Đề Xuất 2/2023 # Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Việt (Giai Đoạn Vần) # Top 6 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Việt (Giai Đoạn Vần) # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Việt (Giai Đoạn Vần) mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: – Môn Tiếng Việt là môn có tầm quan trọng bậc nhất trong các môn học, có đọc thông, viết thạo, hiểu được nội dung văn bản thì mới nắm được thông tin, giải quyết những vấn đề mà văn bản nêu ra. Nghĩa là, học tốt môn Tiếng Việt thì mới có thể học tốt môn học khác. – Yêu cầu các em khi học xong lớp Một là phải đọc thông, viết thạo được hết các âm, vần, tiếng, từ, câu mà các em đã học (ở môn Tiếng Việt). Do đó, giai đoạn học âm và vần là nền tảng quan trọng trong việc học tập và tiếp thu những kiến thức cơ bản về sau. Nếu giai đoạn học vần các em chưa nắm vững thì sẽ dẫn đến sự tiếp thu khó khăn ở giai đoạn tập đọc. – Dạy tiếng Việt cho học sinh lớp Một không thể nào không chú trọng đến giai đoạn vần, có nắm được hết vần thì các em mới đọc được tiếng nếu mất căn bản từ giai đoạn này các em sẽ không ghép vần được, không đọc được tiếng hoặc ghép rất chậm, dẫn đến khó khăn cho việc học tập môn Tiếng Việt nói riêng và các môn học khác nói chung . Chính vì thế chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn vần)” ở khối 1, trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân năm học 2010 – 2011. II- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: – Ý thức học tập của học sinh khối 1 đối với môn Tiếng Việt. – Ý thức của giáo viên về tầm quan trọng của môn Tiếng Việt. – Sự quan tâm của phụ huynh học sinh đối với việc học của con em mình. – Sự giúp đỡ của ban giám hiệu đối với môn Tiếng Việt. – Cơ sở vật chất: + Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học trong nhà trường. + Đồ dùng học tập của học sinh. – Biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn vần). III- PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI: Về không gian: Biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn vần) ở khối 1, trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân. 2. Về thời gian: – Trong năm học 2010 – 2011, chúng tôi chia quá trình nghiên cứu ra làm 3 giai đoạn. + Từ đầu năm – giữa học kì I: điều tra, khảo sát thực trạng của học sinh. + Từ giữa học kì I – cuối học kì I: lập đề cương, đưa ra giải pháp, vận dụng thực tế, chỉnh sửa bản nháp. + Từ cuối học kì I – giữa học kì II: thống kê, so sánh, đối chiếu kết quả, hoàn chỉnh đề tài. + Từ giữa học kì II – cuối học kì II: tiếp tục vận dụng đề tài. IV- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU : Khi đi sâu vào nghiên cứu chúng tôi lựa chọn, vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp, nhiều hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực chủ động của học sinh. 1-Phương pháp đọc tài liệu: – Phương pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học (PTS Lê Phương Nga- Đỗ Xuân Thảo- Lê Hữu Tĩnh). – Để có một giờ dạy học nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn, chất lượng hơn và hiệu quả hơn (Nguyễn Hữu Du- Sở GD&ĐT Vũng Tàu). – Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới (TS Nguyễn Trí). – Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy sách giáo khoa lớp Một chương trình Tiểu học mới (Đặng Huỳnh Mai). – Các tài liệu bồi dưỡng của dự án PEDC, hướng dẫn giáo viên về tăng cường Tiếng Việt. – Chỉ thị 40/2008/CT-BGD&ĐT ngày 22 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường học phổ thông giai đoạn 2008- 2013. – Thông tư 32/TT- BGD&ĐT về việc hướng dẫn đánh giá, xếp loại học sinh Tiểu học. – Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học lớp 1. – Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở tiểu học. – Phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực. – Tài liệu dạy học hòa nhập lấy HS làm trung tâm. – Tài liệu một số kĩ năng dạy học đặc thù trong lớp học hòa nhập. – Chuyên đề GDTH tập 42, 43, 44. – Tạp chí giáo dục Tiểu học của Bộ GD&ĐT. – Tài liệu về trò chơi học tập môn Tiếng Việt. – Tài liệu hướng dẫn tự làm đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt. * Qua các tài liệu trên chúng tôi tham khảo và vận dụng vào việc làm đề tài. 2-Phương pháp điều tra 2.1-Phương pháp đàm thoại: + Với phụ huynh học sinh mỗi giai đoạn 1 lần: 5 lần/ năm (đầu năm, giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II, cuối học kì II.) + Họp tổ chuyên môn: 2lần/ tháng. + Ban giám hiệu 1 tháng/ 1 lần. + Với học sinh trong các tiết dạy và trong các tiết hoạt động tập thể. 2.2-Phương pháp dự giờ, thăm lớp : + Dự giờ minh họa chuyên đề. + Dự giờ đồng nghiệp: 2 tiết / 1 tháng. + Thao giảng: 1 tiết/ tháng. + Giáo án điện tử 1 tiết / HK. + Khối trưởng chịu trách nhiệm tổ chức hội thảo các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra việc thực hiện của giáo viên trong tổ để có sự điều chỉnh kịp thời. 2.3- So sánh, đối chiếu kết quả: + Giáo viên điều tra kết quả đầu năm, phân loại học sinh để có biện pháp dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh. + So sánh kết quả qua từng giai đoạn: đầu năm, giữa học kỳ I, cuối học kỳ I, giữa học kỳ II, cuối học kỳ II (5 lần/ 1 năm). 3- Các phương pháp khác: – Những phương pháp đặc biệt chú ý khi giảng dạy Tiếng Việt Một: miêu tả, hỏi đáp, quan sát, sử dụng đồ dùng trực quan, rèn luyện theo mẫu thực hành giao tiếp, trò chơi, nêu vấn đề. Tất cả các phương pháp trên sẽ giúp chúng tôi có một giải pháp mới, có một cái nhìn mới trong việc giảng dạy môn Tiếng Việt (giai đoạn vần) ở lớp Một. B-NỘI DUNG: I- CƠ SỞ LÝ LUẬN: – Đối với học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp Một nói riêng, các kĩ năng “nghe, nói, đọc, viết” là những kĩ năng quan trọng hàng đầu. Như chúng ta đã biết: Đọc, viết là một dạng ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó. – Đọc, viết trở thành một yêu cầu cơ bản đầu tiên đối với những người đi học. Trước tiên, trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học. – Đọc, viết là công cụ để học các môn học khác. Nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập, tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học, nó là kĩ năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh. Nếu đọc yếu (đọc sai chữ, tốc độ chậm) sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của học sinh. – Dạy tiếng Việt tức là dạy tiếng mẹ đẻ cho học sinh mà tiếng mẹ đẻ có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống mỗi con người, đó là công cụ để giao tiếp và tư duy. Lớp Một là lớp đầu cấp, mà giai đoạn học âm và vần lại là giai đoạn đầu tiên học sinh được làm quen ở môn Tiếng Việt, ở giai đoạn học vần học sinh được tiếp xúc một cách tỉ mỉ với từng con chữ để biết đọc, biết viết tiếng mẹ đẻ giúp các em học tốt môn Tiếng Việt. Vì thế, trẻ học tiếng Việt chính là học kĩ năng nghe – nói – đọc – viết tiếng mẹ đẻ, từ những lý luận nêu trên có thể khẳng định rằng giai đoạn học vần là giai đoạn quan trọng trong suốt quá trình học tiếng Việt của học sinh sau này. II- CƠ SỞ THỰC TIỄN: – Học sinh nắm được cấu tạo vần dẫn đến các em học tốt ở giai đoạn tập đọc. – Ở lớp Một rất quan trọng trong việc hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh trong từng tiết học. – Năm học 2010 – 2011 chúng tôi được giao nhiệm vụ dạy lớp 1 (2 buổi/ngày) với tổng số học sinh là: 203/ 101 nữ, trong đó: Mẫu giáo chính quy: 154/79 Chưa qua mẫu giáo: 42/ 20 Lưu ban: 7/ 2 Hầu hết các em là con em gia đình làm nông, làm thuê nên phụ huynh ít có thời gian quan tâm đến việc học của con em mình. Thông qua việc giảng dạy và kiểm tra thường xuyên với từng học sinh từ đầu năm (sau 2 tuần thực dạy) chúng tôi đã nắm được thực trạng chung về chất lượng của các em như sau: TSHS Giỏi Khá Trung bình Yếu 203 SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% 40 19,7 58 28,6 65 32,0 40 19,7 Kết quả trên cho thấy là lớp 2 buổi/ngày mà tỉ lệ học sinh yếu còn nhiều. Nếu thực trạng này kéo dài sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng không những cho môn Tiếng Việt mà còn ảnh hưởng đến các môn học khác. Kết quả đó là một sự khó khăn và trăn trở cho chúng tôi. Vì thế, chúng tôi đã tìm ra một số nguyên nhân của thực trạng đó là: 1.Về học sinh: – Do các em đã quen với môi trường ở lớp mẫu giáo chơi nhiều hơn học và hôm nay đã sang với môi trường mới (lớp Một) học nhiều hơn chơi cho nên các em còn quá bỡ ngỡ khi đến lớp, đến trường. – Sự phát triển nhận thức của học sinh cùng lứa tuổi không đồng đều, việc lĩnh hội kiến thức thiếu vững chắc. – Sự tập trung chú ý chưa cao, tư duy chưa phát triển. – Đa số học sinh còn thụ động, nhút nhát, khó nhớ, mau quên. – Chưa nắm được quy tắc đánh vần, một số em đánh vần chưa đúng quy tắc do phụ huynh dạy trước ở nhà. – Nhận thức học tập của các em còn nhiều hạn chế. – Phần đông gia đình học sinh là dân ở nhiều nơi tập trung về sinh sống, do đó, cách phát âm ở các em có nhiều sai sót, lẫn lộn như: phát âm chưa rõ, thói quen nói theo tiếng địa phương. – Học sinh thường phát âm sai các vần dễ lẫn lộn. Ví dụ: ưi/ ươi, ai/ ay, ao/ au, ăc/ ăt, ui/ iu, ăn/ ăng, an/ anh, ơi/ ưi – Bên cạnh đó, một số em chưa có ý thức học tập, không tập trung trong giờ học dẫn đến không nắm chắc hết các vần sau khi kết thúc giai đoạn vần. 2. Về giáo viên: – Chưa có trách nhiệm đối với việc rèn nền nếp học cho học sinh. – Chưa đi sâu vào cách tổ chức lớp học như thế nào cho sinh động để gây hứng thú và tính tích cực trong học tập của học sinh. – Chưa phát hiện kịp thời học sinh yếu để kèm cặp. – Dạy theo lối áp đặt và chạy theo thời gian, không dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. 3. Về phụ huynh: – Do địa bàn ở đây là biên giới, dân cư số đông là Việt kiều Campuchia về, mặt bằng dân trí không đồng đều, đời sống vật chất gặp nhiều khó khăn, nhận thức còn hạn chế, có nhiều phụ huynh chưa quan tâm đến việc học tập của con em mình, còn giao phó cho giáo viên vì cho rằng “việc học ở trường là đủ” không cần phải bận tâm kể cả những buổi nghỉ thứ bảy, chủ nhật, hoặc có quan tâm thì dạy con chưa đúng quy tắc đánh vần. Từ những ý thức sai lầm ấy đã dẫn đến chất lượng học tập của con em mình chưa cao. 4. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học: III- NỘI DUNG VẤN ĐỀ: * Phân công thành viên trong tổ: – Mỗi giáo viên chủ nhiệm chịu trách nh … – Phân loại đối tượng HS từ đó có phương pháp phù hợp với từng đối tượng HS. – Vận dụng các phương pháp / kĩ thuật dạy học vào tiết học một cách hiệu quả. – Xây dựng nề nếp học tập, sử dụng hiệu quả 15 phút truy bài đầu giờ. + Kẻ bảng con, kẻ bảng lớp, khăn ẩm. + Sắp xếp ngăn nắp đồ dùng học tập. + Thực hiện các kí hiệu lấy đồ dùng dạy học. + Xây dựng góc ngôn ngữ. + Xây dựng đôi bạn cùng tiến; sắp xếp chỗ ngồi hợp lí. – Mỗi tháng hợp 2 lần gv đưa ra các giải pháp mới để rút kinh nghiệm triển khai toàn khối thực hiện các giải pháp, phương pháp rút kinh nghiệm kịp thời. – Tăng cường làm đồ dùng dạy học. – Tham mưu với BGH để có sự chỉ đạo kịp thời. 1. Với giáo viên: – Khi dạy lớp Một người giáo viên cần chú ý coi trọng quan điểm dạy học, phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh, làm cho học sinh được đọc nhiều, viết nhiều. – Nội dung, phương pháp giảng dạy của giáo viên phải phù hợp với từng đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu. – Mặt khác giáo viên cần tăng cường những lời khen để động viên, khuyến khích các em nhằm tạo hứng thú học tập tốt cho các em. – Giáo viên phải chịu khó quan tâm đến từng cá nhân học sinh đặc biệt là học sinh yếu kém, đọc mẫu, viết mẫu đúng hướng dẫn. – Khi lên lớp giáo viên phải cố gắng khắc phục khó khăn để có đồ dùng trực quan, tranh ảnh, vật thật phục vụ cho bài dạy. Ví dụ: Những đồ dùng trực quan đơn giản: + Cái chổi dạy vần ôi. + Ngôi sao dạy vần ao. + Quả cam dạy vần am. + Cái bàn dạy vần an. + Cuộn len dạy vần en. + Cái bảng dạy vần ang. + Quả chanh dạy vần anh. + Cuốn sách dạy vần ach. + Thước kẻ dạy vần ươc. + Hộp sữa dạy vần ôp. + Tờ lịch dạy vần ich. – Trong giờ học, giáo viên phải đặc biệt chú ý cho học sinh sử dụng thật nhiều bộ chữ cái ghép tiếng Việt, giáo viên cần nghiên cứu, suy nghĩ để có thể phát huy tác dụng của bộ chữ ghép. Cần hướng dẫn tốt cho học sinh thực hành, luyện tập cá nhân ghép vần, ghép tiếng, hoặc tổ chức trò chơi, để học sinh được “học mà chơi, chơi mà học”. Ví dụ: Cho học sinh tìm vật có tên chứa vần vừa học trong số những vật mà giáo viên đã chuẩn bị để trên bàn, điều này góp phần không nhỏ trong việc gây hứng thú cho học sinh. – Ở mỗi tiết dạy Tiếng Việt (học vần) giáo viên cần nắm được những vần mà học sinh chưa nhớ, giáo viên ghi những vần đó vào bảng phụ để rèn học sinh vào 15 phút đầu giờ và các tiết buổi chiều để thuận lợi cho giáo viên kiểm tra học sinh yếu hằng ngày. – Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập, củng cố có thể thực hiện linh hoạt bằng nhiều hình thức khác nhau, cá nhân, nhóm đôi, nhóm bốn, tổ, cả lớp – Vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp, nhiều hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh là: miêu tả, giảng giải, hỏi đáp, sử dụng đồ dùng trực quan, rèn luyện theo mẫu, trò chơi. – Trong tiết dạy, khi giáo viên hướng dẫn học sinh đọc, giáo viên phải là người phát âm chuẩn xác. Ví dụ: ở bài học vần ong + Giáo viên phải đọc mẫu thật chuẩn. + Khi dạy, giáo viên cho học sinh ghép vần mới ở bộ chữ o ghép với n và g được vần ong. + Cho học sinh phân tích: o-ng-ong, đánh vần o ngờ ong. + Khi ghép tiếng mới học sinh chỉ thay phụ âm đầu để ghép, vần giữ nguyên, lúc này giáo viên đến giúp đỡ học sinh yếu, có thể gợi ý cho học sinh lấy âm đầu đã học để ghép với vần mới và nhẩm đánh vần thành tiếng mới. + Gọi học sinh đọc cá nhân. – Như vậy, giáo viên phải rèn cho học sinh yếu nắm được tất cả các âm, vần, trong lúc học giáo viên có thể ôn cho học sinh nhớ lại các âm, vần đã học. – Khi dạy vần mới, dạy theo nội dung sách giáo khoa, dạy đánh vần vần mới, hướng dẫn ghép âm, vần thành tiếng mới. – Hướng dẫn học sinh đọc từ ngữ, câu ứng dụng làm quen với cách đọc từ, cụm từ,câu ngắn, hướng dẫn học sinh viết vần mới vào bảng con. Cho học sinh luyện tập bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. – Ở giai đoạn âm giáo viên dạy cho học sinh nắm chắc tất cả các âm đã học (đọc được, viết được, ghép được tiếng). – Ở giai đoạn vần, đặc biệt là trong tiết học mới, giáo viên cần dạy cho học sinh cơ chế đánh vần đúng và chuẩn xác. Nếu học sinh chưa phát âm chuẩn ta so sánh để học sinh đọc đúng hơn. Vì vậy, giáo viên cần tìm tòi suy nghĩ dạy cho học sinh cách phát âm chuẩn để các em phát âm đúng và viết đúng chính tả ở môn Tiếng Việt và các môn học khác. Trao đổi kĩ với phụ huynh cơ chế đánh vần, tiếng. Ví dụ: đánh vần “ôi”: ô-i-ôi. Đánh vần tiếng “chổi”: chờ-ôi-chôi-hỏi-chổi. Giáo viên thường xuyên kiểm tra trong từng tiết dạy và truy bài 15 phút đầu giờ, học sinh đọc nhiều, viết nhiều, giáo viên đặt ra những câu văn ngắn có các vần dễ lẫn lộn để học sinh luyện đọc nhiều. – Giai đoạn vần giáo viên dạy cho học sinh nắm chắc tất cả các vần đã học (đọc được, viết được, ghép được tiếng). 2. Với học sinh: Phân loại học sinh để có kế hoạch bồi dưỡng, phụ đạo cụ thể: Đối với học sinh khá giỏi: – Nâng cao hơn khi học sinh đã có được khả năng căn bản về nghe, nói, đọc, viết, tìm nhiều tiếng, từ có chứa vần vừa học. Ví dụ: bài vần im Tím, kim, mỉm, nhím, thím, phim Màu tím, kim chỉ, con nhím, mỉm cười, chú thím, bộ phim – Đối với phát triển lời nói tự nhiên thì giáo viên có thể hỏi để học sinh trả lời câu dài hơn và đảm bảo tròn câu, đủ ý, nói lưu loát hoặc khi viết không chỉ viết đúng mà phải đẹp sắc sảo từng nét viết, động viên khuyến khích học sinh có ý thức tự giác học ở mọi lúc, mọi nơi. Đối với học sinh khá: – Theo dõi sự chú ý của học sinh, kiểm tra kịp thời sự tiếp thu bài phân tích sai lầm và hướng dẫn sửa chữa. – Tìm cách nâng dần những kĩ năng, kiến thức đã đạt được, hoàn thiện hơn vốn tiếng Việt cho học sinh. Đối với học sinh trung bình-yếu: – Học sinh yếu phải được sắp xếp ngồi ở đầu bàn hai dãy để giáo viên lên xuống, tiện việc quan tâm và uốn nắn các em. Đồng thời, mỗi học sinh yếu sẽ ngồi với một học sinh khá giỏi, bởi vì có câu: “học thầy không tày học bạn” sẽ giúp các em thực hiện tốt phong trào “đôi bạn cùng tiến”. – Ngoài ra trong giờ học, mỗi học sinh có một tấm bìa cứng màu trắng kích thước 15 x 20cm dùng để kê tay trong khi viết và cũng là phương tiện học vần rất tốt: Giáo viên dạy bài nào thì khi phân tích vần xong học sinh sẽ tự tay mình viết vần đó vào tấm bìa theo thứ tự. Ví dụ: Hôm nay học vần “ui, ưi” thì tấm bìa của các em đã ghi: ia, ua, ưa, oi, ai, ôi, ơi, học sinh sẽ ghi tiếp vần ui, ưi vào sau vần “ơi” để các em khắc sâu, nhớ lâu hơn và một lần nữa tự khẳng định lại kiến thức mình vừa học. – Mỗi học sinh có một bộ chữ cái tiếng Việt để học sinh ghép tiếng sau khi giáo viên giới thiệu từ khóa. – Mặt khác, giáo viên cần tổ chức, hướng dẫn cho học sinh thói quen tự học vần, tiếng, từ qua hình ảnh các con vật, truyện, sách, báo được trưng bày ở “Góc ngôn ngữ” vào các giờ chơi, các tiết hoạt động ngoài giờ để các em khắc sâu và ghi nhớ các vần đã học. – Bên cạnh đó giáo viên thường xuyên tổ chức cho các em tham gia vào các trò chơi như: hái quả tìm vần, bốc thăm tên các con vật có chứa vần đã học, chọn đồ vật được chuẩn bị sẵn ở “Góc ngôn ngữ” đọc tên và nói tên vần; tổ chức cho học sinh đọc truyện theo nhóm đôi để các em được tiếp xúc với mặt chữ nhiều và gây sự hứng thú trong học tập. 3. Với phụ huynh: – Tăng cường các cuộc họp phụ huynh sau các giai đoạn (giữa học kì I- cuối học kì I- giữa học kì II- cuối học kì II) để báo cáo kết quả học tập của các em đồng thời vận động cha mẹ học sinh phối hợp chặt chẽ hơn trong việc giáo dục học sinh làm cho mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường ngày càng tốt đẹp. – Bên cạnh đó giáo viên có thể trao đổi với phụ huynh về cơ chế đánh vần, tiếng, để phụ huynh có thể kèm thêm con em mình ở nhà. Ví dụ: đánh vần “ôi”: ô-i-ôi. Đánh vần tiếng: “chổi” chờ-ôi-chôi-hỏi-chổi. Đồng thời tự chọn những biện pháp mới giúp dạy và học có hiệu quả hơn. IV- KẾT QUẢ: Qua từng bước thực hiện những biện pháp mới vào thực tiễn khối 1, kết quả môn Tiếng Việt đạt được ở các giai đoạn như sau: Các giai đoạn Lớp Tổng số học sinh Giỏi Khá Trung bình Yếu SL TL % SL TL % SL TL % SL TL % GHKI 1A 70 34,5 60 29,6 53 26,1 20 9,8 1B 74 34,5 58 28,6 54 26,6 17 8,3 1C 1D 1E 1G TC 203 CHKI 1A 1B 1C 1D 1E 1G TC 203 GHKII 1A 1B 1C 1D 1E 1G TC 203 Bên cạnh những ưu điểm, đề tài vẫn còn những mặt hạn chế: một số học sinh còn thụ động, chưa hăng say trong học tập, vẫn còn học sinh yếu. Vì vậy, từ đây đến cuối năm chúng tôi sẽ nghiên cứu thêm và bổ sung những biện pháp mới để tạo sự hứng thú học tập nhằm hạn chế số học sinh yếu. C- KẾT LUẬN: I-BÀI HỌC KINH NGHIỆM : Khi vận dụng đề tài vào thực tiễn, chúng tôi nhận thấy để nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn vần) cho học sinh cần phải: + Vận dụng linh hoạt nhiều biện pháp, nhiều hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh là những ưu điểm lớn nhất của phương pháp dạy học Tiếng Việt Một (giai đoạn vần) do đó, giáo viên cần thực hiện tốt việc rèn học sinh yếu trong từng tiết dạy. + Sắp xếp một cách khoa học về chỗ ngồi của từng đối tượng học sinh, đồng thời có tính thực tế trong việc sử dụng phương pháp dạy học, vận dụng triệt để bộ chữ cái mà học sinh ghép vần và tiếng trong mỗi tiết dạy để học sinh nắm vững về vần hơn. + Tổ chức lớp học sinh động với vai trò: “thầy chủ đạo, trò chủ động” nhằm phát huy tính tích cực khả năng độc lập của học sinh. + Áp dụng đổi mới phương pháp dạy và học nâng cao năng lực của học sinh mà vẫn đảm bảo tiết học nhẹ nhàng, thoải mái, để học sinh“học mà chơi, chơi mà học”. + Giáo viên cần phải có sự chuẩn mực trong cách đọc: đọc đúng, phát âm chính xác, to, rõ ràng. + Giáo viên phải có sự kiên trì, nhẫn nại và dịu dàng khi rèn đọc, viết cho học sinh. + Phải có sự kết hợp chặt chẽ với phụ huynh để hướng dẫn các em rèn luyện thêm khi ở nhà. III- HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP: Từ kết quả đã đạt được khi vận dụng những biện pháp nâng cao chất lượng giai đoạn vần, hướng nghiên cứu tiếp của chúng tôi là: “Biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn tập đọc)” vào năm học tới 2010 – 2011. —— ****** ——

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh

Giải pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Anh

Phòng GD & ĐT Bắc Sơn Trường THCS TT Bắc Sơn CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Thị trấn Bắc Sơn, ngày 14 tháng 10 năm 2010 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN tiÕng ANH THCS I .Khái quát tình hình chung 1.Đánh giá chung: Mục tiêu chung của giáo dục bậc phổ thông là : Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc . 2,Kết quả giáo dục 3 năm gần đây. – Năm học 2008-2009 : Giỏi : 11% Khá : 17% TB :57% Yếu : 15% – Năm học 2009-2010 : Giỏi : 12% Khá : 18% TB :59% Yếu : 11% – Năm học 2010-2011 : Giỏi : 12,5% Khá : 21,5% TB :56% Yếu : 10% II,Nguyên nhân chất lượng học tập của học sinh còn thấp a/ Đối với học sinh : -Học sinh chưa nhận thức đúng động cơ và mục đích học tập, chưa có quyết tâm và nhiệt tình học tập, môi trường học tập chưa tốt . -Nhiều học sinh học yếu, không theo kịp các bạn trong các môn học tiếng việt chưa đọc thông viết thạo vì thế đọc và viết môn Tiếng Anh càng khó khăn hơn nhiều. (Thiếu kiến thức, kỹ năng, khả năng để học tập lớp đang học : ngồi nhầm lớp) sinh ra chán học, lười học. 1 -Học sinh chưa có phương pháp học tập khoa học, hầu hết là học thụ động, lệ thuộc vào các loại sách bài giải (chép bài tập vào vở nhưng không hiểu gì cả)thi cử thì hay quay cóp. – Chưa có phong trào học nhóm, học tổ do đó không có thời gian nghiên cứu để biến kiến thức của SGK thành kiến thức cho mình, nên khi bị trật bài mẫu, bài tủ thì điểm yếu kém . b/Đối với cha mẹ học sinh: Một bộ phận lớn cha mẹ học sinh xác định mục đích cho con đi học còn lơ mơ, thiếu quan tâm hoặc quan tâm không đúng mức đến học tập của con cái, còn khoán trắng cho nhà trường , sự phối hợp giữa nhà trường và phụ huynh chưa tốt vì bố mẹ các em chủ yếu là nông dân. c/ Đối với chương trình và sách giáo khoa Tiếng Anh: Chương trình học còn nặng nề, cung cấp kiến thức sự kiện là chính, nhiều học sinh không theo kịp chương trình, nội dung nhiều trong một tiết học nên giáo viên khó thực hiện đổi mới PP dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của HS vì sợ cháy giáo án. Đề kiểm tra của phòng thì phù hợp với nội dung sách giáo khoa mà các em đã được học còn đề của sở chưa được bám sát trương trình sách giáo khoa nhất là đề thi vào 10 chỉ có những em khá …

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay

(Quanlynhanuoc.vn) – Dân số vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, do đó, công tác dân số luôn là một trong những vấn đề rất được quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới ở mọi thời đại bởi dân số và phát triển có mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Muốn tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội phải dựa vào yếu tố cơ bản là nguồn nhân lực, mà nguồn nhân lực lại gắn liền với sự biến đổi dân số về cả số lượng và chất lượng; đồng thời sự biến đổi dân số còn thúc đẩy quá trình phát triển nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng dân số sẽ tạo nền tảng cho sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững của mỗi quốc gia.

Thực trạng chất lượng dân số của Việt Nam

Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số. Chất lượng dân số ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển được tổ chức tại Cairo (Ai Cập) năm 1994 đã đề cập đến chất lượng dân số. Chương trình hành động của Hội nghị đã nhấn mạnh: “Con người là nguồn lực quan trọng nhất, do đó để phát triển bền vững thì phải nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người”. Nhiều nước khu vực châu Á như: Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, Thái Lan, Ma-lai-xi-a… đã đưa mục tiêu nâng cao chất lượng dân số vào các chương trình dân số – kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ), lồng ghép vào các chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế – xã hội.

Ở Việt Nam, công tác dân số luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, coi đó là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội. Sự phát triển bền vững của đất nước chủ yếu trong tương lai dài hạn là dựa vào năng suất lao động, tức là dựa vào chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng dân số. Đó là yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.

Những năm qua, công tác dân số của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Năm 2019 là năm thứ 13 liên tiếp Việt Nam duy trì được mức sinh thay thế. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê, quy mô dân số Việt Nam đạt 96,2 triệu người, đứng vị trí thứ 15 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á 1.

Chất lượng dân số được cải thiện về nhiều mặt. Tuổi thọ trung bình tăng nhanh, đạt 73,4 tuổi năm 2016, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Tình trạng suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em giảm mạnh. Tầm vóc, thể lực người Việt Nam có bước cải thiện. Dân số đã có sự phân bố hợp lý hơn, gắn với quá trình đô thị hoá, công nghiệp hóa và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh

Tuy nhiên, hiện nay chất lượng dân số còn hạn chế, chỉ số phát triển con người (HDI) còn thấp, chậm được cải thiện. Tuổi thọ bình quân là 73,5 tuổi, nhưng số năm trung bình sống khỏe mạnh còn thấp, chỉ đạt 64 tuổi. Tầm vóc, thể lực của người Việt Nam chậm được cải thiện, trong 30 năm chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam chỉ tăng được 3 cm. Tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống còn nhiều ở một số dân tộc ít người. Việc bảo vệ và phát triển dân số các dân tộc có dưới 10.000 người còn hạn chế, đặc biệt là những dân tộc thiểu số rất ít người có nguy cơ suy giảm giống nòi 2.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong công tác dân số nói chung và nâng cao chất lượng dân số nói riêng nhưng nguyên nhân cơ bản là do:

Thứ nhất, quản lý nhà nước về dân số còn bất cập;một số cơ chế, chính sách về dân số chậm đổi mới; tổ chức bộ máy thiếu ổn định, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác dân số và KHHGĐ ở cấp cơ sở còn thấp; chức năng, nhiệm vụ chưa được điều chỉnh phù hợp với diễn biến tình hình dân số.

Thứ hai, nguồn lực đầu tư cho công tác dân số, KHHGĐ còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu trong giai đoạn mới; các nội dung về dân số trong phát triển kinh tế – xã hội còn chưa được chú trọng đúng mức.

Thứ ba, công tác truyền thông, giáo dục về dân số ở một số khu vực, nhóm đối tượng hiệu quả chưa cao, chưa phối hợp và phát huy được tốt vai trò của các tổ chức đoàn thể, của nhà trường.

Thứ tư, nội dung truyền thông, cung cấp dịch vụ chưa toàn diện, chủ yếu tập trung vào KHHGĐ.

Thứ năm, nhận thức và tiếp cận sớm với tư vấn và khám sức khỏe trước hôn nhân cũng như hoạt động tầm soát, chẩn đoán, điều trị sớm bệnh, tật trước sinh và sơ sinh còn hạn chế, dẫn đến vẫn có những đứa trẻ sinh ra bị hội chứng Down, dị tật bẩm sinh, tăng động, tự kỷ.

Giải pháp nâng cao chất lượng dân số Việt Nam hiện nay

Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về công tác dân số trong tình hình mới đã nêu rõ: “Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng-an ninh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững”. Do đó, mục tiêu nâng cao chất lượng dân số được coi là một trong những chính sách cơ bản của Nhà nước, là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, có tính chất quyết định đến công cuộc phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Để nâng cao chất lượng dân số đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn hiện nay cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau đây:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với công tác dân số và phát triển. Xác định nâng cao chất lượng dân số không chỉ là nhiệm vụ của ngành Y tế mà còn là trách nhiệm của các bộ, ngành, chính quyền địa phương, của mỗi cá nhân, gia đìnhvà toàn xã hội. Đảng, Nhà nước cần tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người có công với cách mạng, người khuyết tật để nâng cao chất lượng dân số.

Hai là, kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân số từ trung ương đến cơ sở theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả; củng cố mạng lưới và đổi mới phương thức cung cấp dịch vụ KHHGĐ để góp phần thực hiện tốt chính sách dân số nhằm nâng cao chất lượng dân số trong tình hình mới.

Ba là, đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục với các hình thức phù hợp đến tất cả các tầng lớp nhân dân để nâng cao nhận thức, hành động về dân số và phát triển về các vấn đề duy trì vững chắc mức sinh thay thế, giảm chênh lệch mức sinh giữa các vùng, đối tượng; giảm thiểu tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển đất nước nhanh, bền vững; thích ứng với già hóa dân số đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Tăng cường tuyên truyền tư vấn, hỗ trợ nâng cao sức khỏe thể chất, trí tuệ và tinh thần cho các nhóm đối tượng đặc biệt; triển khai các mô hình cung cấp dịch vụ và vận động để tăng sự chấp nhận sàng lọc sơ sinh tại cộng đồng.

Bốn là, xây dựng và triển khai thực hiện cơ chế lồng ghép các yếu tố dân số trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế – xã hội; đẩy mạnh nghiên cứu về dân số và phát triển, trọng tâm là chất lượng và lồng ghép yếu tố dân số vào kế hoạch phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực.

Sáu là, phối hợp chặt chẽ các ngành, các cấp để thực hiện các biện pháp nâng cao tầm vóc, thể lực và trí tuệ của con người Việt Nam, đặc biệt sự phối hợp tích cực của hệ thống y tế chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em, vị thành niên, người cao tuổi và sự tham gia của ngành Giáo dục. Đồng thời, xây dựng và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân, tăng cường các dịch vụ xã hội chủ yếu có ảnh hưởng tới chất lượng dân số; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học ứng dụng phục vụ nâng cao chất lượng dân số.

Bảy là, Nhà nước tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện tốt các mô hình, đề án nâng cao chất lượng dân số như sàng lọc trước sinh và sơ sinh; mô hình tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân; mô hình giảm tỷ lệ tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống và đề án tư vấn và chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng.

Các Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán

CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁNI. Bối cảnh chất lượng bộ môn toán đầu năm học 2008-2009 của nhà trường và những nguyên nhân. Qua khảo sát chất lượng đầu năm học ở bộ môn toán các khối lớp từ 6 đến 9 có kết quả cụ thể như sau:

Với con số đã nêu kết hợp với thực tế nắm bắt phần nào phản ánh chất lượng bộ môn toán vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà trường và phụ huynh. Sở dĩ chất lượng đầu vào có tỉ lệ thấp như vậy là do nhiều nguyên nhân. Có thể nêu ra đây một số nguyên nhân để cùng tham khảo. 1. Đặc điểm rõ nét nhất của ngôi trường THCS Chu Văn An là ngôi trường đặt ở vị trí không trung tâm, đường sá đi lại không thuận lợi, cơ sở vật chất còn thiếu thốn lại ở cạnh 2 ngôi trường lớp có điều kiện thuận lợi hơn về nhiều mặt. Bên cạnh đó dự án trường sắp chuyển đi nơi khác phần nào gây tâm lý hoang mang nên sức thu hút học sinh ngày càng giảm sút. Đặc biệt số học sinh giỏi ở trường Lê Văn Tám chuyển đi nơi khác ngày càng nhiều gây ảnh hưởng không ít đến chất lượng mũi ngọn cũng như tạo hạt nhân cho phong trào thi đua học tốt của nhà trường. 2. Trên địa bàn Phường An Sơn có một số khu dân cư do đặc điểm nghề nghiệp nên việc quan tâm đến việc học tập của con em cũng chưa cao, môi trường sinh hoạt cũng phần nào ảnh hưởng đến việc học tập của các em. Trường thu hút con em thuộc địa bàn (khu Bến Sạn, làng giết mổ An Thổ, nay lại thêm các tụ điểm vui chơi Karaoke, bi da, café, các quán nhậu mọc lên rất nhiều trên địa bàn phường). 3. Chất lượng đầu vào lớp 6 còn thấp. Trình trạng ngồi nhầm lớp vẫn còn làm ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức của các em. 4. Một số học sinh có hoàn cảnh đặc biệt về hạnh phúc gia đình, về hoàn cảnh kinh tế. Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình. 5. Một bộ phận học sinh chưa xác định được động cơ, thái độ học tập, chưa thực sự có tinh thần vượt khó, vươn lên mà còn chây lười, thụ động trong học tập. 6. Do đặc điểm của môn toán là bộ môn suy luận loogic, nó đòi hỏi học sinh không những phải nắm vững kiếm thức về định nghĩa, định lý, hệ quả, tính chất, quy tắc,… một cách cơ bản có hệ thống mà còn phải biết suy luận, phân tích, tổng hợp, lập luận. Nói chung, là bộ môn hơi khó học nên tỉ lệ học sinh yếu kém tương đối cao so với các môn khác. 7. Một số em vì nhiều lí do khác nhau đã hỏng kiến thức cũ, nay lại phải tiếp thu kiến thức mới nên rất vất vả, đâm ra chán nãn, chây lười, quậy phá dẫn đến chất lượng yếu kém.8. Về phần giáo viên: Một bộ phận giáo viên vẫn chưa theo kịp với yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục nên việc dạy học ở một số tiết chưa thực sự có chất lượng.II. Những giải pháp mà nhóm đã thực hiện nhằm từng bước nâng cao chất lượng học sinh yếu kém môn toán. Qua thực tế tình hình chất lượng, nhóm đã suy nghĩ, đánh giá và bàn bạc biện pháp để từng bước nâng cao chất lượng yếu kém bộ môn toán, cụ thể như sau: 1. Ngay từ đầu năm học các giáo viên bộ môn điều tra, nắm chắc đối tượng học sinh yếu kém môn toán của lớp mình đang giảng dạy là bao nhiêu? Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm để phân loại đặc điểm từng đối tượng: Yếu do hoàn cảnh gia đình? Yếu do hỏng kiến thức cũ? Yếu do lười học? Yếu do trí tuệ hạn chế? Yếu vì ảnh hưởng môi trường bạn bè? Để có thái độ và biện pháp thích hợp. 2. Trên cơ sở điểu tra phân loại ban đầu mà giáo viên có cách nhìn nhận và thái độ ứng xử cho phù hợp: Nhẹ nhàng, bảo ban, động viên, khích lệ đối với các em có hoàn cảnh đặc biệt hoặc mất căn bản, đồng thời nghiêm nghị, cứng rắn đối với các em chây lười, quậy phá với mục đích chung là để các em phấn khởi, tin tưởng và nổ lực trong học tập. 3. Trong giảng dạy nói chung và trong từng bài học cụ thể, phải có sự chú ý giúp đỡ đối tượng yếu, kém thông qua câu hỏi gợi mở, bài tập (công việc này phải thực hiện ngay trong thiết kế bài giảng, và ngay cả kiểm tra bài cũ cũng có những câu hỏi dành cho học sinh yếu kém để động viên, diều dắt các em. 4. Thường xuyên động viên, hướng dẫn các em cần phải nắm vững lý thuyết, vì kiến thức toán học là môn suy luận loogic nếu không nắm vững hệ thống lý thuyết thì không thể hiểu được khi nghe giảng chứ chưa nói gì việc giải bài toán. Để làm được việc này thì giáo viên cần giúp đỡ học sinh cách học dễ ghi nhớ, dễ thuộc, lâu quên. Có thể là như: Công thức thì luôn ghi nhiều nơi ở nhà để lúc nào cũng đập vào mắt buộc phải nhớ hoặc ghi vào sổ tay bỏ túi thỉnh thoảng mở ra xem dù bất cứ ở đâu. Học định lý thì phải vẽ hình, từ hình vẽ tưởng tượng đó để suy luận xây dựng thành lời, thỉnh thoảng giáo viên còn cung cấp thơ vui để các em dễ nhớ, dễ vận dụng. 5. Giáo viên cần cung cấp cho học sinh quy trình các bước giải một bài toán. B1: Tìm hiểu về bài toán: Đọc thật kỹ đề toán. Cú ý các chi tiết nổi bậc, khắc sâu từng ý cơ bản là lưu ý mối quan hệ của chúng. B2: Tìm lời giải: Xét xem bài toán thuộc dạng nào? Phương pháp chứng minh ra sao? B3: Thực hiện lời giảng: Trình bày bài viết lập luận của mình B4: Kiểm tra lại bài giải và thử tìm xem phương pháp khác để giải bài toán trên hoặc phát triển một bài toán mới từ bài toán đã cho. Đặc biệt khi giảng dạy hình học ta cần hướng dẫn các em phương pháp chứng minh bằng con đường phân tích đi lên một cách có hệ thống. Trước tiên bằng câu hỏi tổng quát dành cho học sinh giỏi, sau đó triển khai phương pháp bằng một loạt câu hỏi dẫn dắt để học sinh yếu kém tham gia xây dựng theo cơ sở phân tích. Tiếp theo yêu cầu đối tượng khá giỏi trình bày bài toán giải bằng lời và cuối cùng cho đối tượng cho đối tượng yếu kém trình bày lại bài viết để lớp nhận xét, bổ sung. Thực hiện theo quy trình này tuy mất thời gian nhưng thà rằng làm ít mà chắc, phục vụ nhiều cho đối tượng yếu, kém còn hơn là dạy nhiều nhưng chỉ phục vụ cho học sinh khá, giỏi. Do vậy, bài tập cần nghiên cứu phân dạng để rồi mỗi dạng chỉ giải một bài mẫu, các bài còn lại học sinh về nhà làm tương tự theo cách đã giải. 6. Giáo viên cần chú ý và coi trọng bước hướng dẫn về nhà. Để giúp cho học sinh yếu, kém có thể tiếp thu bài mới thì giáo viên cần nghiên cứu kỹ nội dung bài mới và đề ra các yêu cầu cần thiết để học sinh chuẩn bị. Ví dụ: Khi chuẩn bị bài dạy “Góc có đỉnh bên trong và ngoài đường tròn” thì yêu cầu học sinh về học lại tính chất góc ngoài của một tam giác ở hình học 7, tính chất góc nội tiếp ở hình học 9. Có như thế thì việc hiểu được chứng minh định lý của bài trên đối với học sinh yếu, kém là dễ dàng. Nếu không có hướng dẫn trước thì các em không biết chuẩn bị điều gì và dẫn đến việc tiếp thu bài mới rất khó khăn. 7. Giáo viên bộ môn kết hợp với giáo viên chủ nhiệm để phân đôi bạn học tập hoặc nhóm bạn học tập (cơ cấu có đối tượng khá, giỏi và yếu, kém với nhau) trong đó chú ý giao nhiệm vụ cho các học sinh khá, giỏi giúp đỡ học sinh yếu kém và cần thiết đề ra các biện pháp cụ thể để thúc đẩy việc hoạt động của các nhóm có hiệu quả. Ví dụ: khi được kiểm tra đối tượng yếu, kém của nhóm mà không thuộc bài hoặc chưa làm bài thì cả nhóm cùng liên đới chịu trách nhiệm). Có như thế các em mới nhắc nhở, giúp đỡ nhau tích cực. 8. Giáo viên cần tận dụng các tiết phụ đạo hoặc bám sát để củng cố, hệ thống, ôn tập lại các kiến thức đã học. Cung cấp cho các em phương pháp chứng minh. Việc này rất cần thiết đối với học sinh yếu, kém. Và đây cũng là dịp để giáo viên tháo gỡ những băn khoăn, thắc mắc của học sinh, muốn vậy đòi hỏi giáo viên phải phân giải, thân thiện để các em mạnh dạn tỏ bày những trăn trở trong việc học toán (giáo viên nên động viên khuyến khích các đối tượng yếu, kém hỏi.Việc tháo gỡ được nhiều thắc mắc này cho các em xem như một thành công lớn của một tiết dạy bằng các hình thức phong phú để tạo không khí vui vẻ, thỏa mái, thích thú trong học tập (Chú ý các tiết sinh hoạt này nhằm đế các đối tượng yếu, kém là chính để đảm bảo mục đích từng bước nâng cao chất lượng học toán của học sinh yếu kém). 9. Giáo viên thỉnh thoảng liên hệ với phụ huynh qua điện thoại (Ghi chép ở giáo viên chủ nhiệm) những trường hợp cần thiết nhằm mục đích phối hợp để giáo dục tốt. (nếu đối tượng có nhiều tiến bộ đáng khen thì báo phụ huynh biết để mừng và tiếp tục động viên – nếu đối tượng chậm tiến bộ, ì ạch, chây lười thì cũng báo để phụ huynh biết và cùng phối kết hợp nhắc nhở, động viên, giáo dục thích đáng hơn).III. Kết luận: Với những công việc là cụ thể bằng những biện pháp tích hợp nêu trên, chúng tôi nhận thấy chất lượng học tập của học sinh yếu kém môn toán từng bước có chuyển biến, tiến bộ. Một số em đã từng lo sợ môn học này, nay lại có khuynh hướng thích học. Từng bước gây được không khí ham học, tỷ lệ yếu, kém giảm dần. Chất lượng thống kê cuối năm 2008-2009 cho thấy điều đó.

IV. Những bài học kinh nghiệm: Qua kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy, bằng các việc làm cụ thể, bằng biện pháp thích hợp, chúng tôi rút ra được một số kinh nghiệm để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém môn toán như sau: 1. Phải yêu nghề, mến trẻ, luôn tận tâm với công việc, hết lòng hết sức với học sinh thân yêu. 2. Luôn khơi dậy và phát triển năng lực tự học, nhằm hình thành tư duy tích cực, độc lập sáng tạo, nâng cao năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề ở học sinh. 3. Kết hợp chặt chẻ giữa ôn bài cũ, giảng bài mới, rèn luyện kỹ năng tư duy, phương pháp học tập, từng bước nâng cao năng lực lập luận, phân tích, tổng hợp cho học sinh. 4. Tăng cường học tập cá thể với học tập nhóm, phải có mối quan hệ hợp tác giữa cá nhân trên con đường tìm tòi, phát hiện kiến thức mới. 5. Phát huy vai trò chủ động của học sinh, phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh, nhận xét, góp ý cách phát biểu, cách làm bài của bạn, trách vấp phải sai lầm, tìm nguyên nhân sai lầm và nêu cách sửa chữa. 6. Giáo viên cần phải chuẩn bị bài kỹ, phân loại các bài tập, phân loại phương pháp giải, phân loại theo mức độ phát triển tư duy. 7. Giáo viên dạy toán cần quán triệt tinh thần “Tư duy quan trọng hơn kiến thức; nắm vững phương pháp hơn thuộc lý thuyết, dạy cách suy nghĩ, cách tư duy, cách phân tích, cách tổng hợp và thường xuyên cung cấp cho các em phương pháp học toán”

Bạn đang đọc nội dung bài viết Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Việt (Giai Đoạn Vần) trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!