Đề Xuất 2/2023 # Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học: Giải Pháp Chúng Ta Có Ở Thiên Nhiên # Top 9 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học: Giải Pháp Chúng Ta Có Ở Thiên Nhiên # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học: Giải Pháp Chúng Ta Có Ở Thiên Nhiên mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đa dạng sinh học và hệ sinh thái cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho xã hội, đặc biệt là các dịch vụ điều tiết và hỗ trợ, giúp con người thích ứng với các tác động bất lợi của biến đổi khí hậu và rủi ro thiên tai…

Báo động suy giảm đa dạng sinh học

Trên Trái Đất có vô vàn loài động, thực vật khác nhau, cùng chung sống và tác động lẫn nhau, tạo nên sự đa dạng của hệ sinh học. Giá trị của đa dạng sinh học là vô cùng to lớn và có thể chia thành hai loại giá trị: giá trị trực tiếp và giá trị gián tiếp.

Giá trị kinh tế trực tiếp của tính đa dạng sinh học là những giá trị của các sản phẩm sinh vật mà được con người trực tiếp khai thác và sử dụng cho nhu cầu cuộc sống của mình.

Còn giá trị gián tiếp là những lợi ích bao gồm số lượng và chất lượng nước, bảo vệ đất, tái tạo, giáo dục, nghiên cứu khoa học, điều hòa khí hậu và cung cấp những phương tiện cho tương lai của xã hội loài người.

Có thể kể một vài ví dụ như các rạn san hô và thảm thực vật ven biển hỗ trợ chắn sóng và bảo vệ bờ biển; các vùng đất ngập nước điều tiết dòng chảy lũ; rừng và cây rừng ổn định trầm tích, bảo vệ khỏi sạt lở đất. Các hệ sinh thái cũng kéo dài tuổi thọ của cơ sở hạ tầng, do đó tiết kiệm chi phí đầu tư…

Tuy nhiên, do các nguyên nhân khác nhau, đa dạng sinh học – nguồn tài nguyên quý giá nhất, đóng vai trò rất lớn đối với tự nhiên và đời sống con người, đang bị suy thoái nghiêm trọng.

Hậu quả tất yếu dẫn đến là sẽ làm giảm/mất các chức năng của hệ sinh thái như điều hoà nước, chống xói mòn, đồng hóa chất thải, làm sạch môi trường, đảm bảo vòng tuần hoàn vật chất và năng lượng trong tự nhiên, giảm thiểu thiên tai, các hậu quả cực đoan về khí hậu.

Cuối cùng, hệ thống kinh tế sẽ bị suy giảm do mất đi các giá trị về tài nguyên thiên nhiên, môi trường.

Có hai nhóm nguyên nhân chính gây ra sự suy thoái đa dạng sinh học, đó là do các tác động bất lợi của tự nhiên và của con người. Trong đó, từ giữa thế kỷ 19 đến nay, các ảnh hưởng do con người gây nên đặc biệt nghiêm trọng, làm thay đổi và suy thoái cảnh quan trên diện rộng.

Điều đó đã đẩy các loài và các quần xã sinh vật vào nạn diệt chủng. Con người phá hủy, chia cắt, làm suy thoái sinh cảnh, khai thác quá mức các loài cho nhu cầu của mình, du nhập các loài ngoại lai và gia tăng dịch bệnh, cũng là các nguyên nhân quan trọng làm suy thoái tính đa dạng sinh học.

“Giải pháp của chúng ta sẵn có ở thiên nhiên”

Trước tình trạng đa dạng sinh học trên toàn cầu bị suy thoái với tốc độ chưa từng có trong lịch sử loài người (IBPES, 2019), Liên hợp quốc đa kêu gọi áp dụng các “Giải pháp của chúng ta sẵn có ở thiên nhiên” nhằm thúc đẩy bảo tồn đa dạng sinh học, sống hài hòa với thiên nhiên, đóng góp chung vào nỗ lực toàn cầu trong bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và phát triển bền vững.

Giải pháp dựa vào thiên nhiên, đi kèm đó là bảo tồn đa dạng sinh học, phù hợp với Công ước Đa dạng sinh học năm 1992, vốn nhấn mạnh: con người là một phần của thiên nhiên chứ không tách rời khỏi thiên nhiên.

Đây cũng là chìa khóa để giảm nhẹ biến đổi khí hậu, tăng khả năng phục hồi và thích ứng ở một số khu vực quan trọng. Các khu vực này bao gồm bảo tồn, phục hồi rừng và các hệ sinh thái trên cạn; bảo tồn và phục hồi tài nguyên nước ngọt, hệ sinh thái biển và đại dương, cũng như hệ thống nông nghiệp và thực phẩm bền vững – nơi chiếm phần lớn diện tích Trái đất và tác động trực tiếp đến cuộc sống con người.

Giải pháp dựa trên thiên nhiên là biện pháp tiếp cận thay thế các phương pháp truyền thống đối với các vấn đề môi trường. Phương pháp truyền thống trong phát triển cơ sở hạ tầng được gọi là “xám” – là thiết lập các cấu trúc dựa trên xây dựng và nhân tạo. Trong khi các giải pháp dựa trên tự nhiên bao gồm cơ sở hạ tầng tự nhiên; xanh; hoặc tích hợp; hoặc kết hợp cả 3 yếu tố.

Ví dụ, việc xây dựng các công trình biển, hồ chứa, đập và hệ thống thoát nước, từ lâu thường dựa trên cách tiếp cận “xám.” Tác động của nó có thể gây ra một số phản ứng tiêu cực, gia tăng rủi ro về biến đổi khí hậu, thay đổi môi trường và làm suy giảm một số giống loài.

Tuy nhiên, khi áp dụng các giải pháp dựa trên thiên nhiên, những rủi ro này có thể được loại trừ. Thay vì xây đập hay đào hồ, chúng ta khôi phục và bảo tồn các rạn san hô, các vành đai rừng ngập mặn để tăng cường khả năng chống chịu lũ lụt ven biển và nước biển dâng, là tuyến phòng thủ đầu tiên giúp tiêu tán năng lượng sóng.

Việc gây dựng các thảm thực vật có thể giảm nguy cơ sạt lở, tạo các vành đai xanh để bổ sung nước ngầm ở những khu vực khô hạn, khan hiếm nước… Đây chính là cách áp dụng các giải pháp dựa vào thiên nhiên, tiếp cận hệ sinh thái để giải quyết các thách thức về môi trường, khí hậu và phát triển kinh tế.

Việt Nam nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học

Việt Nam là một trong những nước có đa dạng sinh học cao với nhiều kiểu hệ sinh thái, các loài sinh vật, nguồn gen phong phú và đặc hữu. Địa hình và khí hậu nhiệt đới gió mùa đã tạo ra sự đa dạng của các hệ sinh thái tự nhiên, trong đó hệ sinh thái rừng, đồng cỏ, các vùng đất ngập nước nội địa, đụn cát, bãi triều, cửa sông, thảm cỏ biển và rạn san hô, vùng biển sâu…

Tuy nhiên những năm qua, những hoạt động như khai thác quá mức tài nguyên sinh vật, sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng đánh bắt thủy sản chưa hợp lý… khiến nguồn tài nguyên sinh học ở nước ta không ngừng suy giảm.

Việt Nam chính thức phê chuẩn Công ước Đa dạng sinh học ngày 17/10/1994. Từ đó đến nay, Việt Nam đã có những bước tiến lớn trong công cuộc bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.

Đó là xây dựng được hệ thống các cơ quan quản lý, khung chính sách và pháp luật về đa dạng sinh học; hệ thống các khu bảo tồn đã được thành lập; các loài động thực vật nguy cấp quý hiếm được bảo vệ bằng pháp luật và thông qua các chương trình hành động; tiếp thu, đẩy mạnh thực hiện các vấn đề mới của bảo tồn đa dạng sinh học như an toàn sinh học, tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích có được từ việc sử dụng nguồn gene…

Việt Nam chính thức phê chuẩn Công ước Đa dạng sinh học ngày 17/10/1994. Từ đó đến nay, Việt Nam đã có những bước tiến lớn trong công cuộc bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.

Đặc biệt là nhận thức về tầm quan trọng, vai trò của đa dạng sinh học đối với cuộc sống và phát triển bền vững đất nước ngày càng được nâng cao.

Việt Nam cũng khuyến khích áp dụng các giải pháp công trình để có hiệu quả và bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường tự nhiên; thúc đẩy việc thực hiện các mô hình bảo tồn và sử dụng bền vững, áp dụng tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý tổng hợp đới bờ, lưu vực sông, quản lý rừng bền vững, chú trọng vai trò và quyền lợi của cộng đồng.

Điển hình như Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm, sau hơn 10 năm được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới, đã bảo tồn khá nguyên vẹn giá trị hệ sinh thái rừng, biển, thể hiện ở sự đa dạng về loài và nguồn gene.

Các hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển, rong biển được bảo tồn khá tốt. Tại vùng lõi Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm, người dân từ khai thác chuyển sang bảo vệ, đồng hành như những cán bộ bảo tồn thực thụ.

Từ chỗ người dân bắt rùa, thu trứng rùa để ăn, thì nay đã chung tay, góp sức trong công cuộc tái phục hồi và bảo vệ loài bò sát cổ quý hiếm này. Có một thời gian, san hô bị khai thác để làm cảnh, làm vật liệu xây dựng, thì nay người dân đã chủ động thực hiện trọn vẹn công nghệ phục phồi san hô.

Từ chỗ cua đá bị khai thác bừa bãi, đến nay nguồn lợi này đã được quản lý, khai thác, bảo tồn một cách hiệu quả với sự vào cuộc của đại diện bốn lực lượng gồm nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và người dân địa phương.

Hưởng ứng Ngày quốc tế Đa dạng sinh học năm 2020, Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam đã có những chỉ đạo nghiên cứu và áp dụng các giải pháp dựa vào thiên nhiên, tiếp cận hệ sinh thái trong quá trình xây dựng các quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh.

Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học Vì Mục Tiêu Phát Triển Bền Vững: Giải Pháp Của Chúng Ta Sẵn Có Ở Thiên Nhiên

(TN&MT) – Chủ đề Ngày Quốc tế Đa dạng sinh học năm 2020 là “Các giải pháp của chúng ta sẵn có ở thiên nhiên” (“Our solutions are in nature”) kêu gọi con người sống hài hòa với thiên nhiên, áp dụng các giải pháp dựa vào thiên nhiên để tạo sự thay đổi tích cực, đóng góp cho bảo vệ thiên nhiên, đa dạng sinh học và phát triển bền vững.

Chung tay bảo tồn

Thứ trưởng Bộ TN&MT Võ Tuấn Nhân kêu gọi mọi người dân “Hãy chung tay đóng góp tích cực cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học” thông qua sử dụng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; nghiêm chỉnh chấp hành các quy định pháp luật về đa dạng sinh học; gìn giữ các tri thức bản địa về bảo tồn và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, các giống cây trồng, vật nuôi bản địa, tích cực tham gia bảo vệ môi trường.

Bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ

“Chúng tôi tin tưởng và mong rằng, tất cả mọi người cùng chung tay hành động, nỗ lực xây dựng và giữ gìn Ngôi nhà chung – Trái đất xanh của chúng ta thì chắc chắn hệ sinh thái phát triển được cân bằng và tạo nên sự phát triển bền vững cho nhân loại”, Thứ trưởng nhấn mạnh.

Trước đó, hưởng ứng Ngày quốc tế Đa dạng sinh học, ngày 22 tháng 4 năm 2020, Bộ TN&MT đã có văn bản gửi các Bộ, ngành, địa phương đề nghị các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Cơ quan Ban – ngành đoàn thể Trung ương và địa phương; UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo nghiên cứu và áp dụng các giải pháp dựa vào thiên nhiên, tiếp cận hệ sinh thái trong quá trình xây dựng các quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và trong việc áp dụng các giải pháp công trình để có hiệu quả và bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường. Thúc đẩy việc thực hiện các mô hình bảo tồn và sử dụng bền vững; phổ biến các mô hình, giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học hiệu quả để nhân rộng.

Những nỗ lực quản lý

Chia sẻ những nỗ lực của Bộ TN&MT, Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân cho biết, nhận thức được tầm quan trọng của đa dạng sinh học, thời gian qua Bộ đã có nhiều hoạt động để đẩy mạnh bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ.

Thành quả rõ thấy nhất là hệ thống các Khu bảo tồn được thành lập. Hiện cả nước có 173 Khu bảo tồn với tổng diện tích hơn 2.500 ha, gồm 33 vườn quốc gia; 66 Khu dự trữ thiên nhiên; 18 Khu bảo tồn loài và sinh cảnh; 56 Khu bảo vệ cảnh quan (tăng 7 Khu bảo tồn so với năm 2015 với tổng diện tích tăng thêm gần 73.260 ha).

“Gần đây nhất, Bộ TN&MT phối hợp, tranh thủ sự hỗ trợ của các Tổ chức quốc tế đã triển khai thành công việc thành lập 2 Khu bảo tồn đất ngập nước là Thái Thụy (tỉnh Thái Bình) và Phá Tam giang – Cầu Hai (tỉnh Thừa Thiên – Huế)”, Thứ trưởng thông tin.

Bên cạnh việc thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên, Bộ TN&MT cũng kịp thời hướng dẫn, chỉ đạo việc kiểm soát việc buôn bán, tiêu thụ các loài động vật hoang dã nguy cấp và phóng sinh các loài ngoại lai xâm hại; xây dựng và trình Dự thảo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về loài ngoại lai xâm hại và Chỉ thị về một số giải pháp cấp bách để quản lý động vật hoang dã trong tình hình mới.

Nước ta có 9 khu Ramsar với tổng diện tích hơn 120.000 ha; có 10 Khu bảo tồn biển đã được thành lập với tổng diện tích gần 188.000 ha; có 9 khu vực được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới với tổng diện tích hơn 4,2 triệu ha. Trong năm 2019, Bộ TN&MT đã xây dựng hồ sơ đề cử và được Ban Thư ký ASEAN công nhận thêm 4 Vườn di sản ASEAN, nâng tổng số Vườn di sản ASEAN của Việt Nam thành 10 khu

Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân hy vọng, thời gian tới, công tác bảo tồn đa dạng sinh học tiếp tục được chú trọng tổng thể ở cấp quốc gia đến từng địa phương. Bởi đa dạng sinh học chính là giá trị quý báu của tự nhiên, góp phần to lớn trong đảm bảo an ninh lương thực, sinh kế cho người dân; duy trì nguồn gen của vật nuôi, cây trồng; là nguồn nhiên liệu, dược liệu quý… là cơ sở tạo lập phát triển bền vững trong tương lai.

(TN&MT) – Ngày 22/5, tại Quảng Ninh, Bộ Tài nguyên và Môi trường và UNDP Việt Nam đã khởi xướng tổ chức Diễn đàn đối tác về Bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) và sử dụng bền vững dịch vụ hệ sinh thái. Diễn đàn có sự tham gia của ông Nguyễn Văn Tài – Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, ông Phạm Anh Cường – Cục trưởng Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học, ông Đỗ Xuân Lân – Đại diện Bộ NN&PTNT; ông Michael Croft – Trưởng đại diện văn phòng UNESCO Việt Nam và ông Nguyễn Ngọc Sinh – Chủ tịch Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam. Cùng dự Toạ đàm còn có đại diện các viện nghiên cứu, trường đại học, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế, các chuyên gia trong lĩnh vực đa dạng sinh học và các cơ quan truyền thông.

Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học Ở Việt Nam

Bài Thuyết TrìnhBộ Môn : Đa Dạng Sinh HọcGVHD: Th.S Văn Hồng ThiệnNhóm TH: Nhóm 6MLHP : 210518301 DANH SÁCH NHÓMĐề TàiBảo tồn đa dạng sinh học ở Việt NamTổng quan đề tài– Kết luận và kiến nghị.

Khái quát sự đa dạng sinh học tại Việt Nam và những thực trạng hiện nay. – Nguyên nhân suy giảm và Biện pháp bảo tồn.– Mục tiêu của việc bảo tồn.Việt Nam được xem là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam Á giàu về đa dạng sinh học. Ở Việt Nam do sự khác biệt lớn về khí hậu từ vùng gần xích đạo tới vùng giáp cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thiên nhiên và cũng do đó mà Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao. Khái quát sự đa dạng sinh học tại Việt Nam và những thực trạng hiện nay. Các kiểu rừng phân bố tại Việt NamBiểu đồ thể hiện hệ thống các loài động vật phân bố ở Việt NamLoài linh trưởng ở Việt NamSự có mặt, sự tồn tại và phát triển của các quần thể Linh trưởng phụ thuộc vào khả năng sinh trưởng và phát triển của thực vật rừng. Chính vì vậy, thú Linh trưởng được coi là sinh vật chỉ thị đối với chất lượng rừng còn tốt.H1. Vooc Đầu Trắng H3. Chà vá chân đenH2. Vooc đen Hà TĩnhPhản ánhẢnh hưởngMối liên hệ giữa loài Linh Trưởng và RừngHiện nay, loài Linh trưởng Việt Nam đều đang bị đe doạ ở các mức độ khác nhau:1234Mức độ đe dọa tăng dầnSự giảm sút độ che phủ và chất lượng của rừngDiện tích rừng toàn quốc đã giảm từ chỗ năm 1943 chiếm 41% thì đến năm 1991 chỉ còn 28% tổng diện tích cả nước, trong đó chỉ còn 10% là rừng nguyên thủy. Miền Bắc Việt Nam đã chứng kiến sự sa sút lớn nhất về độ che phủ của rừng, giảm từ 95% đến 17% trong vòng 48 năm. Ở nhiều tỉnh độ che phủ còn lai rất thấp, ví dụ ở Lai Châu chỉ còn 7.88%, ở Sơn La 11.95% và ở Lào Cai 5.38%.

Mục Tiêu Của Việc Bảo TồnTìm hiểu những tác động tiêu cực do các hoạt động của con người gây ra đối với các loài, quần xã và các hệ sinh thái.H4. Tê giác bị cắt trộm sừng bởi con người.Hạn chế sự tuyệt diệt của các loài và cứu các loài đang bị đe dọa bằng cách đưa chúng hội nhập trở lại các hệ sinh thái đang còn phù hợp đối với chúng.H5. Tê giác Java – Loài được khẳng định là hiện diện tại VQG Cát TiênSinh học bảo tồn ra đời vì các khoa học ứng dụng truyền thống không còn đủ cơ sở để giải thích những mối đe dọa cấp bách đối với đa dạng sinh học.H6. Nạn phá rừng tăng làm mất nơi ở của nhiều loàiH7. Nạn săn bắt thú rừng bừa bãi làm cho nhiều loài bị tuyệt chủng.Nông nghiệp, lâm nghiệp, quản lý động vật hoang dã, sinh học thủy sản,… chủ yếu quan tâm đến vấn đề xây dựng các phương pháp quản lý một số ít các loài có giá trị kinh tế và làm cảnh. Những khoa học này thường không đề cập đến việc bảo vệ tất cả các loài có thể có trong các quần xã sinh vật, hoặc chỉ đề cập như là vấn đề không quan trọng.Sinh học bảo tồn bổ sung các nguyên tắc ứng dụng bằng cách cung cấp phương pháp tiếp cận có tính chất lý thuyết tổng thể cho việc bảo tồn đa dạng sinh học.Sinh học bảo tồn khác với các khoa học khác ở chỗ là bảo tồn một cách lâu dài toàn bộ các quần xã sinh vật là chính, các yếu tố kinh tế thường là thứ yếu.H8. Chà Vá Chân NâuCác hình thức bảo tồn đa dạng sinh họcBảo tồn nguyên vị ( Insitu Conversation )– L b?o v? t?i noi lồi dang s?ngH9. Sếu đầu đỏ – Loài đang được bảo tồn nguyên vị– Ch tr?ng d?c bi?t l cc lồi cy c? truy?n v hoang d?iH10. Cây SưaH11. Cây Cẩm Lai– Lo?i hình ph? bi?n l xy d?ng cc khu b?o t?nH12. Khu Bảo Tồn TN Xuân Thủy( Nam Định )H13. Khu Bảo Tồn ĐNN Láng Sen ( Long An )Bảo tồn nguyên vị có 3 mức độ (Brian Groombridge, 1992)Bảo tồn chuyển vị ( Exsitu Conservation)Động VậtThực VậtVườn ThúTrang trại nuôi động vậtThủy cungCT nhân giống động vậtVườn thực vậtVườn cây gỗNgân hàng giống- gene1234123Bảo Tồn Chuyển Vị Động Vật– Bảo tồn các vi khuẩn qúy hiếm, có giá trị đối với con người.– FAO có dự án 5 năm bảo tồn nguồn gen động vật dài 5 năm (1982 – 1987).H14. Lợi Khuẩn Lactobaccillus casei ShirotaH15. Nuôi cấy tế bào gốc nhung hươuH16. Nhân bản động vật bằng công nghệ tế bào gốcHiểu biết ĐDSHBảo TồnTăng sử DụngKhảo sát phân vùng địa lí sinh họcĐặc điểm Hình Thái Phân LoạiĐánh giáNông nghiệpTham giaNghiên cứu tiến hóaDi truyềnTác động của con ngườiEx situHST tự nhiênHST trong NNNgân hàng geneSinh lý hạtTái sinhNgân hàng Gene ở hiện trườngQuản lýChi phí thấpKĩ thuật mớiPhát triểnNC KT – XHQL trang trạiQL TN & MTXĐ & giảm các đe dọaQL HST T.NhiênKhôi Phục loài có KH khôi phụcCS và phân chia bình đẳngCung cấp giốngCung cấp thông tinTham gia lai tạoQL các vật liệu di truyềnBảo Tồn Chuyển Vị Thực VậtVườn Thực VậtVườn thực vật (Botanic Garden): Có khoảng 1500 vườn thực vật trên thế giới nhưng chỉ có khoảng 800 vườn có bảo tồn cây.H17. Các vườn thực vật Vườn Cây GỗH18. Các cây gỗ trong Vườn Cây GỗNgân hàng giống – geneNgân hàng gen ở thực địa (Field Gene Bank) : là một vùng đất mà trong đó các loài cây sưu tập được trồng để lưu trữ tính đa dạng di truyền để có nguyên liệu có sẳn để phục vụ công tác lai tạo, nghiên cứu ….Thường áp dụng cho cây lâu năm, cây bụi mà không có đủ để bảo tồn trong tự nhiên mà cần thời gian lâu mới thu hoạch giống (thường cây LN)H19. Các loại hạt giống quý được lưu trữH20. Các loại hạt giống quý được lưu trữH21. Các loại hạt giống quý được lưu trữSự suy giảm về độ che phủ rừng ở các vùng này là do mức tăng dân số tạo nhu cầu lớn về lâm sản và đất trồng trọt.Nguyên nhân suy giảm và Biện pháp bảo tồn.H22. Rừng bị tàn phá để lấy gỗ.Chiến tranh cũng là những nguyên nhân làm rừng của Việt Nam bị thu hẹp lại nhanh nhất. H24. Những cánh rừng trụi lá ở Việt Nam.

H23. Máy bay đang rải chất độc diệt lá xuống Việt Nam trong Chiến tranh.

Nguyên nhân quan trọng nữa gây nên sự tổn thất đa dạng sinh học ở Việt Nam cũng như hầu hết các nước khác trên thế giới, đó là sự mâu thuẫn giữa cung và cầu. H25. Khi cung < cầu Sinh thái bị phá hoại nặng nềTài nguyên thiên nhiên thì có hạn mà nhu cầu của con người thì ngày càng tăng, một mặt là để đáp ứng cuộc sống cho dân số tăng nhanh, và mặt khác là mức độ tiêu dùng của mỗi người cũng tăng lên không ngừng.H26. Ngà voi bị khai thác quá mứcH27. Mật gấuH28. Sừng tê giácCon người đốt rừng làm nương, rẫy trên các sườn dốc và cũng đã gây tác động đáng kể vào việc thu hẹp diện tích rừng ở nhiều nơi.H29. Nạn phá rừng ngày càng tăngCháy rừng cũng là nguyên nhân làm diện tích rừng cũng như sự đa dạng bị suy thoái.H30. Những cánh rừng bị cháyBiện pháp bảo tồn.

Tăng Cường Các Biện Pháp Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học

Ninh Bình được đánh giá là tỉnh có các hệ sinh thái đa dạng và phong phú. Nhiều khu vực trọng yếu như: Vườn Quốc gia Cúc Phương, Khu ramsa Vân Long, Rừng đặc dụng Hoa Lư… đang lưu giữ những giá trị đa dạng sinh học phong phú với các loài quý hiếm có tầm quan trọng quốc tế và nhiều loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giới. Tuy nhiên, do tác động của nhiều yếu tố tự nhiên, ô nhiễm môi trường, nhất là tác động của con người dẫn đến nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học ngày một gia tăng và công tác bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh đang gặp phải nhiều khó khăn, thách thức.

Đa dạng sinh học có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường, là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, duy trì nguồn gen vật nuôi, cây trồng, cung cấp nguyên vật liệu cho xây dựng và các nguồn nhiên liệu, dược liệu.

Tuy nhiên, hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau, tỉnh ta đang gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học.

Trong đó, phải kể đến nguồn lực cho công tác đa dạng sinh học ở các cấp, các ngành còn yếu và thiếu cả về số lượng, chất lượng. Đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất, kinh phí đầu tư không đủ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo tồn đa dạng sinh học hiện nay.

Chi cục Bảo vệ môi trường (thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường) là đơn vị phụ trách lại không có phòng đa dạng sinh học, không có cán bộ chuyên môn về đa dạng sinh học; toàn bộ nhiệm vụ về đa dạng sinh học đều do cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường kiêm nhiệm. Nguồn kinh phí cho nhiệm vụ bảo tồn đa dạng sinh học được lấy chủ yếu từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường.

Bên cạnh đó, kinh phí đầu tư cho các khu rừng đặc dụng còn rất ít, mức khoán bảo vệ rừng còn quá thấp và cấp chưa đủ cho công tác quản lý và thực hiện các chương trình hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của Ban quản lý rừng đặc dụng.

Công tác quản lý các khu rừng đặc dụng, quản lý đa dạng sinh học tại các địa phương còn có sự chồng chéo giữa ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với ngành Tài nguyên và Môi trường. Nhận thức của cộng đồng dân cư về đa dạng sinh học, ý thức chấp hành quy định về bảo vệ và bảo tồn về đa dạng sinh học còn hạn chế. Vẫn còn xảy ra tình trạng chặt phá rừng, săn bắt, mua bán động vật hoang dã, thu hoạch quá mức các loài động, thực vật và hoạt động đánh cá hủy diệt…

Ngoài ra, ô nhiễm môi trường do lạm dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ; rác thải một số nơi chưa được thu gom, xử lý triệt để; ô nhiễm không khí do hoạt động công nghiệp, dân số tăng nhanh và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu cũng là những nguyên nhân làm suy giảm sự đa dạng sinh học hiện nay.

Ông Lê Hùng Thắng, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cho biết: Để bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, trong thời gian tới, Ninh Bình cần quan tâm đầu tư đúng mức thời gian, công sức và nguồn lực.

Trước mắt, tăng cường công tác điều tra, thống kê, kiểm kê, đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học, đánh giá các hệ sinh thái, loài hoang dã nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ và nguồn gen bị suy thoái. Trên cơ sở đó có kế hoạch và giải pháp cụ thể, phù hợp trong công tác bảo tồn hệ sinh thái trên địa bàn tỉnh.

Trong đó, ưu tiên nguồn lực đầu tư nâng cấp vườn thực vật có đủ dung lượng cá thể của các loài đang có nguy cơ bị đe dọa hoặc bị tuyệt chủng, đảm bảo công tác bảo tồn, lưu giữ nguồn gen, đồng thời tạo cảnh quan du lịch, góp phần nâng cao nhận thức bảo tồn các loài này đối với cộng đồng.

Đẩy mạnh hợp tác khu vực và quốc tế, huy động mọi nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Thực hiện khai thác tiềm năng du lịch của các khu bảo tồn nhằm phát triển du lịch sinh thái gắn với sinh kế của người dân vùng đệm, nâng cao đời sống cộng đồng, góp phần phát triển kinh tế – xã hội và bảo tồn đa dạng sinh học. áp dụng khoa học công nghệ trong việc cải tạo rừng và tăng cường đầu tư trang thiết bị phục vụ công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng.

Bên cạnh đó, cần xây dựng quy chế phối hợp rõ ràng trong công tác quản lý Nhà nước về đa dạng sinh học giữa ngành Tài nguyên và Môi trường với ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Giáng Hương

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học: Giải Pháp Chúng Ta Có Ở Thiên Nhiên trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!