Đề Xuất 5/2022 # Bệnh Lý Thú Y C4 # Top Like

Xem 12,672

Cập nhật nội dung chi tiết về Bệnh Lý Thú Y C4 mới nhất ngày 28/05/2022 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 12,672 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Gốc Các Tế Bào Tham Gia Trong Đáp Ứng Miễn Dịch
  • Nêu Đặc Điểm Và Vai Trò Của Các Bạch Cầu
  • Tăng Bạch Cầu Đơn Nhân Là Gì? Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Cách Điều Trị
  • Thực Phẩm Chức Năng Tăng Cường Hệ Miễn Dịch Hiệu Quả
  • Nguyên Nhân Bệnh Viêm Họng Bạch Cầu Tăng
  • 5. Các tế bào viêm

    Các tế bào tăng sinh trong ổ viêm được gọi chung là các tế bào viêm, bao gồm:

    a. Bạch cầu đa nhân trung tính (Neutrophil)

    Nguồn gốc từ tuỷ xương, hình tròn, đường kính 10 – 11?. Nhân phân thuỳ, bào tương chứa nhiều hạt trung tính. Các hạt này chứa nhiều loại enzim. Có hơn 60 enzim. BCĐNTT di động kiểu amip và có thể trườn trên các sợi tơ huyết. Xác của chúng là thành phần chính của mủ. BCĐNTT có tính hoá ứng động dương đối với mô bào hoại tử và nhanh chóng bao vây để hoá lỏng và tiêu đi.

    b. Bạch cầu ưa toan (Eosinophile)

    Là loại bạch cầu có hạt nhưng khác với bạch trung tính ở chỗ hạt to hơn và bắt màu rất mạnh với phẩm nhuộm axit – eosin.

    Chúng được sinh ra từ tuỷ xương, ở mô bào, chúng chủ yếu ở thành ruột, phổi, da và âm đạo.

    ở đây cần lưu ý một số sản phẩm như protein kiềm có vai trò trong việc trung hoà heparin và làm hư hại giun sán, arylsulfataza B có tác dụng bất hoạt chất phản ứng chậm SRS-A (Slow reacting substance of allergy) do Mastocyte giải phóng ra.

    Histaminaza bất hoạt Histamin và phospholipaza D có tác dụng bất hoạt yếu tố hoạt hoá tiểu cầu PAF (Platelat activating factor).

    Bạch cầu ưa toan tăng lên và có vai trò quan trọng trong các phản ứng dị ứng và trong một số bệnh kí sinh trùng và bệnh ngoài da.

    Chúng xuất hiện nhiều trong phản ứng Arthus, trong một số u hạt, trong dịch rỉ viêm ở màng não lợn khi ngộ độc muối ăn, trong viêm cơ toan tính (Eosinophilic myositis) ở bò.

    Chúng có thể thực bào và tạo mủ nếu có số lượng lớn.

    c. Bạch cầu ưa kiềm (basophile) và dưỡng bào (mastocyte)

    Hai loại tế bào này rất gần gũi nhau về mặt chức năng và có nhiều đặc điểm giống nhau như trong nguyên sinh chất chứa hạt thô bắt màu xanh đen khi nhuộm bằng phương pháp thông thường và có trạng thái loạn sắc (metachromatic) (chúng bắt màu đỏ hồng rồi xanh khi nhuộm Toluidin blue) vì chúng chứa nhiều sulfat mucopolysaccarit, nhất là heparin. Bạch cầu ưa kiềm có nguồn gốc từ tuỷ xương, số lượng ít nhất trong các loại bạch cầu trong máu.

    Về kích thước hình thái giống bạch cầu trung tính .

    Dưỡng bào (mastocyte) là tế bào tổ chức liên kết có hạt, không có trong máu mà nằm trong mô liên kết của nhiều cơ quan. Chúng có mặt nhiều nhất ở các vị trí dễ tiếp xúc với ngoại cảnh như da, đường hô hấp, tiêu hoá. Người ta thường phát hiện chúng ở niêm mạc ruột, tử cung, da, lưỡi, huyết quản, bàng quang (ở người); da, lưỡi, gan, phổi, tim (chó); màng bao gan (thỏ); lưỡi, dạ dày,gan, ruột (chuột cống). Về kích thước tế bào này lớn hơn tế bào ưa toan, có một nhân. Trong hạt nguyên sinh chất có chứa các axit amin: Histidin, tylosin, tryptophan, histamin và heparin. Các enzim photphataza, histaminodecarboxylaza 5 – hydoxytryptophan, decarboxylaza, hydroxylaza. Các hạt của chúng còn chứa polysaccarit có phân tử lượng lớn gắn với protein, trong đó có các axit amin kể trên, hai loại tế bào này có vai trò trong phản ứng phản vệ và dị ứng do IgE gây ra.

    BCĐNL (monocyte) và ĐTB(macrophage)

    BCĐNL(Monocyte) ở máu có đặc điểm nhân to, xốp, hình hạt đậu

    Monocyte bắt nguồn từ tế bào nguồn (stem cells) tuỷ xương biệt hoá thành nguyên bào mono (monoblast) rồi tiền mono (promonocyte) rồi tế bào mono trong máu, chúng lưu hành trong máu 24 – 48 giờ rồi thoát mạch đến cư trú tại các mô khác nhau trong cơ thể. Ở đây các mono tiếp tục thành thục để trở thành ĐTB. Ngày nay người ta xếp các tế bào trong hệ này vào một hệ thống chung là ” hệ đơn nhân thực bào” (Mononuclear phagocyte system – MPS)

    HÖ c¸c tÕ bµo ®¬n nh©n thùc bµo

    TÕ bµo N¬i c­ tró

    C¸c tÕ bµo nguån ë tuû x­¬ng

    Monoplast ë tuû x­¬ng

    TiÒn mono ë tuû x­¬ng

    TÕ bµo mono Tuû x­¬ng vµ m¸u

    §¹i thùc bµo Trong c¸c tæ chøc

    (Histiocyte) – M” liªn kÕt

    (TÕ bµo Kuffer) – Gan

    (§¹i thùc bµo phÕ nang) – Phæi

    (§¹i thùc bµo tù do vµ cè ®Þnh) – H¹ch limpho, l¸ch

    (§TB) – Tuû x­¬ng

    (§¹i thùc bµo phóc m¹c, phÕ m¹c) – Xoang thanh m¹c

    (Osteoclast) – M” x­¬ng

    (Microglia) – HÖ thÇn kinh

    Chức năng thực bào

    Về hình thái và kích thước, các ĐTB khác hẳn tế bào đơn nhân lớn. ĐTB có NSC rộng bắt mầu xanh xám, nhân lớn và hình dạng không nhất định, phụ thuộc vào mức độ thành thục. Chúng có nhiều bộ máy Golgi và lyzosom. Trong NSC còn chứa các “không bào”, có vai trò quan trọng trong thực bào và ẩm bào; NSC của chúng còn kéo dài ra thành những bộ phận gọi là “chân giả” có tácdụng khi tế bào di động. Trên bề mặt ĐTB có hai loại thụ thể: dành cho Fc và dành cho bổ thể. Vì vậy ĐTB có thể ăn cả phức hợp KN đã được opsonin hoá. Tại ổ viêm, sau khi nhận kích thích của các lymphokin thì khả năng thực bào tăng lên gấp bội, chúng đóng vai trò như một “vệ sinh viên” làm sạch các ổ viêm

    Chức năng chế tiết của đại thực bào

    Các chất tiết của ĐTB có chia thành 3 loại:

    Các enzym phân giải protein ngoại bào:

    – Các hoạt chất Plasminogen đó chính là các proteaza có khả năng cắt Plasminogen thành plasmin tham gia phân giải fibrin, các chất hoạt hoá Plasminogen được tiết ra cùng với Plasminogen trong máu tạo ra hệ thống tiêu fibrin.

    – Collagenaza và elastaza

    – Các proteaza, Photphataza axit, - glucuronidaza…

    Các enzim phân giải protein ngoại bào của đại thực bào tiết ra có vai trò rất quan trọng trong việc phân giải dịch rỉ viêm, thu dọn xác chết của vi sinh vật, tế bào chết trong các ổ viêm, tạo điều kiện cho quá trình lành của vết thương.

    Các sản phẩm tham gia vào sự đề kháng

    – Lysosym đó là một protein có tác dụng phá vỡ vách vi khuẩn.

    – Các yếu tố bổ thể: C2; C3; C4; C5

    – Interferon có trọng lượng phân tử 45.000 đ.v.

    Các yếu tố có khả năng hoạt hoá các tế bào xung quanh

    – Protein kích thích phân bào, đặc biệt là kích thích sự phân chia của thymô bào và các lympho bào T. (P này là LAF (lymphocyte activating factor) – Interleukin 1.

    – Các yếu tố kích thích biệt hoá gồm như: biệt hoá của tế bào nguồn trong tuỷ xương thành tế bào bạch cầu hạt và yếu tố biệt hoá của các thymô bào chưa chín.

    – Cytotoxin: Là hoạt chất có khả năng giết các tế ung thư

    Tóm lại: Chức năng tiết của ĐTB đã làm cho chúng có vai trò quan trọng trong các phản ứng viêm, TTm” bµo, trong nhiểm khuẩn và nhất là trong các bước cần thiết của miễn dịch.

    – Việc giải phóng các enzym phân giải protein làm cho ĐTB có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc làm sạch các vết thương

    – Việc tiết các yếu tố bổ thể, interferon, các yếu tố làm tan vi khuẩn có ý nghĩa quan trọng trong cơ chế đề kháng của cơ thể.

    – ĐTB còn biệt hoá thành tế bào bán liên và tế bào khổng lồ để tiết ra các chất chống lại các vi khuẩn có độc lực cao mà nó không thể tiêu hoá được trong các hốc thực bào.

    Chức năng của đại thực bào trong miễn dịch

    ĐTB có vai trò quan trọng trong các đáp ứng MD:

    + Trong giai đoạn cảm ứng MD có một số ĐTB (như tế bào dạng bạch tuộc ở lách, hạch limpho, langerhans ở dưới da, kupfer ở gan …) làm nhiệm vụ bẫy và tập trung KN. Sau khi đã xử lý các KN, ĐTB có nhiệm vụ trình diện các KN cho lympho bào T.

    + Trong MD qua trung gian tế bào, vai trò của ĐTB thể hiện rõ trong MD chống vi khuẩn, MD ghép,

    MD chống ung thư và phản ứng tự miễn. Trong các phản ứng này ĐTB đã nhận các tín hiệu từ lympho bào T hoạt hoá (các lymphokin). Thí dụ: Yếu tố ức chế di tản ĐTB (MIF), yếu tố hoạt hoá ĐTB (MAF)… Sau khi đã được hoạt hoá vai trò của ĐTB trong các phản ứng miễn dịch được tăng lên gấp bội.

    ĐTB và BC trung tính thường làm nhiệm vụ “tuần tra” có qui luật ở các niêm mạc và xuyên qua lớp biểu mô đi vào lòng ống hoặc bám trên bề mặt niêm mạc.

    Tế bào bán liên (epitheloid)

    Được tạo ra từ các ĐTB. Tế bào bán liên có những đặc điểm giống tế bào ĐTB, nhưng bề mặt của chúng có sự thay đổi sao cho chúng có thể nằm kề nhau. Hình thái và sự sắp xếp giống như những tế bào gai ở lớp biểu mô phủ nên gọi là “dạng bán liên” (epitheloid). Bào tương của chúng ưa toan nhưng màng của chúng thì khó nhận ra. Những tế bào này chứa nhiều nội nguyên sinh và bộ máy Golgi hoạt động, nhiều lyzosom nhưng ít hốc thực tượng, trông nó giống như loại tế bào chế tiết. Màng tế bào phân nhiều nhánh rộng lồi lõm nối với các tế bào cùng loại bên cạnh,

    vì vậy qua kính hiển vi quang học khó có thể nhận biết rõ ràng rìa của chúng. Một số tế bào có hai nhân.

    Các ĐTB biệt hoá thành dạng bán liên thường xảy ra ở những tổn thương mãn tính. Chúng không thực bào nhưng có thể phá huỷ các tác nhân kích thích từ ngoài vào nhờ sự chế tiết chứ không phải ở bên trong do thực bào. Chúng có thể phân chia để thành ĐTB mới. Tế bào bán liên thường có mặt ở các mô hạt nhất là ở trong ổ lao.

    Theo chức năng người ta chia limphô ra thành hai nhóm chính. Nhóm thứ nhất gọi là limphô T gồm các limpho bào phụ thuộc vào tuyến thymus. Các limphô bào ở tuỷ xương di tản tới tuyến ức và chịu tác động của hormon tuyến ức (thymosin). Từ tuyến ức chúng sẽ di tản đến các cơ quan limpho ngoại biên. Ở đây chúng được gọi là các limpho T. Đó là các limpho bào có khả năng đáp ứng miễn dịch khi có sự kích thích của các kháng nguyên. Các lim pho T nằm ở cận vỏ của các hạch hoặc cận vỏ của các nang limpho của lách. Limpho T có chức năng quan trọng trong đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào.

    Nhóm thứ 2 là các limpho bào phụ thuộc vào túi Fabricius (Bursa Fabricius) ở loài chim hoặc các cơ quan limpho tương ứng ở loài có vú (hạch hạnh nhân, ruột thừa, các mảng payer dưới niêm mạc ruột). Sự hình thành các limpho bào này xảy ra khi tế bào nguồn ở tuỷ xương đi tới túi hoặc cơ quan tương đương, ở đây chúng được huấn luyện để trở thành các limpho B và sau đó di tản tới các cơ quan limpho ngoại biên. Chúng khu trú ở các tâm điểm mầm và vùng tuỷ của lách và hạch lympho. Limpho B có vai trò quan trọng trong đáp ứng miễn dịch dịch thể, qua con đường phân chia, biệt hoá thành dạng limpho bào non rồi trở thành tương bào (tế bào plasma) để sản sinh kháng thể.

    Tương bào (tế bào Plasma) – TB

    TB được hình thành từ limpho B. TB có hình bầu dục, một nhân nằm lệch về một phía – “tế bào bánh xe”. NSC rộng ưa kiềm, có hệ thống RER dày đặc, nhiều ribosom và bộ máy Gollgi phát triển, tương ứng với chức năng sản sinh và tích trữ kháng thể. TB không thấy trong máu mà thường khu trú ở các mô limpho, hạch limpho, lách, tấm payer, xung quanh mao mạch, TCLK, tuỷ xương. Nó là thành phần quan trọng trong nhiều phản ứng viêm. Nó xuất hiện nhiều khi viêm đường sinh dục, viêm ruột… Sự hiện diện của tế bào này thường là quá trình viêm mãn tính bao gồm cả mô hạt.

    4. Quan hệ giữa viêm đối với cơ thể

    4.1. ảnh hưởng của cơ thể đối với viêm

    4.1.1. ảnh hưởng của thần kinh: Trạng thái thần kinh có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát sinh, phát triển của viêm.

    Thực nghiệm cho thấy những con chó có thần kinh yếu (trạng thái thần kinh ức chế), các quá trình viêm kéo dài và khó lành hơn những con chó có thần kinh mạnh. Trạng thái thần kinh hưng phấn thì phản ứng viêm mạnh.

    Trạng thái thần kinh có ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình tiết dịch rỉ viêm và hiện tượng thực bào.

    Dùng phản xạ có điều kiện có thể gây tăng bạch cầu, tăng thực bào, cafein làm tăng thực bào, thuốc mê làm giảm thực bào.

    Gây bỏng thực nghiệm cho thỏ cho thấy: những con thỏ bị gây mê rồi mới gây bỏng thì phản ứng xung huyết và phù chậm hơn các con thỏ không gây mê. Phản ứng tế bào như bạch cầu xuyên mạch và thực bào đều chậm.

    4.1.2. ảnh hưởng của nội tiết

    Các nội tiết tố của tuyến yên và thượng thận có ảnh hưởng rõ rệt đến phản ứng viêm, ảnh hưởng của nội tiết có hai mặt:

    Loại làm tăng phản ứng viêm như: STH, aldosterol có tác dụng tăng tính thấm thành mạch.

    Loại làm giảm phản ứng viêm. Trước hết là sản phẩm của tuyến thượng thận cortison, hydrocortison; các chất này ức chế quá trình tiết dịch rỉ viêm, ức chế thoát bạch cầu, ức chế thực bào, làm chậm quá trình hình thành sẹo. Chúng có tác dụng ổn định màng lysosom, làm giảm các men nhóm hydrolaza tại các ổ viêm.

    4.1.3. ảnh hưởng của hệ liên võng đối với viêm

    Hệ liên võng là nơi sinh kháng thể chống lại viêm, tăng sinh đại thực bào làm nhiệm vụ dọn dẹp, làm sạch ổ viêm, làm viêm chóng thành sẹo.

    4.2. ảnh hưởng của viêm đối với cơ thể

    Viêm cũng gây nhiều ảnh hưởng xấu đối với cơ thể

    ảnh hưởng tại chỗ: Gây đau, tạo ra các hang hốc như viêm lao, gây khó thở như viêm phế quản, gây dính các cơ quan…

    ảnh hưởng toàn thân:

    – Quá trình viêm ảnh hưởng có tính chất phản xạ tới toàn thân, gây rối loạn thần kinh như mỏi mệt, ủ rũ, rối loạn chức phận các cơ quan; rối loạn tiêu hoá, hô hấp, tuần hoàn, điều hoà thân nhiệt…

    – Rối loạn chuyển hoá và tổn thương mô bào trong viêm đã sản sinh ra các chất có hoạt tính sinh lý, các chất này ngấm vào máu làm thay đổi thành phần máu gây rối loạn chuyển hoá làm tăng quá trình viêm, xuất hiện vòng xoắn bệnh lý.

    – Quá trình viêm còn làm thay đổi tính phản ứng của cơ thể theo hướng tăng hoặc giảm tính mẫn cảm đối với kích thích bên ngoài. Ví dụ viêm màng phổi làm tăng tính mẫn cảm của cơ thể đối với mọi kích thích.

    4. 3. ý nghĩa của phản ứng viêm

    Nhìn chung quá trình viêm ảnh hưởng đối với cơ thể trên nhiều khía cạnh, trước hết viêm là một phản ứng bảo vệ cơ thể, vì viêm làm tăng tuần hoàn tại chỗ, tăng chuyển hoá tạo nhiều năng lượng cho phản ứng bảo vệ cơ thể, tăng thực bào, ẩm bào, tăng sinh kháng thể, tăng nội tiết, tăng hoạt động của hệ liên võng kích thích quá trình thành sẹo… do đó về nguyên tắc cần tôn trọng phản ứng viêm.

    Nhưng nếu viêm nặng và kéo dài ngày sẽ gây ảnh hưởng xấu cho cơ thể. Các chất mới sinh gây rối loạn chuyển hoá, tổn thương mô bào lan rộng, rối loạn nhiều chức phận của cơ thể.

    Điều này nhắc nhở các bác sỹ thú y khi điều trị viêm cần lưu ý, không những cần tác động tiêu diệt yếu tố gây viêm mà còn phải nâng cao sức đề kháng chung của cơ thể, phát huy tác dụng bảo vệ ngăn ngừa các phản ứng có hại bằng cách:

    + Chống nguyên nhân gây viêm.

    + Ngăn ngừa các phản ứng sốt, nhất là sốt cao kéo dài

    + Giảm đau bằng cách phong bế thần kinh, cắt đứt các rối loạn diễn ra trong cơ thể.

    + Giải phóng dịch rỉ viêm, đề phòng rối loạn chuyển hoá và các rối loạn chức phận.

    + Hạn chế những biến chứng có hại, để hạn chế tác hại của vòng xoắn bệnh lý trong viêm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Số Lượng Bạch Cầu Trong Cơ Thể Là Bao Nhiêu?
  • Xét Nghiệm Bạch Cầu Giúp Đánh Giá Chỉ Số Bạch Cầu Trong Máu
  • Sinh Lý Máu: Bạch Cầu
  • Cơ Chế Bảo Vệ Cơ Thể Của Bạch Cầu
  • Bạch Cầu Trung Tính Là Gì? Vì Sao Bạch Cầu Trung Tính Giảm
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Bệnh Lý Thú Y C4 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100