương pháp giảng dạy môn tập làm văn, đặc trưng là thể loại bài văn miêu tả với việc sử dụng các biện pháp tu từ.

III. Nhiệm vụ nghiên cứu:

– Nghiên cứu, áp dụng thực nghiệm việc sử dụng các biện pháp tu từ trong kiểu bài văn miêu tả.

– Đưa ra được những biện pháp hữu hiệu trong dạy học môn tập làm văn nói chung với việc sử dụng các biện pháp tu từ trong kiểu bài văn miêu tả nói riêng.

IV. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

2. Phạm vi: Nghiên cứu phương pháp dạy học thể loại bài văn miêu tả với việc sử dụng các biện pháp tu từ. Thời gian thực hiện: năm học 200 8 – 200 9 .

V. Phương pháp nghiên cứu:

Sử dụng phương pháp quan sát, trắc nghiệm thực tế. Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, trao đổi đồng nghiệp.

VI. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:

Như ở trên tôi đã trình bày, môn tập làm văn là môn học hướng học sinh tới nhiệm vụ là hình thành và phát triển khả năng sinh văn bản (nói và viết). Nó giúp học sinh hình thành kỹ năng cần thiết để làm bài văn. Ở bậc tiểu học các em được làm quen với dạng bài văn miêu tả. Đặc trưng của kiểu bài này là kích thích trí tưởng tượng phong phú, xây dựng óc quan sát tinh tế cho học sinh. Nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ này thì các em có những bài viết hay đúng quy tắc, chân thật và có những khám phá hồn nhiên về thiên nhiên, gia đình và xã hội.

2. Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần soi sáng phương pháp giảng dạy môn tập làm văn, đặc trưng là thể loại bài văn miêu tả với việc sử dụng các biện pháp tu từ.

NỘI DUNG ĐỀ TÀI

I. THỰC TRẠNG BAN ĐẦU

Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy nhiều năm, qua những buổi dự giờ, trao đổi cùng đồng nghiệp. Tôi thấy là kiểu bài văn miêu tả đa số các em nắm được bố cục của thể loại bài văn viết khá rõ ràng… có nhiều chi tiết miêu tả hợp lý. Nhưng bài văn của các em mới chỉ đúng mà chưa hay, trong bài có đề cập đến các biện pháp tu từ nhưng chỉ mờ nhạt, đôi chỗ còn chưa hợp lý.

Trong bài văn miêu tả, việc sử dụng các từ láy, biện pháp so sánh rất quan trọng nhưng kỹ năng đó của các em lại rất yếu nên bài văn thường tẻ nhạt chưa có sự sáng tạo, do đó bài văn không có hồn làm người đọc cảm thấy chán.

Ngay từ đầu năm học tôi vẫn quen cho học sinh làm bài để khảo sát chất lượng học sinh, bám sát từng đối tượng học sinh và phân loại như: Lớp 5 B của tôi chủ nhiệm có tất cả 29 học sinh với đề bài tập làm văn là:

“Hãy tả hình dáng, tính tình một cô giáo đã dạy em từ những năm học trước”

Sau khi chấm bài tôi đã phân loại được học sinh như sau:

“Thu Hà là một em bé khau kháu nhất xóm, khuôn mặt rất đầy đặn, Thu Hà hay chập chuạng sang nhà em vì hai nhà sát vách nhau. Đôi má bầu bĩnh của em lúc nào cũng hồng đỏ chon chót như xoa một lớp phấn mỏng. Hai mắt đen nhấp nhánh như hai hạt nhãn. Đôi chân tròn lẳn nung núc thịt. Mỗi lần bế em, Thu Hà nhảy nhót lên, mừng rỡ sà vào lòng em…” .

Toàn bài viết của em Linh miêu tả có khoảng 185 từ, trong đó có 18 từ láy, từ tượng hình và từ tượng thanh. Mức độ sử dụng các từ láy, từ tượng hình, tượng thanh của em Linh như vậy là khá cao. Nhưng thật đáng tiếc những từ tượng hình, tượng thanh mà em Linh sử dụng lại không phù hợp, thiếu chính xác. Những lỗi mà em Linh mắc phải là những lỗi rất phổ biến mà tôi nhận thấy trong quá trình khảo sát nghiên cứu giảng dạy. Đó cũng chính là những lỗi phổ biến của học sinh lớp tôi.

II. CƠ SỞ LÝ LUẬN

Sở dĩ có tình trạng trên là do khi học các phân môn khác của môn tiếng Việt như: Tập đọc, chính tả, từ ngữ… chủ yếu môn từ ngữ kết quả còn thấp kém. Các em nắm kiến thức chưa sâu, nhiều từ ngữ các em còn hiểu sai nghĩa nêm không sử dụng đúng chỗ.

Khi giảng dạy môn tập làm văn, giáo viên thường chú trọng lý thuyết, chưa chú ý đến việc rèn kỹ năng, đặc biệt là các buổi quan sát thực tế. Việc học thường được diễn ra theo một quy trình: Thầy giảng – trò nghe rồi bắt trước theo thầy, áp dụng một cách máy móc những điều thầy giảng trên lớp, học sinh chưa phát huy được tính tích cực, sáng tạo của mình và vì không có những buổi thâm nhập vào thực tế nên các em chỉ được quan sát bằng hình thức tưởng tượng lại bài học. Đó cũng là một hạn chế khi làm bài, hạn chế khả năng tưởng tượng phong phú của học sinh.

III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

Ngay từ đầu vào lớp một các em đã được học tiếng Việt, chương trình này được nâng cao dần trong bậc tiểu học. Đây là nội dung giáo dục ngôn ngữ thật sự mà xưa nay đã được đưa vào trong trường để giảng dạy thông qua môn tiếng Việt. Cần xây dựng một chương trình dạy giao tiếp, sơ đồ giao tiếp. Trong tiếng Việt có rất nhiều thành ngữ so sánh hay sử dụng những phương pháp ẩn dụ, hoán dụ, từ tượng thanh, tượng hình, trong lời ăn tiếng nói hàng ngày sẽ phù hợp với sáng tạo nghệ thuật văn chương. Chúng ta đều biết, ở lứa tuổi học sinh tiểu học, vốn sống, vốn hiểu biết của các em chưa phong phú, các em còn đang trong quá trình tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh. Dù giáo viên có cố gắng rất nhiều trong việc hướng dẫn tổ chức quan sát đối tượng miêu tả, dù các em có quan sát kỹ đến mấy nhưng do vốn từ còn nghèo nàn nên các em cũng chỉ biết đưa vào bài làm hàng loạt chi tiết quan sát được, chưa biết lựa chọn các chi tiết tiêu biểu chính xác, chưa biết sử dụng các từ ngữ sát thực tế, phát huy tối đa tác dụng của những từ tượng thanh, tượng hình làm cho bài văn của mình thêm phần hấp dẫn, sinh động có sức gợi tả, gợi cảm.

Để cung cấp thêm vốn từ cho học sinh, trước tiên người giáo viên phải tiến hành dạy tốt các tiết từ ngữ, ngữ pháp… đặc biệt là các kiểu bài: “Cung cấp từ ngữ và luyện tập từ”.

Khi giảng dạy từ ngữ, ngữ pháp tôi thường dùng các phương pháp quy nạp, diễn dịch, đặc biệt là phương pháp quy nạp. Từ ngữ, các đơn vị lời nói nằm trong vốn ngôn ngữ tiếng Việt mà học sinh đưa ra, giáo viên có thể giúp học sinh quy nạp kiên thức, phân loại nó thành mô hình (mẫu). Các em có thể đặt lại câu theo mẫu đó với việc sử dụng nhiều từ tượng thanh và từ tượng hình khác nhau.

Ngoài ra có thể giúp học sinh tăng thêm vốn từ ngữ tôi đã có một số phương phá p sau:

1. Trong quá trình giảng dạy, tôi sưu tầm những đoạn văn miêu tả hay, cho học sinh đọc và yêu cầu học sinh thống kê những từ tượng hình, tượng thanh, gợi tả trong đoạn văn đó.

“Rừng núi còn chìm đắm trong màn đêm. Trong bầu không khí đầy hơi ẩm và lành lạnh, mọi người đang ngon giấc trong những chiếc chăn đơn. Bỗng một con gà trống vỗ cánh phành phạch và cất tiếng gáy lanh lảnh ở đầu bản. Tiếp đó rải rác khắp thung lũng, tiếng gà gáy râm ran. Mấy con gà rừng trên núi cũng thức dậy gáy te te.

Trên mấy cành cao cạnh nhà, ve đua nhau kêu ra rả. Ngoài suối tiếng chim cuốc vọng vào đều đều… Bản làng đã thức giấc. Đó đây, ánh lửa hồng bập bùng trên các bếp. Ngoài bờ suối đã có bước chân người đi, tiếng nói chuyện rì rầm, tiếng gọi nhau í ới.”

(Buổi sáng mùa hè trong thung lũng – Tiếng Việt lớp 5, tập hai).

Mục đích của kiểu bài này không chỉ đơn thuần yêu cầu các em học sinh xác định được từ tượng hình, tượng thanh trong đoạn văn mà còn giúp các em học tập được cách miêu tả và sử dụng từ ngữ trong văn miêu tả. Ở bài tập này, hầu hết các em phát hiện được các từ tượng hình, tượng thanh trên cơ sở đó tôi phân tích để học sinh thấy rõ tác dụng của việc sử dụng các từ tượng hình, tượng thanh trong bài tập đó.

Tiếp theo bài tập ấy tôi đưa ra một bài tập khác nhằm kiểm tra việc nắm bắt những điều mà tôi vừa phân tích và giảng giải ở trên xem khả năng hiểu bài của các en đến đâu.

Với bài tập này giúp các em phát huy được óc sáng tạo, trí tưởng tượng của mình.

2. Trong qua trình giảng dạy, tôi ra các bài tập yêu cầu học sinh vận dụng linh hoạt các từ tượng hình, tượng thanh trong văn miêu tả.

Tìm một số từ láy, từ tượng hình, từ tượng thanh để miêu tả màu da, đôi mắt, giọng nói, tiếng cười.

– Từ miêu tả màu da: Đỏ đắn, trắng trẻo, xanh xao, hồng hào…

– Từ miêu tả đôi mắt: Hiền hậu, tinh tường, (đen) lay láy…

– Từ miêu tả giọng nói: Ồm ồm, lanh lảnh, khàn khàn, sang sảng…

– Từ miêu tả nụ cười: Khúc khích, khanh khách, ha hả, tủm tỉm…

Sửa lại những từ ngữ dùng sai trong đoạn văn sau:

“Dáng người mẹ đậm đà, da đen lay láy vì dãi dầu mưa nắng. Khuôn mặt mẹ đầy đặn và có phúc. Dưới cặp lông mày thanh thản đôi mắt của mẹ tôi mở to thao láo. Đôi mắt ấy đối với tôi thật gần gũi và sáng sủa biết bao”.

Có thể sửa lại là:

“Dáng người mẹ đậm đà, da đen lay láy vì dãi dầu mưa nắng. Khuôn mặt mẹ đầy đặn và phúc hậu. Đôi mắt mẹ mở to dưới cặp lông mày thanh thanh. Đôi mắt ấy đối với tôi thật gần gũi và thân thiết biết bao”.

Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Em hãy tìm một số từ tượng hình, từ tượng thanh để diễn tả kiểu đi, kiểu chạy khác nhau?

(Đi lò dò, đi hối hả, đi khệnh khạng, đi tất tưởi… chạy thuăn thuắt, chạy phăng phăng, chạy lạch bạch, chạy tình thịch…) .

Mục đích của kiểu bài này làm phong phú vốn từ của học sinh, đặc biệt là tập dùng các từ tượng hình, tượng thanh có tính chất gợi tả, tạo hình ảnh sinh động.

3. Tổ chức cho học sinh quan sát:

Phương pháp này hình thức tốt nhất để phát huy khả năng ngôn ngữ của học sinh, phát huy trí tưởng tượng phong phú, khả năng sáng tạo tinh tế của các em.

Từ thực tế nghiên cứu giảng dạy tôi thấy những câu văn hay là những câu văn được quan sát thực tế một cách tinh tế, tỉ mỉ.

Ngoài vườn, trên các lối xóm, cây xoan gầy thân mốc trắng dơ lên những cách tay đen đủi, trơ trụi đã trổ từng túm lá tơ. Trong những đám lá nhỏ xanh rờn ấy, nhoi ra những chùm nụ be bé. Gặp mưa bụi li ti, những chùm nụ nở hoa. Hoa xoan nhỏ cánh trấu, tim tím, trăng trắng vừa nở lại vừa rụng phơi phới trong mưa xuân.

Từ những kinh nghiệm ấy tôi luôn luôn chú ý đến phương pháp “tổ chức cho học sinh quan sát”. Để làm được điều này, đòi hỏi giáo viên phải tạo điều kiện cho học sinh đến tận nơi để quan sát đối tượng trước khi miêu tả và coi đó là nguyên tắc khi giảng dạy văn miêu tả. Chỉ trên cơ sở thu nhận trực tiếp các nhận xét, các ấn tượng cảm xúc về sự vật, hiện tượng thì cảm xúc mới nảy sinh. Có như thế thì bài viết mới có cảm xúc thực sự.

Khi đưa học sinh quan sát thực tế, vai trò hướng dẫn của người giáo viên là rất quan trọng. Giáo viên nên hướng dẫn các em chọn vị trí quan sát như thế nào để thuận lợi nhất, khi quan sát được điều gì cần phải ghi nhận ngay, giáo viên phải cho học sinh làm bài thu hoạch ngay sau khi quan sát.

Có một đề văn như sau:

“Em hãy tả cảnh cánh đồng lúa chín ở quê em vào một buổi sáng đẹp trời”.

Để giúp cho các em làm tốt bài tập này. Theo tôi nên cho học sinh đi thăm cánh đồng vào buổi sáng. Trước khi đi tôi phổ biến cách để học sinh quan sát và ghi nhận thông tin, khi quan sát được bằng cách đưa ra một loạt những câu hỏi để các em trả lời các câu hỏi đó, như:

– Từ xa em thấy cánh đồng lúa đang chín như thế nào?

– Lại gần em thấy ruộng lúa sao? Khóm lúa, bông lúa, hạt lúa như thế nào?

– Khi mặt trời lên cao quang cảnh cánh đồng lúa ra sao?

– Bên phải, bên trái cánh đồng lúa có gì đáng chú ý?

Trong lúc quan sát tôi khéo léo gợi mở để các em có thể phát huy sự hiểu biết, vốn ngôn ngữ, kết hợp với khả năng liên tưởng cảm xúc để cho việc quan sát tốt hơn.

Làm văn miêu tả không phải lúc nào cũng có đối tượng trước mắt để rồi thực hiện cách thức “bút chì cầm tay ghi chép tại hiện trường”. Ở lớp 4 tả cái cặp, các em có thể quan sát ngay tại lớp và tả. Nhưng lên lớp 5, các em phải tả bà, tả mẹ, tả buổi chào cờ… thì không thể quan sát đối tượng trực tiếp được mà các em phải sử dụng hồi ức của mình, phải huy động những hiểu biết, những nhận xét, những cảm xúc đã có trong ký ức của mình về đối tượng miêu tả để làm bài văn.

Hồi ức tưởng tượng là cách nhìn gián tiếp sự vật, là phục hồi sự nhìn nhận bằng cách gợi nhớ để giúp các em làm bài khi miêu tả. Bài văn miêu tả sẽ tốt, sẽ thành công khi hình ảnh sự vật được gợi lên trong tâm trí các em khá hoàn chỉnh. Nghĩa là sau khi các em đã hình dung đầy đủ sự vật các em sẽ viết được bài một cách chi tiết, hoàn chỉnh có sự lựa chọn.

Trong các tiết học này, tôi luôn sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp các em dần hồi tưởng lại sự vật mà bài văn miêu tả yêu cầu tả.

“Thầy cô giáo là những người luôn gần gũi các em, giúp đỡ các em để các em có thêm những tri thức mới mẻ về cuộc sống xã hội. Em hãy tả thầy cô giáo”.

Đối với bài tập này tôi sử dụng một hệ thống câu hỏi mở rộng sau:

– Cô giáo em là người như thế nào? (Thái độ, cử chỉ, lời nói, hình dáng…).

– Khi miêu tả cô nên dùng từ ngữ nào để tả cho sát với thực tế?

Bài văn miêu tả hình dáng bà.

Dùng câu hỏi so sánh:

– Hình dáng của bà có giống cô giáo trong bài trước không?

– Nên dùng từ ngữ, hình ảnh nào để miêu tả một cách chính xác và phù hợp (hình dáng, cử chỉ như thế nào là gây ấn tượng và phù hợp nhất).

Cứ như vậy, mặc dù dùng hồi ức, tưởng tượng, các em vẫn có thể có đầy đủ những các tư liệu chính xác về đối tượng miêu tả. Những chi tiết ghi nhận được tại chỗ trước đó sẽ trở lại với các em và rõ ràng là gây ấn tượng.

4. Phương pháp rút kinh nghiệm bài làm của mình, của bạn.

Phương pháp này không thể thiếu được trong quá trình giảng dạy môn văn nhất là môn tập làm văn. Khâu này được thể hiện rõ nét nhất trong tiết trả bài. Để có một tiết trả bài hiệu quả tôi tiến hành chấm bài. Khi chấm bài tôi đọc kỹ từng câu từng đoạn để phát hiện cái đúng, cái hay, chỗ sai, chỗ dở của học sinh rồi phân thành từng loại: tốt, khá, trung bình, yếu. Để thuận lợi cho việc nhận xét đánh giá kết quả học tập của học sinh. Yêu cầu bài làm của từng đối tượng cũng có sự khác nhau.

– Khá giỏi: Yêu cầu kết cấu bài phải chặt chẽ, gọn, câu văn phải có sự sáng tạo, liên tưởng.

– Trung bình: Yêu cầu bài làm đúng, bố cục đầy đủ, mạch lạc, rõ ràng.

– Yếu: Có thể châm trước về bố cục và câu.

Phân loại bài như vậy rồi tôi tiến hành chữa lỗi câu ngay từ khi trả bài. Qua bài làm của học sinh, tôi thấy các em thường mắc lỗi sai lớn nhất là câu không đủ thành phần thiếu cả chủ ngữ, vị ngữ:

Ví dụ : “Em rất thích chiếc cặp bố tặng. Có hình chữ nhật vuông vắn”.

Câu đúng sẽ là: “Em rất thích chiếc cặp bố tặng. Nó (chiếc cặp) có hình chữ nhật vuông vắn”.

Câu thiếu thành phần vị ngữ:

“Lòng dũng cảm của chú Công an và con ngựa”.

Ở câu này ta phải sửa như sau: Thêm thành phần vị ngữ vào câu hoặc cấu tạo lại hoàn toàn cả câu: “Chú Công an và con ngựa đều dũng cảm”.

Cũng có khi các em viết câu thiếu cả chủ ngữ và vị ngữ.

Ví dụ : “Trên cánh đồng làng chạy dọc theo sông Hồng” .

Để sửa câu này ta phải bỏ từ “Trên”.

Ngoài những lỗi về câu còn có những lỗi về cách sử dụng từ chưa hay, chưa sát thực.

Trong trường hợp này tôi đưa ra câu hỏi để các em thấy sử dụng từ “béo mập” làm cho bài văn không hay, nên thay từ “béo mập” bằng từ “mập mạp” thì câu văn sẽ hay hơn.

Như vậy trong tiết trả bài các em sẽ nhận ra các thiếu sót ở bài làm của bạn cũng như của mình để rút kinh nghiệm và làm bài sau tốt hơn.

Qua quá trình thực nghiệm tôi thấy việc sử dụng các biện pháp trên (4 biện pháp) đã đem lại kết quả khá rõ rệt. Từ chỗ bài làm của học sinh còn nghèo nàn, có chỗ từ ngữ sử dụng chưa chính xác, không sát thực, bố cục không rõ ràng, bài sơ sài, câu văn thiếu sinh động, thiếu hấp dẫn. Nay bài làm của các em đã có những câu văn miêu tả hay với việc sử dụng các từ tượng thanh, tượng hình, các biên pháp tu từ, dù chưa đạt được đến mức thành thạo, nhuần nhuyễn nhưng đã có sự sáng tạo linh hoạt, câu văn mượt mà có hình ảnh, có cảm xúc. Làm tốt các biện pháp trên tôi còn đạt được một mục đích nữa là giúp các em học môn tiếng Việt nhanh hơn, dễ hiểu hơn, các em yêu thích bộ môn hơn.

Trong văn miêu tả các biện pháp tu từ nói chung, từ tượng hình, tượng thanh nói riêng giữ một vài trò quan trọng vì chúng có ưu thế trong việc khắc họa hành động, hình dáng, mầu sắc, đặc điểm, âm thanh… của đối tượng được miêu tả. Nếu sử dụng các từ tượng hình, từ tượng thanh một cách linh hoạt, sáng tạo thì bài văn miêu tả sẽ trở nên hấp dẫn, gần gũi với người đọc.

Môn tập làm văn là môn tổng hợp kiến thức của cả văn và tiếng Việt. Học văn và tiếng Việt tốt sẽ giúp cho bài văn có nhiều hình ảnh, tư liệu, lập luận đưa ra sẽ chính xác và chặt chẽ.

Để có kết quả tốt trong quá trình giảng dạy, mỗi giáo viên phải nghiên cứu tìm tòi để tìm ra phương pháp tối ưu nhất, mang lại hiệu quả cao nhất. Bản thân tôi luôn coi trọng phương pháp đã trình bày ở trên, các biện pháp đó đã giúp cho

quá trình giảng dạy môn tiếng Việt nói chung và phân môn tập làm văn nói riêng của tôi có hiệu quả hơn. Cụ thể:

Nhìn vào bảng đối chiếu so sánh trên cho thấy khi áp dụng phương pháp mới thì chất lượng tăng lên rõ rệt. Cụ thể:

– Điểm yếu từ 6 bài giảm xuống còn 0 bài.

– Điểm giỏi từ 3 bài tăng lên 7 bài.

Thật khó có thể đưa ra một mô hình khuôn mẫu chung cho phương pháp giảng dạy môn tập làm văn nói chung và lại càng khó hơn khi tìm ra khuôn mẫu cho từng kiểu bài nói riêng bởi vì “Văn học là nhân học”, phải tùy vào nội dung cảm nghĩ, tùy khả năng, sở trường diễn đạt của người viết.

Đã từ lâu việc dạy môn tập làm văn là một việc làm khó, gây không ít lúng túng cho giáo viên khi dạy phân môn này vì hầu như ở các lớp 1, 2, 3 các em chỉ được rèn kỹ năng dùng từ đặt câu, trong khi đó khả năng viết đoạn văn lại là quan trọng nhất vì đoạn văn là cơ sở, là thành tố cấu trúc bài văn thì các em chỉ được học sơ qua nên việc làm văn còn nhiều hạn chế.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!