Đề Xuất 11/2022 # Bảo Vệ Thành Công Luận Án Tiến Sĩ Chính Sách Công “Thực Hiện Chính Sách Pháp Luật Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia Ở Việt Nam Hiện Nay” / 2023 # Top 18 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # Bảo Vệ Thành Công Luận Án Tiến Sĩ Chính Sách Công “Thực Hiện Chính Sách Pháp Luật Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia Ở Việt Nam Hiện Nay” / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bảo Vệ Thành Công Luận Án Tiến Sĩ Chính Sách Công “Thực Hiện Chính Sách Pháp Luật Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia Ở Việt Nam Hiện Nay” / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

NCS. Lý Thị Ngọc chụp ảnh lưu niệm cùng Hội đồng tại buổi Lễ

Theo đó, Luận án đã khái quát được bức tranh toàn cảnh về những công trình nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới về chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia; Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia như: khái niệm chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia, chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam; vấn đề, mục tiêu, giải pháp, công cụ chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam; thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia; các lĩnh vực chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia… Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam, cũng như chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của vấn đề. Luận án phân tích được những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam; trình bày phương hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam hiện nay.

Đánh giá kết quả đạt được của Luận án, Hội đồng nhất trí cho rằng: về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án đã làm rõ một số vấn đề lý luận chung về chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia; đánh giá thực trạng thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam, chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế; phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam hiện nay. Về mặt thực tiễn: Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, trong hoạt động thực tiễn cũng như trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia.

Luận án được các thành viên Hội đồng nhất trí thông qua./.

Phạm Vĩnh Hà

(Nguồn Học viện KHXH)

 

Luận Án: Pháp Luật Về Gia Đình Ở Việt Nam Hiện Nay, Hay / 2023

, ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận án tiến sĩ ngành luật với đề tài: Hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay, cho các bạn tham khảo

1. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH TRẦN TUYẾT ÁNH hoµn thiÖn ph¸p luËt vÒ gia ®×nh ë viÖt nam hiÖn nay LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT HÀ NỘI – 2015

2. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH TRẦN TUYẾT ÁNH hoµn thiÖn ph¸p luËt vÒ gia ®×nh ë viÖt nam hiÖn nay LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT Mã số: 62 38 01 01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: chúng tôi LÊ MINH TÂM HÀ NỘI – 2015

3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng; những phát hiện đưa ra trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả luận án. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Trần Tuyết Ánh

4. MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIA ĐÌNH, PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 7 1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 7 1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 17 1.3. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 20 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 23 2.1. Khái niệm pháp luật về gia đình, đặc điểm, nội dung và vai trò của pháp luật về gia đình ở Việt Nam 23 2.2. Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam 45 2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam 50 2.4. Pháp luật về gia đình ở một số nước trên thế giới và những giá trị có thể tham khảo cho Việt Nam 55 Chương 3: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 67 3.1. Quá trình phát triển của pháp luật về gia đình 67 3.2. Thực trạng pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay 73 Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 114 4.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay 114 4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay 122 KẾT LUẬN 149 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

5. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BĐG Bình đẳng giới BVCS&GDTE Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em CEDAW Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa GAD Giới và phát triển HĐDT Hội đồng dân tộc HĐND Hội đồng nhân dân LĐTB&XH Lao động, Thương binh và Xã hội LHPN Liên hiệp phụ nữ LHQ Liên hợp quốc PBGDPL Phổ biến, giáo dục pháp luật PCBLGĐ Phòng chống bạo lực gia đình UBND Ủy ban nhân dân UBQGVSTBCPN Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ UBTVQH Ủy ban Thường vụ Quốc hội UBVCVĐXH Ủy ban về các vấn đề xã hội UN WOMEN Cơ quan phụ nữ của Liên hợp quốc UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc UNFPA Quỹ Dân số Liên hợp quốc UNIFEM Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp quốc VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật WID Phụ nữ trong phát triển XHCN Xã hội chủ nghĩa

6. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi duy trì nòi giống, là môi trường đặc biệt quan trọng để hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, tạo nguồn nhân lực để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, gia đình cũng là tổ ấm, nơi bình yên, an toàn, nơi duy trì và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống về gia đình, bảo tồn các phong tục, tập quán tốt đẹp, đấu tranh loại bỏ những tiêu cực, tệ nạn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, giữa gia đình và xã hội có mối liên hệ mật thiết với nhau: “Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình”. Trong gần ba mươi năm thực hiện đường lối đổi mới, những thành tựu to lớn đạt được trong phát triển kinh tế, xã hội đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi gia đình. Vị trí, vai trò, chức năng của gia đình tiếp tục được phát huy và bổ sung thêm nhiều nét mới về nội dung và ý nghĩa xã hội ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn. Ngày càng có nhiều gia đình văn hóa góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Công tác xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm đã giúp hàng triệu gia đình thoát nghèo và nâng cao mức sống. Kinh tế gia đình thực sự đóng góp quan trọng trong việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân. Nhiều giá trị nhân văn mới như phòng chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới, quyền trẻ em, vai trò của phụ nữ trong gia đình ngày càng được đề cao. Pháp luật về gia đình ngày càng hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, bình đẳng. Hệ thống cơ quan nhà nước và tổ chức tham gia công tác gia đình ngày càng kiện toàn và hoạt động có hiệu quả. Đảng và Nhà nước đã quan tâm đề ra nhiều chủ trương, chính sách để phát huy vai trò của gia đình Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, nhiều hiện tượng tiêu cực mới nẩy sinh trong quan hệ gia đình có xu hướng ngày càng phức tạp. Công tác quản lý nhà nước về gia đình chưa thực sự hiệu quả. Bạo hành trong gia đình còn diễn biến rất phức tạp. Ở nhiều nơi, trong nhiều gia đình vẫn còn nặng tư tưởng trọng nam, khinh nữ, chưa bảo đảm bình đẳng giới trong gia đình. Tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em, trẻ em bị xâm hại, trẻ em

7. 2 phải lang thang kiếm sống, trẻ em vi phạm pháp luật có chiều hướng phát triển. Các hiện tượng các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, HIV/AID xâm nhập vào gia đình chưa thuyên giảm. Nhiều giá trị đạo đức truyền thống của gia đình như kính trên nhường dưới, thủy chung, hiếu nghĩa đang có biểu hiện xuống cấp… Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình hình nói trên, trong đó có một số nguyên nhân như: Sự nhận thức về vị trí, vai trò của gia đình và công tác gia đình, công tác quản lý nhà nước về gia đình còn một số bất cập, chưa huy động sự tham gia của xã hội và cộng đồng. Pháp luật về gia đình đã được sửa đổi, bổ sung nhưng chưa theo kịp sự phát triển của gia đình trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Các quy định pháp luật về gia đình tồn tại rải rác trong nhiều văn bản khác nhau. Nhiều quy phạm chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu minh bạch, không phù hợp điều kiện thực tế khách quan nên tính khả thi còn hạn chế. Nhiều vấn đề phát sinh trong lĩnh vực gia đình chưa được phản ánh và xử lý kịp thời; chính sách, pháp luật về gia đình chưa đồng bộ; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về gia đình và trang bị các kiến thức, kỹ năng ứng xử trong các quan hệ về gia đình chưa được coi trọng… Việc tổng kết thực hiện pháp luật về gia đình, nghiên cứu chính sách, pháp luật về gia đình chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức, vì vậy, cho đến nay chưa có cơ sở khoa học và thực tiễn đúng đắn phục vụ cho công tác hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về gia đình. Do vậy, nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện pháp luật về gia đình, xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về gia đình, hướng tới mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững là cần thiết và có ý nghĩa hết sức quan trọng ở nước ta hiện nay. Xuất phát lý do trên, Nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay” làm Luận án tiến sĩ của mình tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích, làm rõ cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về gia đình, đánh giá thực trạng pháp luật về gia đình ở Việt Nam và đề ra quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay.

9. 4 khó khăn; 6/ quan hệ phát triển kinh tế gia đình; 7/ quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước đối với gia đình; Trong các quan hệ xã hội nói trên, luận án chỉ đi sâu nghiên cứu 4 nhóm pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ 1, 2, 3, 7 bởi vì việc hoàn thiện các nhóm quy phạm pháp luật này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phần hoàn thành mục tiêu hàng đầu được nêu trong Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, đó là: “Nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm của gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình, ngăn chặn các tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình”. Về không gian và thời gian: Luận án nghiên cứu pháp luật về gia đình ở Việt Nam từ năm 1945 nhưng tập trung vào giai đoạn hiện nay. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu – Đề tài luận án được nghiên cứu trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật nói chung, về gia đình và pháp luật về gia đình nói riêng. Bên cạnh đó, đề tài chú trọng những quan điểm, tri thức khoa học có tính phổ biến ở trong nước và nước ngoài về gia đình và pháp luật về gia đình để tham khảo và phục vụ cho việc tiếp cận và giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án. Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin, tác giả luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây: – Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng trong chương 2, 3, 4 để làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình. – Phương pháp tiếp cận hệ thống được sử dụng trong các chương 2,3,4 để làm rõ nội dung, vai trò, các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về gia đình, các yếu tố ảnh hưởng và các điều kiện bảo đảm hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam.

10. 5 – Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp lô gíc được sử dụng ở chương 2, 3, 4: Luận án nghiên cứu từng vấn đề trong mối quan hệ chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, giữa quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước với thực tiễn thực hiện pháp luật về gia đình. Ba chương của luận án được nghiên cứu trong mối quan hệ lôgíc xuyên suốt từ cơ sở lý luận đến thực trạng và quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình. – Phương pháp thống kê và xã hội học pháp luật được sử dụng trong chương 3 khi đánh giá thực trạng pháp luật về gia đình. – Phương pháp so sánh được sử dụng trong chương 1 để làm rõ tình hình nghiên cứu, chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Phương pháp này cũng được sử dụng ở chương 2 để so sánh các pháp luật về gia đình của một số nước. 5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có những đóng góp mới về mặt khoa học như sau: – Trên cơ sở phân tích một cách toàn diện các quan điểm, quan niệm về pháp luật về gia đình, luận án đã xây dựng khái niệm khoa học pháp luật về gia đình, chỉ ra vai trò, đặc điểm của pháp luật về gia đình, với nội dung bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quản lý nhà nước về gia đình, phòng chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới trong gia đình, phòng chống tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình; đồng thời, xây dựng các tiêu chí về nội dung và hình thức để xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật về gia đình; phân tích làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay. – Chỉ rõ quá trình phát triển của pháp luật về gia đình ở Việt Nam; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về gia đình ở Việt Nam, khẳng định những bước phát triển, những ưu điểm cần phát huy, đồng thời chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó. Từ đó, luận án đề xuất 4 quan điểm và 6 nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay.

12. 7 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIA ĐÌNH, PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu về gia đình – Đề tài “Nghiên cứu căn cứ khoa học để xây dựng ngành gia đình học ở Việt Nam”, của Nguyễn Văn Cương [47]. Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về gia đình, văn hóa gia đình và việc nghiên cứu về gia đình của các ngành khoa học, khu biệt rõ các nội dung nghiên cứu, làm cơ sở cho việc xác định những vấn đề cần khảo sát và đánh giá. Tác giả và nhóm tác giả đã khảo sát, đánh giá những nét cơ bản trong đặc trưng của gia đình truyền thống và những biến đổi của nó trong xã hội hiện nay; khẳng định sự cần thiết phải xây dựng ngành Gia đình học để tăng cường và củng cố nguồn nhân lực làm công tác nghiên cứu về gia đình. Đặc biệt, công trình này đã đưa ra những định hướng giá trị tạo điều kiện cho gia đình Việt Nam phát triển theo hướng vừa giữ được các giá trị văn hóa truyền thống, vừa tiếp thu được sự tiến bộ trong văn minh nhân loại, hội nhập và phát triển. Công trình còn khảo sát, đánh giá thực tế đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về gia đình ở cơ sở cũng như thực tế đào tạo kiến thức về gia đình ở trong và ngoài nước hiện nay. Trong các văn bản của Đảng và Nhà nước luôn đề cao vai trò của gia đình và các hoạt động nhằm hỗ trợ sự phát triển toàn diện của gia đình. Có thể kể đến như: Hiến pháp (1992), Bộ luật Dân sự (1995), Bộ luật Hình sự (1999), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004), Luật Bình đẳng giới (2006), Luật Phòng chống bạo lực gia đình có hiệu lực tháng 7 năm 2008… Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 49-CT/TƯ ngày 21-2-2005 về xây dựng gia đình Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Chỉ thị số 16/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức triển khai thi hành Luật phòng chống bạo

13. 8 lực gia đình; Quyết định số 629/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030. – “Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam hiện nay”, của Uỷ ban dân số, Gia đình và trẻ em [183]. Cuốn sách này đã làm rõ khái niệm quy mô gia đình; số người, số thế hệ trong gia đình; khái niệm về hôn nhân, tình trạng kết hôn và ly hôn ở Việt Nam; thực trạng và những biến đổi của mối quan hệ vợ chồng trong gia đình trên các phương diện: vai trò của chủ hộ, vai trò của vợ chồng trong sản xuất, đóng góp thu nhập…; mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình; mối quan hệ họ hàng thân tộc… Có thể nói cuốn sách đã nêu khá chi tiết các khái niệm, các mối quan hệ, chức năng của gia đình đồng thời cũng dự báo được xu thế biến đổi của gia đình Việt Nam, những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế… – “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới”, của Lê Thi [148], đã đề cập đến sự biến đổi của gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới chuyển sang thế kỷ 21. Ở chương 1 tác giả đề cập tới những biến đổi chung, sau đó đi sâu vào nghiên cứu biến đổi của hôn nhân, vấn đề xã hội hoá trẻ em và việc thực hiện mục tiêu nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX. Chương 2, tác giả đi từ góc độ giới để nghiên cứu các vấn đề gia đình cụ thể như mối quan hệ trong gia đình nhìn từ cách tiếp cận giới; bất bình đẳng trong việc thực hiện chiến lược dân số và phát triển bền vững ở Việt Nam; bạo lực gia đình, phân biệt đối xử giữa con trai và con gái, ly hôn, tâm trạng phụ nữ đơn thân… Cuốn sách cũng đề cập tới vấn đề xây dựng văn hóa gia đình và gia đình văn hóa. – “Xây dựng gia đình văn hóa trong sự nghiệp đổi mới”, của Trần Hữu Tòng, Trương Thìn [161]. Sách gồm 04 phần: Phần I: Một số quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ đổi mới; Phần II: Vấn đề gia đình và gia đình văn hóa; Phần III: Những kinh nghiệm và định hướng cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa. – “Đạo đức gia đình trong nền kinh tế thị trường”, của Nguyễn Thị Khoa [93] đề cập tới vấn đề nền kinh tế thị trường có tác động mạnh mẽ đến đạo đức gia đình, làm thay đổi nhận thức ở một số người về các chuẩn mực giá trị: quan niệm về

14. 9 đạo đức trong hôn nhân bị lệch lạc, xu hướng ly hôn tăng; Đạo đức tình dục bị vi phạm; Mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình bị lỏng lẻo; Hiện tượng coi thường giáo dục gia đình đang xảy ra ngày càng nhiều. Nguyên nhân của các hiện tượng này là do việc tuyên truyền, giáo dục luật pháp chưa được thực hiện tốt, chưa coi trọng giáo dục về gia đình cho lớp trẻ, do tác động của nền kinh tế… Vì vậy nhà nước, cộng đồng, gia đình và mỗi cá nhân phải có ý thức xây dựng đạo đức gia đình tiến bộ, lành mạnh. – “Gia đình ở đô thị trong thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá”, của Đỗ Thị Bình [14]. Nội dung của sách đề cập tới vấn đề trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá gia đình ở các đô thị Việt Nam đang có sự chuyển tiếp từ truyền thống sang hiện đại trên các bình diện hôn nhân, cơ cấu gia đình và các mối quan hệ trong gia đình. Biến đổi trong lĩnh vực hôn nhân thể hiện ở vai trò quyết định của các thành viên trong gia đình đối với công việc hệ trọng này, độ tuổi kết hôn cũng như quan niệm về hôn nhân, cách tổ chức lễ cưới. Cơ cấu của gia đình đô thị chiếm đa số là loại hình hai thế hệ và vai trò người phụ nữ được nâng cao. Về các mối quan hệ trong gia đình đô thị Việt Nam hiện nay bao hàm nhiều nhân tố mới, tích cực, bình đẳng trong quan hệ vợ chồng và các thành viên khác trong gia đình. – “Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình”, của Viện Nghiên cứu Gia đình và giới [188]. Nội dung của cuốn sách được chia làm hai phần: Phần I – Gia đình Việt Nam và việc thực hiện các chức năng của gia đình, phần này tập trung vào một số vấn đề chủ yếu trong nghiên cứu về gia đình Việt Nam; những vấn đề lý luận, phương pháp luận; quá trình biến đổi của gia đình Việt Nam từ truyền thống sang hiện đại; Việc thực hiện các chức năng của gia đình Việt Nam hiện nay; Những vấn đề kiến nghị về chính sách đối với gia đình và phụ nữ. Phần 2- Vai trò của giáo dục trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam. Tác giả tập trung đi sâu phân tích chức năng cụ thể của gia đình: chức năng giáo dục (xã hội hoá). Trong đó vấn đề chủ yếu được nêu lên là vai trò của gia đình, các thành viên trong gia đình với việc giáo dục thế hệ trẻ; Những nội dung, phương pháp giáo dục trong gia đình hiện nay; Sự ảnh hưởng của các tôn giáo, thời đại và các môi trường giáo dục khác đến giáo dục gia đình.

15. 10 – “Nghiên cứu gia đình và giới thời kỳ đổi mới”, của Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh [110]. Sách đề cập nhiều vấn đề như: Thành tựu nghiên cứu của Viện Gia đình và Giới và một số vấn đề đặt ra; Nghiên cứu phụ nữ, gia đình và giới: Từ kết quả đến định hướng; Những chiều cạnh cơ bản của phát triển thanh niên trong thời kỳ đổi mới; Giảng dạy và nghiên cứu về giới ở trường đại học; Đi tìm những đặc trưng của gia đình Việt Nam truyền thống; Giới và các vấn đề giới ở Việt Nam; Nghiên cứu về quyền phụ nữ; Phụ nữ Việt Nam và việc tham gia chính trị… Đây là công trình rất công phu, giải quyết được nhiều vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Tuy nhiên, vấn đề lý luận về gia đình và công tác gia đình còn hạn chế, các tác giả chưa đi sâu phân tích nội hàm của công tác gia đình, quản lý nhà nước về gia đình và công tác gia đình đề cập còn rất khiêm tốn. Vấn đề hành lang pháp lý cho công tác gia đình ít được nhóm tác giả đề cập. – “Diễn đàn gia đình cấp Bộ trưởng khu vực Đông Á lần thứ nhất”, của Uỷ ban Dân số, Gia đình và trẻ em [171]. Kỷ yếu đã tập hợp trên 12 bài phát biểu, tham luận của các đoàn đại biểu đến từ 12 nước: Úc, Brunei, Campuchia, Indonexia, Malaixia, Mianmar, Lào, Philippines, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam về lĩnh vực gia đình. Có thể nói các phát biểu tham luận của các đại biểu đều khẳng định vai trò quan trọng của gia đình và đưa ra các cam kết giải quyết các vấn đề về gia đình như: cải thiện các điều kiện và các chương trình hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực cho các gia đình thuộc diện cực nghèo, tạo điều kiện để gia đình hoàn thành sứ mệnh là đơn vị phòng vệ đầu tiên trước những tác động tiêu cực của hiện đại hóa, tiếp tục duy trì và thúc đẩy tính năng động và sáng tạo của xã hội đối với vấn đề gia đình… – “Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chương trình hành động của Chính phủ, của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về Văn hóa, Thể thao, Du lịch và Gia đình”, của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch [21]. Sách đã tập hợp và giới thiệu được các Quyết định và Chỉ thị của Trung ương giúp định hướng quá trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh như: Quyết định số 106/2005/QĐ-TTg ngày 16/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010; Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 21/02/2005 của Ban Bí thư về xây

19. 14 đánh giá công tác phòng, chống bạo lực gia đình, nguyên nhân, hậu quả của bạo lực gia đình ở các địa phương; + Nhận thức, thái độ, hành vi của người dân, cộng đồng và chính quyền về bạo lực gia đình, nguyên nhân của bạo lực gia đình, trong đó tập trung vào 2 nhóm bạo lực gia đình: bạo lực của chồng đối với vợ; bạo lực của con với bố mẹ là người cao tuổi; + Tìm hiểu về hiệu quả của các hình thức truyền thông và các cơ quan truyền thông do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã, đang và dự kiến phối hợp thực hiện truyền thông trong lĩnh vực gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; + Những ứng phó của người dân, của cộng đồng với bạo lực gia đình; + Tìm hiểu về biện pháp xử lý của chính quyền, đoàn thể đối với những vụ việc bạo lực gia đình và những vi phạm hành chính trong lĩnh vực bạo lực gia đình. Việc tiến hành điều tra thực trạng bạo lực gia đình, đề xuất giải pháp nhằm ngăn chặn, làm giảm số vụ bạo lực gia đình trong năm 2012 và giai đoạn 2012- 2016 là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cần thiết nhằm giúp cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình, trước hết là Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch có được những giải pháp trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình ở các địa phương. Cuộc điều tra này không nhằm phác họa lại bức tranh thực trạng tình hình bạo lực gia đình ở Việt Nam mà chỉ nhằm mục đích tìm hiểu mô hình hành vi bạo lực gia đình cũng như nhận thức và các nguyên nhân, hậu quả của bạo lực gia đình ở một số địa phương, qua đó đánh giá công tác phòng, chống bạo lực gia đình trong thời gian vừa qua, từ đó đề xuất giải pháp có tính đột phá nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình trong năm 2012 và giai đoạn 2012 – 2016. – “Bạo lực gia đình – một sự sai lệnh giá trị”, của Lê Thị Quý, Đặng Vũ Cảnh Linh [130]. Sách đã đề cập tới các vấn đề mang tính thời sự hiện nay: Vấn đề bạo lực giới trong gia đình – những vấn đề lý luận và phương pháp luận về bạo lực gia đình và bạo lực chống phụ nữ trong gia đình, một nghiên cứu can thiệp trong thực tiễn; Vấn đề công tác phòng chống bạo lực gia đình – những bài học kinh nghiệm của Việt Nam…

20. 15 Đây là tài liệu mang tính khái quát cao, rất có giá trị, giúp thí sinh có kiến thức sâu hơn khi nghiên cứu vấn đề hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay. – “Văn bản hướng dẫn phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, của Ban Chỉ đạo phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá tỉnh Tiền Giang [8]. Sách là nguồn tư liệu có giá trị tham khảo rất cao vì đã tập hợp được một hệ thống các văn bản hướng dẫn của Trung ương và của tỉnh Tiền Giang: Các Nghị quyết, Kết luận, Thông tư, Quy chế, Chương trình… Đây là nguồn tài liệu có tính định hướng cho thí sinh trong quá trình nghiên cứu và hoạt động thực tiễn. – “Luật phòng, chống bạo lực gia đình của một số nước trên thế giới”, của Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội XI [175] đã tập hợp và giới thiệu về những vấn đề sau: Luật mẫu về bạo lực gia đình của Uỷ ban về nhân quyền của Liên hợp quốc, Luật bảo vệ chống bạo lực gia đình của Bungari, Luật phòng ngừa bạo lực gia đình và bảo vệ nạn nhân của Vương quốc Campuchia, Luật chống bạo lực gia đình của Đông Ti Mo, Luật đặc biệt về trừng phạt hành vi bạo lực trong gia đình của Hàn Quốc, Luật về xóa bỏ bạo hành trong gia đình của Cộng hòa Indonexia, Luật Chống bạo hành gia đình của Mông Cổ, Luật phòng ngừa bạo lực hôn nhân và bảo vệ nạn nhân của Nhật Bản, Luật chống bạo hành phụ nữ và trẻ em năm 2004 của Cộng hoà Philippines, Quy tắc 9 Uỷ ban liên ngành về bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em của Cộng hòa Philippines, Dự thảo Luật phòng ngừa và hiệu chỉnh bạo lực gia đình B.E của Thái Lan, các chuẩn mực quốc tế của Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình… – “Bạo lực gia đình: Sự thay đổi ở Việt Nam kết quả và khuyến nghị từ một dự án của UNFPA/SDC”, của UNFPA [168]. Nội dung sách nhằm tuyên truyền nâng cao nhận thức về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam, tài liệu giới thiệu được phương pháp tiếp cận theo vòng đời đối với bạo lực trên cơ sở giới, trong đó tập trung vào hình thức bạo lực gia đình phổ biến nhất bạo hành do chồng gây ra đối với vợ hay giữa những người bạn tình.

24. 19 chuẩn mực này ở cấp quốc gia. Rea đã hỗ trợ kỹ thuật, tập huấn và có những hoạt động xây dựng năng lực cho chính phủ, các chuyên gia, các tổ chức phi chính phủ và những người tuyên truyền vận động về bình đẳng giới và quyền con người ở một số nước. Trong cuốn sách này, tác giả đề cập các vấn đề như: Bối cảnh Việt Nam, khuôn khổ chính trị và pháp luật ở Việt Nam, công ước xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối sử chống lại phụ nữ (CEDAW), những thực tế ban đầu về CEDAW và Việt Nam, đánh giá văn bản pháp luật và việc tuân thủ CEDAW. Trong đánh giá văn bản pháp luật và việc tuân thủ CEDAW, tác giả đã đề cập đến những vấn đề như: Những công việc chính để xóa bỏ phân biệt đối xử đảm bảo bình đẳng (Các điều 1-3 CEDAW), các biện pháp đặc biệt tạm thời và các biện pháp ưu tiên cho bà mẹ (Điều 4 của CEDAW), những mẫu hình xã hội và văn hóa của hành vi (Điều 5 của CEDAW), buôn bán người và bóc lột mại dâm (Điều 6 của CEDAW), quốc tịch (Điều 9 của CEDAW), giáo dục (Điều 10 của CEDAW), việc làm (Điều 11 của CEDAW), sức khỏe (Điều 12 của CEDAW), đời sống kinh tế và xã hội (Điều 13 của CEDAW), phụ nữ nông thôn (Điều 14 của CEDAW), bình đẳng trước pháp luật (Điều 15 của CEDAW), hôn nhân và gia đình (Điều 16 của CEDAW). – “Cuốn Nghiên cứu rà soát văn bản pháp luật Việt Nam trên cơ sở quyền và giới qua lăng kính CEDAW”, của Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp quốc UNIFEM [135]. Sách là một nguồn tư liệu hữu ích giúp nghiên cứu sinh trong quá trình nghiên cứu và tiếp cận phương pháp mới nhằm hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế. – Cuốn “15 năm thực hiện cương lĩnh hành động Bắc Kinh và kết quả của phiên họp đặc biệt lần thứ 23 Đại hội đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam”, của Quỹ phát triển Phụ nữ tại Việt Nam (UNIFEM) [138]. Sách đã giới thiệu chính sách, pháp luật về bình đẳng giới để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp ngày càng lớn hơn cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng, đất nước và thực hiện bình đẳng giới… Tuy nhiên sách lại chưa đề cập tới hệ thống luật pháp về gia đình và bình đẳng giới.

25. 20 – Cuốn “25 năm thực hiện Công ước về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) thực tiễn tại Việt Nam” của CEDAW [45]. Sách là một tập hợp các bài viết của các chuyên gia về công tác phụ nữ, công tác gia đình. Đây là nguồn tư liệu quý để nghiên cứu sinh tham khảo trong quá trình nghiên cứu. – “Tuyển chọn các khuyến nghị chung CEDAW”, của Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp quốc UNIFEM [136]. Nội dung sách đề cập tới các khuyến nghị chung nhằm hướng dẫn các quốc gia thành viên thực hiện các quyền con nguời của phụ nữ và bình đẳng giới. – “Các nhận xét và kết luận về Việt Nam của Uỷ ban xóa bỏ phân biệt đối xử chống lại phụ nữ”, của Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp quốc UNIFEM [134]. Sách đưa ra những nhận xét, đánh giá và khuyến nghị cho Việt Nam về thực hiện bình đẳng giới. – “CEDAW – Vì sự bình đẳng phụ nữ”, của Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp quốc UNIFEM [139]. Nội dung sách giới thiệu Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; Nghị định thư không bắt buộc của Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ. – “Phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới ở Việt Nam”, của UNFPA [169], giới thiệu về bạo lực trên cơ sở giới, các hình thức bạo lực trên cơ sở giới, định nghĩa bạo lực gia đình hoặc bạo lực bạn tình, hậu quả của bạo lực trên cơ sở giới, các hậu quả về mặt sức khỏe… – “Bảng kiểm sử dụng Công ước về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) trong hoạt động của Tòa án nhân dân” của CEDAW [44]. Sách giới thiệu những yêu cầu của CEDAW trong xóa bỏ phân biệt đối xử về giới; Những nguyên tắc cơ bản của CEDAW về bình đẳng giới; Các yêu cầu của CEDAW bảo đảm quyền của phụ nữ được thực thi có hiệu quả… 1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU Để hoàn thành mục tiêu của đề tài, luận án còn phải tiếp tục nghiên cứu những vấn đề mà các công trình nghiên cứu khoa học nói trên chưa có điều kiện làm rõ sau đây:

27. 22 Nghiên cứu các công trình ở nước ngoài cho thấy một số nội dung pháp luật về gia đình ở một số nước trên thế giới, sự thay đổi của pháp luật về gia đình trong thế giới đương đại. Một số công trình nước ngoài cũng đã làm rõ pháp luật trên thế giới về gia đình thông qua các công ước quốc tế về gia đình, về bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình… Có một số tác giả nước ngoài đã nghiên cứu làm rõ những bước phát triển của pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới, pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện dưới góc độ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật về việc hoàn thiện pháp luật về gia đình. Nghiên cứu pháp luật về gia đình còn chưa đầy đủ và toàn diện, chưa làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật về gia đình ở Việt Nam. Đến nay, chưa có công trình nào đưa ra các tiêu chí hoàn thiện pháp luật về gia đình, chưa đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật về gia đình và đưa ra hệ thống quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam. Nghiên cứu tổng quan về gia đình, pháp luật về gia đình giúp cho nghiên cứu sinh có thể kế thừa những kết quả nghiên cứu, tiếp tục triển khai, phát triển trong luận án những vấn đề còn bỏ ngỏ. Thông qua đó giúp nghiên cứu sinh hoàn thành các nhiệm vụ mà luận án đã đặt ra, góp phần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về gia đình trong bối cảnh đất nước đang đổi mới mạnh mẽ và hội nhập quốc tế hiện nay.

28. 23 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 2.1. KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 2.1.1. Khái niệm gia đình và đặc trưng của gia đình Việt Nam 2.1.1.1. Khái niệm gia đình Gia đình là một hiện tượng xã hội đặc biệt, xuất hiện, tồn tại và phát triển một cách khách quan cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Lịch sử phát triển của gia đình là một quá trình lâu dài, đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau với những biến đổi sâu sắc về quy mô, cách thức tổ chức, tính chất phức tạp, sự phong phú, đa dạng của các mối quan hệ về gia đình và cơ chế điều chỉnh các mối quan hệ về gia đình. Theo Ph.Ănghen, lịch sử phát triển của gia đình đã trải qua 4 giai đoạn cơ bản: Gia đình huyết tộc, gia đình pu-na-lu-an, gia đình đối ngẫu và gia đình một vợ một chồng. – Gia đình huyết tộc là giai đoạn đầu tiên của quá trình phát triển các hình thái hôn nhân và gia đình, trong đó quan hệ hôn nhân được xây dựng theo thế hệ, mỗi thế hệ tạo thành những nhóm hôn nhân nhất định. Ở hình thái gia đình huyết tộc, các anh chị em đồng thời là vợ, là chồng của nhau, nhưng những người có quan hệ dòng máu trực hệ, giữa cha mẹ và các con bị cấm không được có quan hệ hộ nhân. – Gia đình Pu-na-lu-an là giai đoạn thứ hai, có sự tiến bộ hơn so với gia đình huyết tộc. Trong hình thái gia đình này, quan hệ tính giao tiếp tục bị hạn chế, thu hẹp: cấm thế hệ cha mẹ kết hôn với thế hệ các con và cấm anh em trai kết hôn với các chị em gái trong cùng một gia đình. – Gia đình đối ngẫu là giai đoạn phát triển tiếp theo của gia đình. Đây là giai đoạn mà phạm vi những người có quan hệ hôn nhân ngày càng bị thu hẹp nhiều hơn: việc cấm những người cùng huyết tộc kết hôn với nhau ngày càng trở nên phổ biến và hình thức quần hôn không còn tồn tại nữa. Gia đình đối ngẫu được đặc

29. 24 trưng bằng cách thức kết hôn theo từng cặp, nhưng chế độ đa thê, người đàn ông có nhiều vợ vẫn còn phổ biến. – Gia đình cá thể (gia đình một vợ một chồng) là giai đoạn thứ tư, được nảy sinh từ gia đình đối ngẫu, là một trong những dấu hiệu cho biết thời văn minh đã bắt đầu. Gia đình ấy dựa trên sự thống trị của đàn ông, với chủ đích rõ ràng là con cái phải có cha đẻ xác thực và những đứa con ấy sau này sẽ nhận được tài sản của cha, với tư cách người thừa kế đương nhiên. Trong gia đình một vợ một chồng, quan hệ vợ chồng đã chặt chẽ hơn rất nhiều, hai bên không thể tùy ý bỏ nhau được nữa. Gia đình một vợ một chồng cũng có quá trình phát triển từ thấp đến cao và luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Cùng với sự phát triển của văn minh, dân chủ và tiến bộ xã hội, quan hệ gia đình có sự biến đổi về chất, mà biểu hiện rõ nét nhất và trước hết là ở sự biến đổi trong quan niệm về sự bình đẳng giữa nam và nữ, giữa đàn ông và đàn bà, giữa vợ và chồng; về tình yêu và hôn nhân. Hôn nhân trở thành tiêu điểm, là biểu tượng của tình yêu và văn hóa gia đình, là điểm khởi đầu quan trọng và có thiêng liêng không những đối với đời sống vợ chồng, mà còn được gia đình, cộng đồng, nhà nước thừa nhận và đề cao như một giá trị của con người, gia đình và xã hội. Với ý nghĩa và tầm quan trọng đó, trong lĩnh vực pháp luật về gia đình, những mối quan hệ về hôn nhân là một trong những nhóm quan hệ pháp luật quan trọng, có những đặc điểm riêng và có tính độc lập tương đối, được tượng điều chỉnh bởi các quy định pháp luật về hôn nhân trong hệ thống các quy định pháp luật về gia đình và hình thành chế định hôn nhân trong pháp luật hôn nhân và gia đình. Xét theo quan điểm hệ thống, thì hôn nhân là một yếu tố để hình thành nên gia đình trong xã hội hiện đại và các mối quan hệ về hôn nhân là một bộ phận hợp thành của hệ thống các quan hệ gia đình. Tuy nhiên, quan hệ hôn nhân chỉ là một nhóm trong số rất nhiều nhóm quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về gia đình. Do tính chất đặc biệt của mình, từ khi xuất hiện đến nay, gia đình luôn là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều bộ môn khoa học khác nhau, trong đó có triết học, xã hội học, văn hóa học và luật học. Tùy thuộc vào mục đích và nội dung nghiên cứu cụ thể, mỗi bộ môn khoa học có cách tiếp cận riêng và sử dụng các phương

31. 26 Thứ nhất, gia đình là một thiết chế xã hội đặc biệt, một đơn vị (tế bào) xã hội, một hình thức tổ chức quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân. Thứ hai, gia đình là những người gắn bó với nhau bởi: – Hôn nhân (vợ chồng): Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn, trong đó sự kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. – Mối quan hệ huyết thống: Phạm vi của mối quan hệ này khá rộng tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để xác định, trong một gia đình có nhiều (hai, ba hoặc bốn) thế hệ cùng sinh sống. – Mối quan hệ nuôi dưỡng: Ngoài quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống còn có những người có quan hệ nuôi dưỡng như: con nuôi, bố mẹ nuôi… Thứ ba, các thành viên trong gia đình có sự gắn kết với nhau để cùng chung sống, quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở của đạo đức và niềm tin. Đây là một trong những dấu hiệu hết sức đặc sắc của gia đình, có ý nghĩa và có tác động lớn tới các yếu tố khác, đòi hỏi khi xây dựng và thực thi pháp luật về gia đình cần phải được chú trọng. Thứ tư, các thành viên trong gia đình có các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản; việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản, nhằm thỏa mãn những ước muốn, lợi ích về vật chất và tinh thần của mỗi cá nhân và của cả gia đình. Từ đây, khái niệm thành viên trong gia đình có phạm vi rất rộng. Các thành viên trong một gia đình bao gồm: vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột. Với phạm vi thành viên gia đình đó, các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình cũng như giữa gia đình với nhà nước và xã hội cũng hết sức phức

33. 28 lợi. Gia đình sống nhiều thế hệ với chế độ đa thê. Việc ly dị gặp nhiều khó khăn. Quy mô gia đình giai đoạn này thường lớn hầu hết là những Gia đình tam đại đồng đường và tứ đại đồng đường. Trong nền văn minh công nghiệp, gia đình không còn là đơn vị sản xuất tự chủ mà gồm những người làm thuê, những người chủ xã hội, các nhà quản lý, kinh doanh, các viên chức làm công ăn lương… Hôn nhân gia đình trở thành sự tự do lựa chọn của nam nữ, không còn là sự áp đặt của cha mẹ, họ hàng. Vì vậy, lợi ích cá nhân, hạnh phúc cá nhân ngày càng được chú trọng. Cơ cấu gia đình hai thế hệ là phổ biến. Quy mô gia đình nhỏ đi rất nhiều. Trong nền văn minh hậu công nghiệp, gánh nặng công việc gia đình được giảm nhẹ, con người (đặc biệt là phụ nữ) được giải phóng bớt các khâu lao động chân tay, mệt nhọc, năng suất thấp. Họ sẽ có nhiều thời gian nghỉ ngơi, học tập, giải trí, vui chơi với gia đình. Có thể nói, gia đình Việt Nam trong quá trình phát triển đã, đang và sẽ chịu ảnh hưởng đồng thời của nền văn minh, của văn hóa phương Đông, văn hóa khu vực Đông Nam Á cùng với nhiều tôn giáo vốn đã tồn tại lâu đời như Đạo phật, Thiên chúa giáo, đạo Hồi… Gia đình ở Việt Nam hiện nay đang phải đương đầu với một loạt thử thách lớn khi chuyển từ mô hình gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại. Để tồn tại và phát triển, mỗi gia đình phải tìm cách thích ứng với những điều kiện mới, từng thành viên trong gia đình phải tự điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình. Thực tế cho thấy, sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng cùng với những trào lưu tiến bộ về khoa học công nghệ có phần không tương xứng với sự phát triển văn hóa, xã hội đã làm đổ vỡ, mờ nhạt một số giá trị tinh thần, đạo đức ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Gia đình Việt Nam có các đặc trưng cơ bản: Gia đình phải sống chung một mái nhà; Trong một gia đình phải có giới tính (nam, nữ); Quan hệ trong gia đình phải là quan hệ ruột thịt, huyết thống nghĩa là có quan hệ tái sản xuất con người; Các thành viên trong gia đình phải gắn bó với nhau về đặc điểm tâm sinh lý; Gia

34. 29 đình phải có ngân sách chung. Do đó gia đình phải là một nhóm xã hội ít nhất có từ 02 người trở lên. Gia đình Việt Nam truyền thống có những đặc trưng khác với gia đình của các dân tộc khác trên thế giới. Đó là sản phẩm của nền văn minh lúa nước và tồn tại ở địa bàn nông thôn. Gia đình truyền thống được coi là đại gia đình mà các thành viên liên kết với nhau bằng chuỗi quan hệ huyết thống. Trong gia đình này có thể cùng chung sống từ 3 thế hệ trở lên: ông bà – cha mẹ – con cái mà người ta quen gọi là “tam, tứ, ngũ đại đồng đường”. Kiểu gia đình này khá phổ biến và tập trung nhiều nhất ở nông thôn Bắc Bộ. Gia đình truyền thống thường biểu hiện các mặt sau đây: – Gia đình không chỉ là đơn vị cuối cùng của xã hội mà còn là mẫu hình để tổ chức xã hội và nhà nước. – Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc ta được nâng lên thành đạo hiếu – đạo tổ tiên và gia đình cũng là nơi quan trọng nhất để duy trì đạo đức trung hiếu, được coi là giá trị nền tảng của xã hội truyền thống. – Người đứng đầu gia đình (gia trưởng) chịu trách nhiệm trước về mọi hành vi của những người trong nhà. – Gia đình là đơn vị kiểm soát cá nhân; từng cá nhân trong một gia đình bị ràng buộc và kiểm soát bằng luân lý, phong tục, lễ nghi và pháp luật. – Về hôn nhân và quan hệ vợ chồng: Cha mẹ quyết định, con cái nghe theo; người chồng phải giữ nghĩa với vợ, người vợ phải thủ tiết với chồng. – Nước xét xử theo pháp luật thì nhà – gia đình thực hiện nhiệm vụ của nó, thực sự trở thành nơi sàng lọc và răn dạy các thành viên về đạo lý, quốc pháp. – Gia đình là một thiết chế gia trưởng. Trong một gia đình cha ra cha, con ra con, anh ra anh, em ra em, chồng ra chồng và vợ ra vợ. Các mối quan hệ này được điều chỉnh bằng luân lý tam cương, ngũ thường và nó được cụ thể hoá thành gia quy. Nền kinh tế tiểu nông là cơ sở phát sinh và tồn tại của loại hình gia đình truyền thống. Về mặt tâm lý, người Việt Nam luôn có xu hướng quần tụ con cái xung quanh mình. Vì thế, các đại gia đình cùng sống dưới một mái nhà hoặc vài nhà cạnh nhau cũng là hình thức tổ chức gia đình phổ biến ở đô thị.

35. 30 Gia đình truyền thống có các ưu điểm: Có sự gắn bó cao về tình cảm theo huyết thống; Bảo lưu được các truyền thống văn hóa, tập tục, nghi lễ, phát huy tốt các gia phong, gia lễ, gia đạo; Các thành viên trong gia đình có điều kiện giúp đỡ nhau về vật chất và tinh thần, chăm sóc người già và giáo dưỡng thế hệ trẻ. Đó là những giá trị rất căn bản của văn hóa gia đình mà chúng ta cần kế thừa và phát huy. Tuy nhiên, nhược điểm của loại gia đình này là ở chỗ trong khi giữ gìn các truyền thống tốt đẹp thì cũng duy trì luôn cả những tập tục, tập quán lạc hậu, lỗi thời. Bên cạnh đó, sự khác biệt về tuổi tác, lối sống, thói quen cũng đưa đến một hệ quả khó tránh khỏi là mâu thuẫn giữa các thế hệ: giữa ông bà – các cháu, giữa mẹ chồng – nàng dâu… Bên cạnh việc duy trì được tinh thần cộng đồng, gia đình truyền thống phần nào cũng hạn chế sự phát triển tự do quá mức của mỗi cá nhân. Trái với đặc trưng của gia đình truyền thống, gia đình Việt Nam hiện nay phần lớn là gia đình hạt nhân trong đó chỉ có một cặp vợ chồng (bố mẹ) và con cái mà họ sinh ra. Hầu hết các gia đình trí thức, viên chức nhà nước, công nhân công nghiệp, gia đình quân đội, công an đều là gia đình hạt nhân. Xu hướng phát triển gia đình hạt nhân ở Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng vì nhiều ưu điểm và lợi thế của nó. Trước hết gia đình hạt nhân tồn tại như một đơn vị độc lập, gọn nhẹ, linh hoạt và có khả năng thích ứng nhanh với các biến đổi xã hội. Gia đình hạt nhân có sự độc lập về quan hệ kinh tế. Kiểu gia đình này tạo cho mỗi thành viên trong gia đình khoảng không gian tự do tương đối lớn để phát triển tự do cá nhân. Cá nhân tính được đề cao. Trong xã hội hiện đại, mức độ độc lập cá nhân được coi là một yếu tố biểu hiện chất lượng cuộc sống gia đình. Tính độc lập cá nhân được gia đình tạo điều kiện nuôi dưỡng, phát triển sẽ tạo ra phong cách sống, tính cách, năng lực sáng tạo riêng khiến cho mỗi người đều có bản sắc. Mô hình gia đình hạt nhân cũng có những điểm yếu sau đây: – Quy mô trung bình của gia đình Việt Nam giảm từ 4,4 người/hộ (2006) xuống còn 3,7 người/hộ (2013). – Tỉ lệ ly hôn, ly thân trong các gia đình hạt nhân ngày càng gia tăng. – Dưới sự tác động của của các yếu tố kinh tế, văn hóa trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, không ít những giá trị truyền thống tốt đẹp trong gia

36. 31 đình Việt Nam đang có xu hướng bị coi nhẹ; mức độ liên kết giữa các thành viên trong gia đình cũng có nhiều thay đổi; các thành viên trong gia đình có sự bình đẳng và tôn trọng các phẩm chất cá nhân của nhau nhiều hơn. – Gia đình nhiều thế hệ về cơ bản đã được thay thế bằng mô hình gia đình hạt nhân – gia đình quy mô nhỏ, chỉ có vợ chồng (bố, mẹ) và con cái. Trong xã hội hiện đại, sự tác động của các yếu tố khách quan như nền kinh tế thị trường, quá trình giao lưu hợp tác quốc tế, sự thâm nhập của những giá trị mới, cùng với việc bản thân giá trị truyền thống trong gia đình Việt Nam chưa có những cơ chế vững chắc để có thể tự bảo lưu, tiếp tục phát triển là những nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi của gia đình truyền thống. Sự bảo lưu phải vừa tích cực, giữ lại được những tinh hoa của giá trị gia đình truyền thống, vừa phải biết bổ sung thêm những giá trị tích cực của thời đại mới. Tóm lại, đặc trưng của gia đình Việt Nam có quy luật phát triển mang tính chất và đặc thù riêng với tư cách là một thể thống nhất, một tế bào hoàn chỉnh và là một đơn vị cơ sở của một xã hội cụ thể. 2.1.2. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về gia đình ở Việt Nam 2.1.2.1. Khái niệm pháp luật về gia đình Trong khoa học Lý luận về nhà nước và pháp luật, khái niệm pháp luật có thể được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp tuỳ thuộc yêu cầu tiếp cận và giải quyết các vấn đề cụ thể của hệ thống pháp luật. Theo nghĩa hẹp, pháp luật là tổng thể các quy tắc xử sự, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước và phản ánh những nhu cầu xã hội khách quan, điển hình, phổ biến để điều chỉnh các quan hệ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Như vậy, theo nghĩa hẹp, pháp luật chỉ bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật thực định, nên còn gọi là pháp luật thực định. Theo nghĩa rộng, pháp luật là tổng thể các quy tắc xử sự và các nguyên tắc, định hướng, mục đích pháp luật, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước và phản ánh những nhu cầu xã hội khách quan, điển hình, phổ biến để điều chỉnh các quan hệ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nghĩa là, khái niệm pháp luật hiểu theo nghĩa rộng bao gồm pháp luật thực định, hệ thống quy phạm pháp luật cụ

37. 32 thể, hiện hành và những vấn đề có tính khái quát, trừu tượng hơn, thể hiện bản chất của pháp luật và có tính định hướng cho cả tương lai tồn tại và phát triển của pháp luật: Nguyên tắc, định hướng, mục đích. – Nguyên tắc pháp luật là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật. Nguyên tắc pháp luật khác với các quy phạm pháp luật cụ thể ở tính khái quát, không quy định cho một trường hợp cụ thể mà tạo ra nền tảng, cơ sở và có tính định hướng xuyên suốt trong quá trình xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật. Ví dụ, nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc vì con người, nguyên tắc bình đẳng, công bằng, nhân đạo, nhân văn… tuy không được ghi nhận cụ thể dưới dạng một quy phạm pháp luật, nhưng nội dung của chúng được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau trong các quy phạm pháp luật và luôn là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của hệ thống pháp luật. – Các định hướng pháp luật cũng là một bộ phận quan trọng của pháp luật, thể hiện các quan điểm chính sách của nhà nước về những vấn đề quan trọng cho một thời gian tương đối dài. Ví dụ, định hướng: xây dựng gia đình thực sự là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa và giáo dục nếp sống cho con người. Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu, có nền nếp, ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau. – Các mục đích của pháp luật là các quy định của pháp luật phải hợp lý và có thể được áp dụng một cách hợp lý. Bản chất của sự việc chỉ đưa ra được những giải pháp chung cho những trường hợp điển hình; các nguyên tắc và định hướng pháp luật đặt ra những “đường ray” và xác định hướng vận động cho “con tàu pháp luật”. Để pháp luật phát huy được vai trò thực sự của mình thì các mục đích pháp luật phải được xác định và phải được kiểm nghiệm trong đời sống pháp luật và đời sống xã hội. Mục đích chung của pháp luật là bảo đảm sự an toàn, công lý và lợi ích. Mục đích cụ thể của pháp luật thì hết sức đa dạng và phức tạp vì suy cho cùng tất cả các hành vi của con người đều nhằm tới một mục tiêu nào đó và giá trị của nó sẽ phụ thuộc vào giá trị của các mục đích đề ra.

38. 33 Từ những phân tích trên, pháp luật về gia đình cần được hiểu theo nghĩa rộng, bởi vì gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, các mối quan hệ về gia đình rất phong phú, sinh động nhưng cũng rất phức tạp, tinh tế và nhạy cảm, được điều chỉnh không chỉ bằng pháp luật, mà còn bằng đạo đức và các quy phạm xã hội khác. Việc kết hợp pháp luật với đạo đức và các quy phạm xã hội khác có ý nghĩa rất quan trọng và để thực hiện được điều đó thì những nguyên tắc, định hướng và mục đích của pháp luật luôn đòi hỏi phải được nhận thức đầy đủ và vận dụng một cách sáng tạo và phù hợp. Pháp luật về gia đình là một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, là một bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật nói chung và đến lượt mình pháp luật về gia đình cũng là một hệ thống bao gồm nhiều bộ phận hợp thành để điều chỉnh các quan hệ về gia đình. Xuất phát từ nhu cầu khách quan, Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực gia đình. Các quy phạm pháp luật về gia đình là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, là khuôn mẫu, thước đo để các chủ thể thực hiện các hành vi trong quan hệ về gia đình, đồng thời, các quy phạm pháp luật về gia đình cũng là tiêu chí để đánh giá tính hợp pháp hay không hợp pháp của các hành vi con người trong lĩnh vực gia đình. Các quy phạm pháp luật về gia đình thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển gia đình. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X (4/2006) đã đề ra định hướng phát triển gia đình Việt Nam trong giai đoạn mới: Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [60].

39. 34 Định hướng về xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam nêu trên hoàn toàn phù hợp với ý chí, nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Bởi lẽ bất cứ ai cũng là thành viên của một gia đình nhất định; mỗi gia đình và thành viên gia đình đều mong muốn hướng tới một cuộc sống no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Vì vậy, chủ trương, quan điểm của Đảng và ý chí, nguyện vọng của nhân dân chính là cơ sở cho việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực thi có hiệu quả pháp luật về gia đình. Các quy phạm pháp luật về gia đình được chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục nhất định và được áp dụng nhiều lần trong cuộc sống. Các quy phạm pháp luật về gia đình được quy định chủ yếu trong Hiến pháp, Luật hôn nhân và Gia đình (2014), Luật Bình đẳng giới (2007); Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2008); các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành, các Thông tư của bộ… Ngoài ra, để điều chỉnh một số quan hệ xã hội về gia đình, Nhà nước thừa nhận và cho phép sử dụng các tập quán tốt đẹp của các dân tộc. Điều 7 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2 và không vi phạm điều cấm của Luật này được áp dụng”. Như vậy, bên cạnh hình thức chủ yếu là văn bản quy phạm pháp luật, các tập quán tốt đẹp của các dân tộc không trái với nguyên tắc của Luật Hôn nhân gia đình có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ xã hội về gia đình. Từ đó chúng tôi có thể đưa ra khái niệm: Pháp luật về gia đình là hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục nhất định và các tập quán tốt đẹp được nhà nước thừa nhận, thể hiện bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, không trái với những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình và các điều cấm của Hiến pháp và pháp luật, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về gia đình, hướng tới xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.

40. 35 2.1.2.2. Đặc điểm của pháp luật về gia đình Pháp luật về gia đình là một bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật, vì vậy nó mang những đặc trưng cơ bản của pháp luật nói chung như: Pháp luật về gia đình do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước, có tính bắt buộc chung, tính quy phạm phổ biến và tính hệ thống, phản ánh những nhu cầu khách quan, điển hình, phổ biến và có tính công lý trong lĩnh vực gia đình, để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh, tồn tại và phát triển trong lĩnh vực gia đình. Bên cạnh đó, pháp luật về gia đình là một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, vì vậy nó có những đặc điểm riêng cơ bản sau: Thứ nhất, về tính chất: Pháp luật về gia đình cùng loại với pháp luật dân sự, nhưng không đồng nhất với pháp luật dân sự. Sự khác biệt đó thể hiện rõ nét ở đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của pháp luật hôn nhân và gia đình. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về gia đình là các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và các con, giữa những người thân thích ruột thịt khác. Quan hệ nhân thân là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình như: quan hệ giữa vợ và chồng về sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, về việc xác định chỗ ở chung, quan hệ giữa cha mẹ và các con về việc xác định chế độ pháp lý nhân thân của con chưa thành niên… Quan hệ tài sản là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình về những lợi ích tài sản như: quan hệ cấp dưỡng lẫn nhau giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và các con, giữa các thành viên khác trong gia đình, quan hệ về sở hữu giữa vợ và chồng… Xét về mặt hình thức, đối tượng điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình có nhiều điểm giống với đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự. Tuy nhiên, về nội dung, các quan hệ hôn nhân và gia đình có những điểm riêng đáng chú ý đó là: Một là: nhóm quan hệ nhân thân là đối tượng điều chỉnh cơ bản và có ý nghĩa quyết định của pháp luật về gia đình. Bởi vì, trong đời sống gia đình nói chung và trong từng nhóm, từng mối quan hệ gia đình cụ thể nói riêng, thì tình cảm, sự tin tưởng, chân thành, sự gắn bó, yêu thương, chia sẻ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái và giữa các thành viên khác trong gia đình luôn là yếu tố quan trọng, thiêng liêng và hiện thực nhất.

Thực Hiện Chính Sách Bảo Hiểm Y Tế Ở Nước Ta: Thành Tựu, Thách Thức Và Giải Pháp / 2023

Trân trọng cảm ơn người dùng đã đóng góp vào hệ thống tài liệu mở. Chúng tôi cam kết sử dụng những tài liệu của các bạn cho mục đích nghiên cứu, học tập và phục vụ cộng đồng và tuyệt đối không thương mại hóa hệ thống tài liệu đã được đóng góp.

Many thanks for sharing your valuable materials to our open system. We commit to use your countributed materials for the purposes of learning, doing researches, serving the community and stricly not for any commercial purpose.

Trải qua gần 17 năm thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, với ba lần thay đổi Nghị định, BHYT đã đã tạo nên những thay đổi quan trọng không chỉ về cơ chế, chính sách tài chính y tế mà còn tác động đến nhiều mặt của hoạt động khám bệnh, chữa bệnh (KBCB) cho nhân dân và đã đạt được những kết quả nhất định.

Chính sách BHYT ở Việt Nam bắt đầu được triển khai từ năm 1992. Theo Điều lệ BHYT được ban hành kèm theo Nghị định 299/NĐ/CP của Chính phủ, BHYT Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế; BHYT các tỉnh và ngành trực thuộc BHYT Việt Nam. Đến 1998, thực hiện Nghị định số 58/1998/NĐ-CP của Chính phủ, BHYT Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất hệ thống cơ quan BHYT từ trung ương đến địa phương và BHYT ngành để quản lý và thực hiện chính sách BHYT. Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất trên phạm vi cả nước. Từ 1-1-2003, BHYT sáp nhập vào Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Bảo hiểm Xã hội Việt Nam là cơ quan tổ chức thực hiện chính sách BHYT. Đến ngày 8-8-2005 Chính phủ đã có Quyết định thành lập Vụ BHYT thuộc Bộ Y tế để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về BHYT.

Đối tượng tham gia BHYT ngày càng được mở rộng sau 3 lần thay đổi Nghị định, đặc biệt là các đối tượng: người nghèo; người có công với cách mạng; cán bộ xã phường thị trấn; đại biểu hội đồng nhân dân; thân nhân của sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và của sỹ quan Công an nhân dân; cựu chiến binh thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ; người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên; người lao động thuộc các doanh nghiệp ngoài nhà nước không phân biệt số lượng lao động đều tham gia BHYT bắt buộc.

Qua 3 lần thay đổi Nghị định, đặc biệt là từ khi triển khai thực hiện Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16-5-2005 của Chính phủ, đối tượng và phạm vi bao phủ BHYT tăng nhanh và nhu cầu khám chữa bệnh của người bệnh BHYT cũng gia tăng nhanh chóng. Nếu như năm 1993 mới chỉ có 3,79 triệu người tham gia BHYT thì đến năm 2005 số người tham gia BHYT đã lên tới 23,7 triệu người, chiếm 28% dân số; năm 2008, tổng số người tham gia BHYT là hơn 39,3 triệu chiếm 46% dân số, tăng hơn 10 lần so với năm 1993.

BHYT tự nguyện được mở rộng đến các đối tượng: nông dân, hội viên các hội đoàn thể quần chúng (phụ nữ, thanh niên, cựu chiến binh..), người ăn theo. Tổng số người tham gia BHYT tự nguyện năm 2008 ước tính tăng hơn 2 lần so với năm 2003.

Nghị định 63/2005/NĐ-CP ra đời đã tạo ra nhiều đổi mới trong thực hiện chính sách, người tham gia BHYT được hưởng quyền lợi khá đầy đủ và toàn diện, vừa đảm bảo khám chữa bệnh với kỹ thuật cao, vừa từng bước đảm bảo quyền lợi về y tế dự phòng và phục hồi chức năng.

Cơ sở KBCB BHYT ngày càng được mở rộng, cả khu vực công lập và tư nhân. Việc tổ chức KBCB BHYT tại tuyến xã đã tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia BHYT trong việc tiếp cận, lựa chọn cơ sở KBCB ban đầu phù hợp, góp phần củng cố và phát triển mạng lưới y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ ban đầu và KBCB thông thường tại tuyến y tế cơ sở. Đây cũng là định hướng rất phù hợp với chủ trương xã hội hoá y tế và giải quyết một phần tình hình quá tải hiện nay tại các cơ sở y tế nhà nước.

Đến nay, cả nước đã có hơn 1.900 cơ sở KBCB cả công lập và ngoài công lập và khoảng 80% số trạm y tế xã, phường có hợp đồng KBCB BHYT.

Số người được KBCB BHYT tăng nhanh hàng năm. Tổng số lượt người KBCB bằng thẻ BHYT trong năm 2005 là hơn 40 triệu và năm 2008 khoảng 80 triệu lượt người, cả nội trú và ngoại trú, tăng 1,2 lần so với năm 2007. Tần suất KBCB của người tham gia BHYT tăng dần hàng năm.

Cùng với việc mở rộng đối tượng, mở rộng quyền lợi, tăng tần suất KCB, chi trả chi phí KBCB từ Quỹ BHYT cho người bệnh tăng dần hàng năm. Tổng thu ước tính của quỹ BHYT năm 2008 là khoảng 9.415 tỷ đồng, t ă ng gần 3.000 tỷ đồng so với năm 2007; tổng thu từ BHYT tự nguyện chiếm khoảng 18% tổng thu của quỹ, trong khi số đối tượng tham gia BHYT tự nguyện chiếm 27% tổng số người tham gia BHYT.

Chi trả KBCB BHYT tăng dần hàng năm; từ năm 2005 xuất hiện hiện tượng bội chi. Năm 2005 bội chi 138 tỷ đồng, năm 2006 bội chi 1.200 tỷ đồng, năm 2007 bội chi 1.840 tỷ đồng; ước tính năm 2008 bội chi 1.450 tỷ đồng.

Những kết quả đạt được sau gần 17 năm thực hiện chính sách BHYT đã khẳng định:

– Tính đúng đắn và phù hợp trong lựa chọn chính sách tài chính y tế thông qua BHYT. Số người tham gia BHYT tăng hàng năm và đã mở rộng các đối tượng tham gia BHYT. Cùng với chính sách Bảo hiểm xã hội, BHYT đã góp phần hình thành và phát triển mạng lưới an sinh xã hội ở nước ta.

– Nguồn kinh phí từ BHYT đã góp phần quan trọng, ổn định trong việc bảo đảm ngân sách hoạt động của các bệnh viện và từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ của các cơ sở y tế. Nguồn thanh toán chi phí KBCB từ quỹ BHYT từ chỗ chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong nguồn thu của các cơ sở KBCB, cho đến nay BHYT ngày càng tăng lên và chiếm một tỷ lệ đáng kể trong nguồn thu của các bệnh viện công và một số bệnh viện tư.

– Với việc mở rộng cơ sở KBCB BHYT, cả công và tư, BHYT đã tạo thuận lợi cho người bệnh trong việc lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh. Việc mở rộng KBCB BHYT tại tuyến xã đã góp phần củng cố và phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ ban đầu và KBCB thông thường tại tuyến y tế cơ sở.

– Chính sách BHYT đã góp phần vào thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo và công bằng xã hội, góp phần làm thay đổi nhận thức của người dân trong việc lựa chọn các giải pháp tài chính để chăm lo sức khỏe của bản thân.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình thực hiện chính sách BHYT còn một số tồn tại, bất cập sau:

– Đối tượng tham gia BHYT đã mở rộng nhưng số người tham gia chưa nhiều, mức độ bao phủ BHYT trong dân số chưa cao (khoảng 46% dân số), đối tượng tham gia BHYT hiện tại chủ yếu là diện bắt buộc. Chưa giải quyết được một số vấn đề, nhất là trong việc bắt buộc sự tham gia đầy đủ của các nhóm đối tượng hay của các chủ sử dụng lao động.

– Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền lợi và mức đóng BHYT khi mở rộng phạm vi bao phủ và quyền lợi, nhất là với các nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ và nhóm tham gia BHYT tự nguyện, ảnh hưởng đến sự an toàn của quỹ BHYT.

– Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách BHYT chưa mạnh, chưa đồng bộ, thiếu tính hấp dẫn; sự phối hợp, hợp tác giữa BHXH với cơ sở KBCB còn hạn chế, thiếu sự hợp tác vì mục tiêu chung là công bằng, hiệu quả, cải thiện chất lượng điều trị và thoả mãn sự hài lòng của người bệnh BHYT.

Nguyên nhân của những hạn chế trên là do: thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành y tế và cơ quan Bảo hiểm xã hội và cơ sở khám, chữa bệnh trong tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát. Công tác cải cách thủ tục hành chính tại các cơ sở khám, chữa bệnh chưa được chú trọng; chưa đẩy mạnh công tác tuyên truyền giải thích chế độ khám, chữa bệnh BHYT tại nơi khám bệnh; tổ chức và cung cấp dịch vụ y tế tại tuyến xã còn chưa phù hợp; chưa đồng bộ trong chính sách viện phí.

Để khắc phục tình trạng trên và từng bước hoàn thiện chính sách pháp luật về BHYT, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh BHYT, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng về khám, chữa bệnh của nhân dân, nhất là của những người có thẻ BHYT trong thời gian tới cần đẩy mạnh thực hiện một số giải pháp sau:

1. Nâng cao nhận thức của cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể và mọi người dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của BHYT và nghĩa vụ của mỗi người dân trong tham gia BHYT và thực hiện chính sách BHYT.

2. Tăng cường trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện chính sách BHYT, triển khai thực hiện Luật BHYT với 3 nội dung cụ thể là:

– Xây dựng và ban hành các văn bản dưới luật;

– Tổ chức việc học tập phổ biến, tuyên truyền nội dung của Luật;

– Xây dựng chỉ tiêu dân số tham gia BHYT và dành ngân sách nhà nước để mua BHYT cho người nghèo, người cận nghèo và các đối tượng chính sách xã hội trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội;

3. Tăng cường và đổi mới công tác thông tin, truyền thông về BHYT: của các cơ quan thông tấn, báo chí; tuyên truyền cho từng đối tượng cụ thể, nhất là một số đối tượng cần được đặc biệt quan tâm như nông dân, người cận nghèo, học sinh, sinh viên và chủ sử dụng lao động. Công tác thông tin, tuyên truyền phải tham gia tích cực vào việc giới thiệu gương tốt trong thực hiện BHYT, đồng thời phát hiện và phê phán những đơn vị và cá nhân không chấp hành nghiêm hay vi phạm Luật BHYT.

4. Củng cố và nâng cao năng lực bộ máy thực hiện BHYT; tăng cường đào tạo nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác BHYT; tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, tổng kết kinh nghiệm… để hoàn thiện chính sách BHYT.

5. Tăng cường năng lực quản lý nhà nước về BHYT, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các vi phạm; đề xuất động viên khen thưởng kịp thời các trường hợp thực hiện tốt chính sách BHYT. Xây dựng và triển khai thực hiện hiệu quả các quy chế phối hợp trong hoạt động BHYT.

– Nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh BHYT, tập trung cải cách thủ tục hành chính, nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ y tế;

– Sử dụng tốt các nguồn đầu tư cho mạng lưới khám bệnh, chữa bệnh, đặc biệt là y tế cơ sở;

– Thực hành tiết kiệm trong khám bệnh, chữa bệnh BHYT.

Với bản chất nhân đạo của BHYT, với những kết quả đã được khẳng định, với đường lối đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành tích cực của Chính phủ, sự vào cuộc của toàn xã hội, mục tiêu thực hiện BHYT toàn dân sẽ sớm trở thành hiện thực./.

Về Quản Lý, Bảo Vệ Biên Giới Quốc Gia Hiện Nay / 2023

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh: quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia (BGQG) luôn là quá trình đấu tranh gay go, quyết liệt. Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong xây dựng và bảo vệ BGQG, nên biên giới và khu vực biên giới (KVBG)* của nước ta cơ bản giữ được ổn định và ngày càng phát triển về mọi mặt. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó, nơi đây cũng còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp. Lợi dụng những vấn đề nhạy cảm và những mặt tồn tại khách quan về biên giới, các thế lực thù địch thường coi KVBG là địa bàn lý tưởng để thực hiện mưu đồ chống phá. Cùng với đó, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngoài các yếu tố tích cực, cũng làm nảy sinh không ít yếu tố tiêu cực; đó là sự gia tăng các loại tội phạm xuyên quốc gia, hoạt động rửa tiền, buôn bán phụ nữ, trẻ em và buôn bán, xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh trái phép qua biên giới, v.v. Do đó, nếu ta không làm tốt công tác giáo dục và có các biện pháp phù hợp thì rất có thể nảy sinh nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc, đánh mất độc lập, tự chủ quốc gia. Cái gọi là “biên giới mềm”, “biên giới kinh tế”, “biên giới dân tộc” hay “biên giới văn hóa” dường như đang đồng hành với việc mở cửa, hội nhập, làm cho khái niệm BGQG truyền thống phần nào bị hiểu sai lệch, hoặc ngộ nhận, dẫn đến chủ quyền quốc gia có thể bị hạn chế một cách tương đối. Tất cả những vấn đề đó khiến KVBG tiếp tục là địa bàn trọng điểm phức tạp về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cùng với đẩy mạnh lộ trình hoạch định về đường biên giới chung với các quốc gia láng giềng phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và luật pháp quốc tế, theo chúng tôi, thời gian tới việc quản lý, bảo vệ BGQG cần tập trung vào mấy vấn đề sau đây:

1- Quản lý, bảo vệ BGQG phải trên cơ sở nắm vững và vận dụng linh hoạt, sáng tạo đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các điều ước quốc tế về biên giới mà Nhà nước ta đã ký kết.

BGQG của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.Chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về biên giới bao giờ cũng xuất phát vì lợi ích quốc gia. Trước sau như một, Đảng ta luôn khẳng định, các vấn đề về chủ quyền, BGQG phải được giải quyết bằng đàm phán, thương lượng trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Trong quá trình đàm phán về biên giới, hai bên (nước ta và nước hữu quan) không tiến hành những hoạt động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực; bàn bạc kịp thời và giải quyết thỏa đáng những vấn đề nảy sinh trên tinh thần xây dựng, góp phần ổn định khu vực và thế giới. Trong điều kiện mở cửa, giao lưu, hợp tác quốc tế, Đảng và Nhà nước ta chủ trương khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho các hoạt động thông thương qua biên giới theo tinh thần hợp tác, cùng phát triển, đúng pháp luật của Việt Nam; đồng thời, cũng khẳng định lập trường kiên quyết đấu tranh không thỏa hiệp khi chủ quyền BGQG bị xâm hại, nghiêm trị những hành động vi phạm pháp luật, vi phạm các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc thừa nhận.

Quán triệt đầy đủ và sâu sắc những vấn đề trên là cơ sở định hướng về tư tưởng và hành động của chúng ta trong quản lý, bảo vệ biên giới. Quản lý, bảo vệ BGQG phải đặt dưới sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, do Nhà nước điều chỉnh bằng quyền lực của mình đối với hoạt động của các lực lượng, các ngành, các cấp, dựa trên sức mạnh của quần chúng nhân dân. Quản lý, bảo vệ biên giới là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng trực tiếp tham gia quản lý, bảo vệ biên giới là Bộ đội Biên phòng (lực lượng nòng cốt, chuyên trách), công an, hải quan, quân đội, chính quyền và nhân dân ở KVBG. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, đòi hỏi các lực lượng phải thấu triệt quan điểm, chủ trương trên vào từng nhiệm vụ cụ thể nhưng phải rất linh hoạt, sáng tạo, kết hợp với nghệ thuật xử lý mềm dẻo, khôn khéo để đạt được mục đích. Bên cạnh đó, còn phải kịp thời phản ánh những động thái mới nảy sinh; tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước những vấn đề cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện. Việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước và các điều ước quốc tế về biên giới là cần thiết. Nhưng quyết không phải là sự vận dụng tùy tiện, vô nguyên tắc, mà là sự vận dụng có lý, có tình; xem xét, giải quyết bất cứ một sự việc cụ thể nào cũng phải đặt nó trong cái tổng thể, nghĩa là phải “vừa nhìn thấy cây, vừa nhìn thấy rừng”; tránh suy nghĩ, hành động thô cứng, làm cho quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước thì “mở”, nhưng hành động cụ thể thì chặt chẽ đến máy móc, hoặc đối tượng thì “mở” nhưng đối tác thì bị ngăn cản, v.v.

2- Quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia một cách toàn diện.

Đường biên được xác lập một cách rõ ràng, minh định; hệ thống mốc quốc giới được xây dựng, quản lý và bảo vệ vững chắc thì chủ quyền lãnh thổ quốc gia tất yếu được toàn vẹn. Song trong điều kiện mới, đạt được yêu cầu chiến lược đó cũng chưa đủ. Nếu trên đất nước xuất hiện một vùng “tự trị” thì cũng đồng nghĩa với việc đất nước bị chia cắt, Tổ quốc chưa thống nhất, mặc dù không có họa xâm lăng. Trong mọi thời kỳ lịch sử, ông cha ta luôn coi KVBG là nơi “quan yếu” của đất nước. Ngày nay, do vị trí địa lý, đặc điểm địa bàn, địa hình và một số nguyên nhân khác, KVBG vẫn là khu vực nhạy cảm, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, lịch sử, từ đó lôi kéo, kích động nhân dân chống phá chính quyền cách mạng hay nhen nhóm tư tưởng “cát cứ”, “tự trị”, “ly khai”. Nhìn ở một góc độ khác, “biên giới hữu hình” – dấu hiệu bằng vật thể dùng để đánh dấu đường biên, mốc quốc giới trên đất liền – có thể còn nguyên vẹn, song không loại trừ tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân ở KVBG đã bị xâm hại. Điều đó có nghĩa là, kẻ phá hoại hoàn toàn không cần qua lại biên giới nhưng thông qua các phương tiện truyền thông vẫn có thể thực hiện được âm mưu xấu độc.

Vì vậy, phải quản lý, bảo vệ biên giới một cách toàn diện, cả BGQG trên đất liền, BGQG trong lòng đất, BGQG trên không, bao gồm: bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ quyền lợi (vật chất và tinh thần) của nhân dân; bảo vệ môi sinh, môi trường, tài nguyên; bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc và lợi ích quốc gia, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở KVBG; chống xâm nhập trái phép và chống buôn lậu qua biên giới. Tất cả các nội dung đó phải gắn chặt với bảo vệ chế độ XHCN, giữ gìn độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, kịp thời cùng với các lực lượng nội địa phát hiện và đập tan âm mưu “chia cắt”, “tự trị” ở KVBG.

Yêu cầu “toàn diện” còn thể hiện ở chỗ, quản lý, bảo vệ biên giới đi đôi với xây dựng KVBG vững mạnh, đặt hai nhiệm vụ này trong một thể thống nhất, có mối quan hệ biện chứng với nhau. KVBG vững mạnh là nền tảng sức mạnh vật chất, tinh thần đối với việc quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới. Ngược lại, quản lý, bảo vệ chặt chẽ biên giới sẽ góp phần triệt tiêu các nguy cơ, ngăn cản cái xấu độc, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng KVBG vững mạnh về mọi mặt.

Trong điều kiện mới của đất nước, ổn định biên giới lâu dài là mục tiêu, đồng thời là chủ trương chiến lược của Đảng. Chỉ có thực hiện được mục tiêu này mới góp phần bảo đảm cho đất nước ổn định để phát triển. Một biên giới hòa bình, thắm tình hữu nghị anh em là cơ sở của sự đồng thuận và là điều kiện để loại bỏ sự xung đột, lấn chiếm, vi phạm chủ quyền biên giới, lãnh thổ. Nhưng như thế cũng chưa đủ. Biên giới ấy còn cần phải là biên giới cùng hợp tác, cùng phát triển để xóa bỏ đói nghèo, lạc hậu, nâng cao trình độ dân trí, đời sống, tinh thần của nhân dân hai bên. Có như vậy mới tạo ra môi trường lành mạnh, làm cho các thế lực thù địch (kẻ thù chung của hai bên) không còn địa bàn thuận lợi để hoạt động phá hoại. Như vậy, quản lý, bảo vệ biên giới, cùng với các nội dung, nhiệm vụ trên, còn phải tạo mọi điều kiện cho nhân dân hai bên đi lại làm ăn, giao lưu văn hóa, xây dựng mối quan hệ bang giao, hòa hiếu, thân thiện từ ngay trong các bản làng, phum sóc, chính quyền ở KVBG đến chính quyền Trung ương; đồng thời, cùng nhau hợp tác, phát triển kinh tế, xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn địa bàn biên giới, nhất là trong lĩnh vực chống khủng bố, chống các tội phạm xuyên quốc gia.

Muốn giải quyết tốt mối kết hợp nêu trên, quá trình quản lý, bảo vệ BGQG phải tùy vào tính chất vụ việc, thời điểm xảy ra vụ việc, nhất là động cơ, mục tiêu chính trị cụ thể để vận dụng hình thức, biện pháp đấu tranh cho phù hợp. Khi phải đối phó với xung đột, lấn chiếm biên giới có tổ chức, có vũ trang thì hoạt động quân sự, hành động tác chiến nổi lên hàng đầu, nhưng vẫn phải kết hợp với chính trị, ngoại giao để giải quyết. Khi đấu tranh chống tội phạm, chống xâm nhập thì dùng biện pháp an ninh, kiểm soát là chủ yếu, kết hợp với biện pháp đối ngoại để hợp tác đấu tranh với lực lượng bảo vệ biên giới hai bên; trường hợp khủng bố, còn cần kết hợp với biện pháp quân sự để tiến công tội phạm. Nếu xảy ra bạo loạn ở KVBG, phải chủ động kết hợp nhiều biện pháp đấu tranh ngăn chặn, không để vụ việc lan rộng và có phương án đối phó với kẻ xấu khi chúng lợi dụng cơ hội này để lấn chiếm, xâm nhập biên giới.

Đối ngoại là biện pháp quan trọng trong quản lý, bảo vệ biên giới. Biện pháp này thường được tiến hành thường xuyên, song khi đã xảy ra vụ việc thì cùng lúc cần vận dụng nhiều hình thức đối ngoại, cả trực tiếp và gián tiếp, cả hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước, đối ngoại Biên phòng và đối ngoại nhân dân ở KVBG để tăng hiệu quả đối ngoại, kịp thời hỗ trợ cho các biện pháp khác, nhất là khi phải đấu tranh với vụ việc có tính chất nghiêm trọng.

Phó Tham mưu trưởng Bộ đội Biên phòng

* Khu vực biên giới trên đất liền gồm xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia trên đất liền ( Luật Biên giới quốc gia, Nxb CTQG, H. 2003, tr. 12).

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bảo Vệ Thành Công Luận Án Tiến Sĩ Chính Sách Công “Thực Hiện Chính Sách Pháp Luật Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia Ở Việt Nam Hiện Nay” / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!