Đề Xuất 11/2022 # Báo Cáo Tình Hình Nông Dân Và Hoạt Động Của Hội Nông Dân Việt Nam Tại Buổi Làm Việc Với Thủ Tướng Chính Phủ (Ngày 21/ 4/ 2022) / 2023 # Top 13 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # Báo Cáo Tình Hình Nông Dân Và Hoạt Động Của Hội Nông Dân Việt Nam Tại Buổi Làm Việc Với Thủ Tướng Chính Phủ (Ngày 21/ 4/ 2022) / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Báo Cáo Tình Hình Nông Dân Và Hoạt Động Của Hội Nông Dân Việt Nam Tại Buổi Làm Việc Với Thủ Tướng Chính Phủ (Ngày 21/ 4/ 2022) / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAMBAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2015 * Số 25-BC/HNDTW

Tình hình nông dân và hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam

I- Khái quát tình hình nông dân

Nông dân nước ta hiện nay chiếm gần 70% dân số và khoảng 50% lực lượng lao động xã hội. Thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp nông dân khẳng định vai trò chủ thể trong phát triển nông nghiệp và xây dưng nông thôn mới, cùng với nhân dân cả nước tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, tự lực, tự cường, lao động cần cù, thông minh, sáng tạo đã tạo nên những thành tựu khá toàn diện trên mặt trận sản xuất nông nghiệp. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu thì kinh tế nông nghiệp luôn là trụ đỡ, là nhân tố tạo sự ổn định cho phát triển đất nước, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng ổn định, bền vững, đến năm 2014 đã chặn được đà tụt giảm tăng trưởng nông nghiệp; bảo đảm an sinh xã hội, tỷ lệ hộ nghèo giảm liên tục qua các năm; đời sống của nhân dân, trong đó đại bộ phận là nông dân được cải thiện.

Nông dân phấn khởi trước những thành tựu to lớn của đất nước sau gần 30 năm đổi mới, đã đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng nâng cao. Nông dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ; tích cực thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho nông dân như: Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và Phong trào “cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”; đào tạo nghề cho lao động nông thôn; hỗ trợ xây dựng mô hình cánh đồng lớn; hỗ trợ giảm nghèo bền vững cho các huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học – kỹ thuật; chính sách tín dụng cho vay lãi suất ưu đãi giúp nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh; Chính phủ kịp thời triển khai gói 16.000 tỷ đồng hỗ trợ cho ngư dân vay đóng tàu đánh cá xa bờ, đóng tàu và nâng cấp thiết bị cho lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư… Nông dân phấn khởi về Hiến pháp sửa đổi và Luật Đất đai (sửa đổi) đã được kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII thông qua, đây là sự kiện trọng đại đối với đất nước, nhân dân nói chung và nông dân nói riêng.

Đặc biệt, cán bộ, hội viên và nông dân rất phấn khởi khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 673/QĐ-TTg, ngày 10/5/2011 về việc Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn giai đoạn 2011- 2020; Quyết định 1956/QĐ-TTg, ngày 27/01/2009 về việc phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; Quyết định 1045/QĐ- TTg, ngày 7/7/2010 về việc phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2010- 2015; Quyết định số 81/2014/QĐ-TTg, ngày 31/12/2014 về việc phối hợp giữa các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp với các cấp Hội Nông dân Việt Nam trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân…

Những chủ trương, chính sách đó đã đi nhanh vào cuộc sống, động viên đông đảo cán bộ, hội viên, nông dân quyết tâm thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, có được cơ chế, chính sách, nguồn lực, là công cụ, điều kiện để các cấp Hội trực tiếp tham gia các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề và hỗ trợ nông dân, tạo nguồn lực giúp đỡ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, tăng thu nhập; góp phần đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên, nông dân; thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tuy nhiên, tâm trạng nông dân vẫn còn nhiều băn khoăn, bức xúc khi một số chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn chưa thực sự vào cuộc sống và chưa mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân. Nông dân chưa được hưởng lợi tương xứng với những công sức lao động cũng như những chính sách mà Đảng và Nhà nước đề ra; còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống, thể hiện ở một số vấn đề sau:

– Vốn đầu tư xã hội vào nông nghiệp, nông thôn nhất là khu vực sản xuất, kinh doanh còn thấp so với nhu cầu, nông dân thiếu và khó tiếp cận vốn, thiếu kiến thức về khoa học kỹ thuật và thị trường để đầu tư phục vụ sản xuất hàng hóa tập trung. Tổ chức sản xuất phân tán, manh mún, quy mô nhỏ lẻ chiếm tỷ lệ cao, hiệu quả thấp; sản xuất mang tính tự phát, chưa có sự phối hợp, hướng dẫn chung về định hướng và quy hoạch vùng sản xuất cho từng loại sản phẩm. Trình độ sản xuất, quản lý của người nông dân chưa đáp ứng kịp theo yêu cầu của sản xuất hàng hóa. Tiềm lực sản xuất, tiềm lực kinh tế của hộ nông dân còn thấp, thiếu thông tin thị trường và kiến thức về pháp luật.

– Việc nông dân liên kết, hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất và tiêu thụ nông sản còn rời rạc, chưa chặt chẽ. Vấn đề tiêu thụ nông sản nhất là ở vùng chuyên canh đang còn gặp nhiều khó khăn; chính sách thu mua tạm trữ gạo, hỗ trợ tiêu thụ nông sản hàng hóa, chưa mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân, còn rơi vãi ở khâu trung gian, nằm ở các doanh nghiệp; nông dân không tự quyết định được giá bán nông sản của mình làm ra, mà do thương lái quyết định nên vẫn bị thương lái ép giá.

– Một bộ phận nông dân không thiết tha, mặn mà với đồng ruộng. Tình trạng nông dân bỏ ruộng, bỏ chăn nuôi, thậm trí chăn nuôi còn bỏ đói, cầm chừng để đi làm việc khác có thu nhập cao hơn còn diễn ra ở một số nơi. Nông dân ở một số nơi bị thu hồi đất và tái định cư chưa có việc làm ổn định, nơi ở mới chưa bằng nơi ở cũ; đời sống còn gặp nhiều khó khăn nhất là ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa…

– Một bộ phận nông dân còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; không muốn thoát ra khỏi hộ nghèo, xã nghèo, thậm trí có nơi còn luân phiên nhau làm hộ nghèo để được hưởng chính sách hỗ trợ. Nông dân băn khoăn về tiêu chí hộ nghèo hiện nay mới chỉ dựa vào thu nhập là chưa đủ mà còn phải phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của hộ gia đình như nhà ở, điều kiện y tế, giáo dục…

– Tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội cờ bạc, ma túy, mại dâm; tình trạng bạo lực gia đình ở nông thôn còn diễn biến phức tạp. Việc tổ chức lễ hội chưa được quản lý chặt chẽ, việc lợi dụng lễ hội để hoạt động mê tín, dị đoan, đồng cốt, bói toán trục lợi còn diễn ra ở nhiều nơi, ảnh hưởng thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa của dân tộc, nhưng việc xử lý, ngăn chặn còn hạn chế.

– Tình trạng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, thức ăn gia súc kém chất lượng vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ gây thiệt hại đến sản xuất và đời sống nông dân; ô nhiễm môi trường từ các khu công nghiệp, các làng nghề, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp; ô nhiễm nguồn nước… còn diễn ra ở nhiều nơi nhưng việc xử lý, ngăn chặn còn hạn chế, gây bức xúc trong nhân dân ở nhiều địa phương.

II- Một số hoạt động chủ yếu của Hội Nông dân Việt Nam

Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; các cấp Hội Nông dân Việt Nam đã tích cực đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; lấy lợi ích thiết thân mà trước hết là lợi ích kinh tế để tập hợp nông dân vào tổ chức Hội; gắn kết chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục, vận động, đoàn kết, tập hợp nông dân vào tổ chức Hội đi đôi với đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ hội viên, nông dân giúp nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, đạt được một số kết quả chủ yếu sau.

1- Công tác tuyên truyền

Ban Chấp hành Trung ương Hội đã ban hành Nghị quyết số 19- NQ/HNDTW về tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, vận động nông dân trong tình hình mới. Công tác tuyên truyền, giáo dục có bước đổi mới, với nhiều hình thức phong phú, sinh động phù hợp với nông dân: tuyên truyền thông qua sinh hoạt chi, tổ Hội nông dân, sinh hoạt Câu lạc bộ nông dân; phát hành bản tin, ra chuyên trang, chuyên mục và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, gắn với tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao; các cuộc thi, hội thi và các hoạt động xã hội khác.

Nội dung tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Hiến pháp nước cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Đất đai 2013 (sửa đổi), về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; phổ biến, nâng cao kiến thức về pháp luật, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Tuyên truyền các gương “người tốt, việc tốt”, các mô hình, điển hình tiên tiến, phổ biến các tiến bộ khoa học, công nghệ; giáo dục truyền thống, đạo đức cách mạng gắn với đẩy mạnh thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”… Hội Nông dân Việt Nam đã ra Tuyên bố phản đối hành động của Trung Quốc hạ đặt trái phép Giàn khoan Hải Dương 981-HD vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nước ta; đồng thời, ban hành văn bản chỉ đạo, định hướng nội dung tuyên truyền trong toàn hệ thống Hội.

Qua đó đã góp phần nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, ý thức cảnh giác cách mạng; cổ vũ, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường vươn lên của nông dân, tạo nên sự đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin của nông dân với Đảng và Nhà nước.

2- Công tác xây dựng, củng cố tổ chức Hội

Các cấp Hội thường xuyên quan tâm xây dựng, củng cố tổ chức Hội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tăng cường các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Hội và chất lượng hội viên; đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chi, tổ Hội theo hướng thiết thực hiệu quả gắn với sản xuất và đời sống của hội viên. Thông qua hoạt động của các tổ, nhóm sản xuất theo ngành nghề, tổ tín dụng tiết kiệm, tổ hùn vốn làm nhà, tổ đoàn kết bám biển, các câu lạc bộ nông dân, các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư….đã đem lại lợi ích thiết thực cho hội viên; qua đó, đã tập hợp được rộng rãi nông dân và nông dân ngày càng gắn bó chặt chẽ với tổ chức Hội.

Hiện nay, hệ thống tổ chức Hội được tổ chức ở 4 cấp và có các chi, tổ Hội; gồm 63 Ban Chấp hành Hội Nông dân cấp tỉnh; 655 Ban Chấp hành Hội Nông dân cấp huyện; 10.545 Ban Chấp hành Hội Nông dân cơ sở (xã, phường, thị trấn…) với 95.246 chi Hội, 200.630 tổ Hội; 100% thôn, ấp, bản có nông dân có tổ chức Hội; cả nước có 10,169 triệu hội viên.

Tổ chức bộ máy của Hội Nông dân các cấp được kiện toàn theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu quả hoạt động, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Đội ngũ cán bộ Hội các cấp được nâng cao về chất lượng, số cán bộ tham gia cấp ủy, hội đồng nhân dân ngày càng tăng.

3- Tổ chức các phong trào thi đua lớn của Hội

– Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững Các cấp Hội tích cực tuyên truyền, vận động nông dân không cam chịu đói nghèo, quyết tâm vươn lên làm giàu. Hàng năm có 8,2 triệu hộ đăng ký phấn đấu, trong đó có 4,2 triệu hộ đạt danh hiệu hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp. Từ Phong trào thi đua đã xuất hiện hàng ngàn tấm gương nông dân điển hình tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh giỏi, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào sản xuất, kinh doanh; hình thành các mô hình kinh tế hộ, kinh tế trang trại, gia trại, tổ hợp tác liên kết nhau trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, mang lại hiệu quả kinh tế cao được nhân rộng.

– Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Thủ tướng Chính phủ phát động; Trung ương Hội đã ban hành Nghị quyết về tham gia thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2020. Các cấp Hội đã tích cực tuyên truyền, vận động nông dân xây dựng “gia đình văn hóa”; tham gia xây dựng “thôn, ấp, bản, làng văn hóa, xã văn hóa”; thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang, lễ hội, bảo vệ môi trường nông thôn, phòng chống các tệ nạn xã hội. Hàng năm có 9,5 triệu hộ nông dân đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu gia đình văn hoá, trong đó có 8,5 triệu hộ đạt danh hiệu gia đình văn hoá.

Hưởng ứng Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới, hội viên nông dân đã hiến 7.778.500 m2 đất và đóng góp trên 2 ngàn tỷ đồng, trên 40 triệu ngày công để làm mới và sửa chữa gần 350 ngàn km đường giao thông nông thôn, 200 ngàn km kênh mương nội đồng và hàng ngàn nhà văn hóa xã, thôn, ấp, bản, góp phần làm cho bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, ngày càng khang trang, sạch đẹp, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng nông thôn mới do Thủ tướng Chính phủ phát động.

– Phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh. Các cấp Hội đã ký kết chương trình phối hợp với ngành Công an, Quân đội, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên, nông dân về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Vận động hội viên, nông dân nghiêm chỉnh chấp hành Luật Nghĩa vụ quân sự; tham gia các phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc, phát hiện và tố giác tội phạm nhất là vùng ven biển, hải đảo, biên giới, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

4- Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền

Các cấp Hội đã tích cực vận động cán bộ, hội viên, nông dân nêu cao trách nhiệm tham gia xây dựng Đảng, chính quyền; góp ý đối với cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị “về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tích cực tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tham gia góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi); thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở; kịp thời phản ánh với các cấp uỷ, chính quyền về những bức xúc và nguyện vọng của nông dân.

Thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành Quy chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội và Quyết định số 218- QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị- xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; các cấp Hội đã xây dựng kế hoạch triển khai, tích cực tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân tham gia thực hiện. Hội Nông dân Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương đã ký kết Chương trình phối hợp về giám sát việc thực hiện pháp luật về sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp giai đoạn 2014-2020.

Thực hiện Chỉ thị 26 của Thủ tướng Chính phủ, hàng năm các cấp Hội đã tham gia phối hợp giải quyết trên 20 nghìn đơn, thư khiếu nại, tố cáo nội bộ nông dân; tham gia hòa giải hàng trăm ngàn vụ mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nông dân tại cơ sở, hạn chế khiếu kiện kéo dài, vượt cấp, góp phần ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Hội Nông dân Việt Nam đã tích cực, chủ động và phát triển quan hệ hữu nghị; chuyển từ quan hệ hữu nghị sang quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng có lợi. Đến nay, hợp tác với trên 40 tổ chức nông dân, tổ chức chính phủ, phi chính phủ, tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới. Ban Thường vụ Trung ương Hội xây dựng Chương trình xúc tiến vận động viện trợ nước ngoài của Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2014-2020; ký thỏa thuận hợp tác với tổ chức Phát triển Nông nghiệp Đan Mạch- Châu Á (ADDA) giai đoạn 2015- 2020, Chương trình Hợp tác với Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFAD) giai đoạn 2013- 2018, Chương trình Hỗ trợ phát triển rừng và trang trại với FAO giai đoạn 2014- 2017, các dự án về nâng cao năng lực vận động chính sách, hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể; ký kết các Thỏa thuận hợp tác với Hội Nông dân Đức trong lĩnh vực dạy nghề giai đoạn 2015- 2017, tổ chức cho nông dân đi học nghề tại Đức; 7 tỉnh, thành Hội xây dựng Đề án đưa cán bộ, hội viên nông dân đi nghiên cứu, học tập ở nước ngoài. Đến nay, đã có 36 tỉnh, thành Hội tham gia các dự án quốc tế, 18 tỉnh, thành Hội xây dựng chương trình, kế hoạch vận động viện trợ không hoàn lại; góp phần hỗ trợ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống và nâng cao năng lực cán bộ Hội.

6- Một số hạn chế, yếu kém

Một số nơi công tác tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sinh hoạt và sản xuất; phòng, chống các tệ nạn xã hội chưa thường xuyên. Việc nắm bắt tình hình nông dân, nông thôn nhất là diễn biến tư tưởng, băn khoăn, bức xúc của nông dân còn chậm. Công tác tham mưu, đề xuất, kiến nghị với Đảng, Nhà nước về chủ trương, cơ chế, chính sách, đối với nông dân còn hạn chế; các cấp Hội chưa chủ động đề xuất với cấp ủy, chính quyền tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất và đời sống của hội viên, nông dân.

Công tác xây dựng tổ chức Hội còn một số bất cập: tổ chức bộ máy cán bộ cấp tỉnh, huyện chưa có văn bản hướng dẫn để thống nhất trong cả nước; trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Chất lượng và hiệu quả 3 phong trào lớn của Hội một số nơi còn thấp. Việc hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế; việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm có giá trị và sức cạnh tranh cao còn chậm. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ vào sản xuất còn hạn chế, hiệu quả kinh tế chưa cao.

III- Kết quả triển khai thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg, ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ và Thông báo số 129/TB-VPCP, ngày 05 tháng 4 năm 2012 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thủ tướng Chính phủ

1- Kết quả thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

1.1- Kết quả phối hợp giữa Trung ương Hội Nông dân Việt Nam với các bộ, ngành thực hiện các chương trình, đề án trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Trung ương Hội đã ký nghị quyết liên tịch, chương trình phối hợp với 8 Bộ gồm: Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Tài chính; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Bộ Công Thương để thống nhất nội dung, nhiệm vụ và cơ chế phối hợp thực hiện, bước đầu có kết quả như sau:

a- Về công tác tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn Thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg, ngày 27/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Các cấp Hội đã tổ chức tuyên truyền, vận động trên 10 triệu lượt hội viên, nông dân tham gia học nghề; phối hợp và trực tiếp dạy nghề trình độ sơ cấp và dạy nghề thường xuyên được 1.074.976 người. Trong đó trực tiếp dạy nghề và cấp chứng chỉ, giấy chứng nhận được 180.736 người; phối hợp tổ chức dạy nghề được 894.240 người.

Sau khi tổ chức dạy nghề, các cấp Hội tích cực tổ chức tư vấn, giới thiệu việc làm, tổ chức các hoạt động dịch vụ hỗ trợ nông dân về vật tư, phân bón, máy nông nghiệp. Tỷ lệ nông dân sau khi học nghề có việc làm và thu nhập ổn định đạt trên 90%, nhiều nông dân đã mạnh dạn đầu tư vốn, mở mang ngành nghề mới, củng cố các nghề truyền thống, đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh, hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, cánh đồng lớn; tăng năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm hàng hóa, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, nhiều hộ nghèo trở thành hộ khá, nhiều hộ khá trở thành hộ giàu, đạt danh hiệu sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp.

b- Về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Thực hiện Quyết định số 1045/QĐ-TTg, ngày 07/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2015; Ban Thường vụ Trung ương Hội đã ban hành Nghị quyết số 01- NQ/HNDTW, ngày 25/01/2011 về công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ giai đoạn 2011- 2015.

Trung ương Hội được Chính phủ cấp gần 29 tỷ đồng để tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội các cấp. Kết quả, đến nay Trường Cán bộ Hội tổ chức được 30 lớp bồi dưỡng cán bộ cơ sở Hội (thời gian 07 ngày) với trên 2.700 học viên; 10 lớp bồi dưỡng cán bộ Hội cấp huyện, tỉnh (thời gian 10 ngày) với trên 1.300 học viên; 20 lớp bồi dưỡng cán bộ Hội cấp tỉnh, huyện (thời gian 1 tháng) với 1.360 học viên, đạt 100% kế hoạch của Đề án; 21 lớp đào tạo Trung cấp với 1.638 học viên, đạt 100,7% kế hoạch của Đề án. Các tỉnh, thành Hội trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng được gần 14.000 cán bộ cơ sở Hội và chi, tổ Hội, đạt trên 80 % kế hoạch của Đề án.

Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng tiếp tục được đổi mới; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, phương pháp công tác cho đội ngũ cán bộ Hội cơ sở, chi, tổ Hội, cán bộ Hội là người dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo. Qua đó, đã từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, năng lực công tác đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân trong tình hình mới.

Về tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân

– Dịch vụ về vốn và cung ứng thiết bị, vật tư nông nghiệp Phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tạo điều kiện cho hội viên, nông dân vay vốn sản xuất, kinh doanh. Tại thời điểm 30/12/2014, Hội Nông dân đang quản lý 23.501 Tổ Vay vốn theo Chương trình phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, có 549.891 hộ tham gia, dư nợ gần 19.461 tỷ đồng, tỷ lệ nợ quá hạn 0,67% và 65.205 Tổ Tiết kiệm và vay vốn theo chương trình ủy thác với Ngân hàng Chính sách xã hội, có 2.285.448 hộ nông dân nghèo và đối tượng chính sách khác tham gia, dư nợ 41.803 tỷ đồng, tỷ lệ nợ quá hạn 0,41%, thuộc 15 chương trình tín dụng chính sách đã giúp cho nông dân có vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh, nhiều hộ thoát nghèo, nhiều hộ trở thành hộ sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp.

Phối hợp với các công ty cung ứng vật tư nông nghiệp, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, máy nông nghiệp theo phương thức trả chậm, trị giá hàng trăm tỷ đồng và tập huấn kỹ thuật, quy trình sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật các loại, thức ăn gia súc và nhiều loại máy nông nghiệp cho hội viên, nông dân để phát triển sản xuất.

– Hỗ trợ nông dân tiếp cận với khoa học kỹ thuật Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan chuyên môn, các doanh nghiệp tổ chức tập huấn, khuyến nông được trên 10 triệu lượt hội viên, nông dân. Xây dựng hàng ngàn mô hình trình diễn sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và hàng trăm mô hình sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn Việt GAP.

Phối hợp với các công ty tổ chức hàng ngàn lớp tập huấn cho nông dân về kỹ thuật sử dụng phân bón, thức ăn gia súc, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật và các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp… Xây dựng “Câu lạc bộ Khoa học kỹ thuật nhà nông”, “điểm truy cập Internet”; mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản; tổ chức Cuộc thi “Nhà nông đua tài”.

Phối hợp với các nhà khoa học, các trung tâm nghiên cứu chuyển giao hàng trăm tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp và hơn 300 mô hình ứng dụng công nghệ thông tin cho nông dân tại các xã, phường dưới hình thức các Câu lạc bộ Khoa học kỹ thuật nhà nông.

Tổ chức Cuộc thi tôn vinh Nhà nông sáng tạo, đã có hàng trăm sáng kiến, giải pháp kỹ thuật của nông dân được giải thưởng và ứng dụng có hiệu quả vào sản xuất như: máy làm đất, máy gieo hạt, máy tưới cây, máy bón phân, máy phun thuốc trừ sâu, máy bóc lạc, máy tẽ ngô, máy sấy hạt… đã trang bị cho nông dân kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới để áp dụng vào sản xuất, kinh doanh.

– Dịch vụ hỗ trợ thông tin và xây dựng thương hiệu sản phẩm Phối hợp với Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng kết nối thông tin giá cả vật tư nông nghiệp, hàng hóa nông sản, tình hình dịch, bệnh cây trồng, vật nuôi, qua đó góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật, kỹ năng sản xuất cho cán bộ, hội viên, nông dân và chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp.

Phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí và các ngành chức năng mở “Chuyên mục chuyện Nhà nông” phát trên kênh VTV1 từ 5h48 – 6h00 hàng ngày, đã giúp nông dân nắm bắt kịp thời thông tin về thị trường, khoa học kỹ thuật, những mô hình sản xuất nông nghiệp điển hình.

Thông qua các hoạt động phối hợp với các doanh nghiệp, công ty tổ chức Lễ tôn vinh sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu; xây dựng Hệ thống “Sàn kết nối cung cầu nông nghiệp, thực phẩm”; tổ chức các Hội chợ triển lãm nông nghiệp, thương mại nhằm quảng bá, giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm, tạo niềm tin đối với người tiêu dùng, từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp.

Đến nay, các cấp Hội đã vận động, thành lập được 15.900 tổ hợp tác và 72 hợp tác xã sản xuất và dịch vụ trong các lĩnh vực: thủy nông, làm đất, bảo vệ thực vật, thu hoạch, cung ứng vật tư, chăn nuôi, chế biến, tiêu thụ nông sản và các lĩnh vực chuyên ngành theo sở thích…

Phối hợp với Bộ Công Thương thực hiện Quyết định số 23/QĐ-TTg, ngày 6/1/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010- 2015 và định hướng đến năm 2020; đã triển khai xây dựng mô hình thí điểm cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, gắn với tiêu thụ nông sản ở 12 tỉnh, thành phố.

đ– Tham gia bảo vệ môi trường nông thôn Phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường giải quyết một số vấn đề bức xúc về ô nhiễm môi trường và quản lý, sử dụng đất đai.

Hàng năm tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực, kỹ năng nghiệp vụ về công tác bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu cho gần 5.000 lượt cán bộ, hội viên nông dân.

Xây dựng câu lạc bộ nông thôn mới, mạng lưới tuyên truyền viên của các cấp Hội trong bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu. Xây dựng 46 mô hình điểm về nước sạch và bảo vệ môi trường nông thôn ở những xã điểm xây dựng nông thôn mới để tuyên truyền, nhân rộng, góp phần đạt được tiêu chí về môi trường trong xây dựng nông thôn mới và phát triển bền vững.

1.2- Về nhiệm vụ đầu tư nâng cấp và xây dựng mới các cơ sở đào tạo, dạy nghề cho nông dân Thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Ban Thường vụ Trung ương Hội đã xây dựng và ban hành Quyết định số 945-QĐ/HNDTW, ngày 30/12/2011 phê duyệt Đề án Quy hoạch đầu tư xây dựng Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh để tổ chức thực hiện. Chỉ đạo các tỉnh, thành Hội xây dựng đề án và đề nghị ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố hoặc tỉnh, thành ủy ra quyết định thành lập mới hoặc đổi tên các Trung tâm Dạy nghề thành Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân trực thuộc các tỉnh, thành Hội.

Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ về rút ngắn thời gian hoàn thành đầu tư xây dựng mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh xuống còn 5- 7 năm; Ban Thường vụ Trung ương Hội đã lập kế hoạch trung hạn đến năm 2017 hoàn thành việc xây mới và nâng cấp, bổ sung trang thiết bị các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh và tiến hành điều chỉnh quy hoạch, lộ trình thực hiện các dự án ở các tỉnh, thành phố. Đồng thời, chỉ đạo Hội Nông dân các tỉnh, thành phố khẩn trương hoàn tất các thủ tục về đầu tư xây dựng và giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án; đến nay 54 tỉnh, thành phố đã bố trí mặt bằng xây dựng Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân.

Bằng nguồn ngân sách của Trung ương, trong 3 năm thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã có 28 tỉnh, thành phố được đầu tư xây mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân; đã có 6 dự án hoàn thành và đưa vào sử dụng; 36 tỉnh, thành phố đã bố trí biên chế sự nghiệp cho Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân; các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân khai thác, sử dụng có hiệu quả, góp phần tích cực vào công tác dạy nghề và hỗ trợ nông dân.

Tiêu biểu như: Hàng năm Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân tỉnh Hải Dương đã trực tiếp và phối hợp dạy nghề cho trên 2.300 lượt nông dân, giới thiệu việc làm cho gần 300 người; chuyển giao khoa học, kỹ thuật cho gần 16.000 lượt nông dân; cung ứng 3.000 tấn phân bón và 590 máy nông nghiệp theo phương thức trả chậm. Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân tỉnh Thanh Hóa đã trực tiếp và phối hợp dạy nghề cho trên 4.200 lượt nông dân, giới thiệu việc làm cho trên 200 người; chuyển giao khoa học, kỹ thuật cho gần 8.000 lượt nông dân; cung ứng 25.000 tấn phân bón và 162 máy nông nghiệp theo phương thức trả chậm. Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân tỉnh Lâm Đồng đã trực tiếp và phối hợp dạy nghề cho trên 2.800 lượt nông dân; chuyển giao khoa học, kỹ thuật cho gần 4.000 lượt nông dân, cung ứng 5.200 tấn phân bón và 100 máy nông nghiệp theo phương thức trả chậm…

1.3- Về kết quả đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động Quỹ Hỗ trợ nông dân Thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Hội Nông dân Việt Nam đã tập trung xây dựng và triển khai Đề án Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân. Đến nay, Hội Nông dân Việt Nam đã kiện toàn lại hệ thống Quỹ Hỗ trợ nông dân ở 03 cấp: trung ương, tỉnh, huyện. 63 tỉnh, thành Hội đã kiện toàn Ban Điều hành Quỹ cấp tỉnh; Quỹ Hỗ trợ nông dân của 42 tỉnh, thành Hội đã được củng cố, kiện toàn, có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng; 47 tỉnh, thành Hội đã thành lập Ban Kiểm soát theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân.

Trung ương Hội đã chủ động xây dựng và ban hành các văn bản để quản lý, điều hành hoạt động Quỹ Hỗ trợ nông dân như: Quy chế hoạt động của Ban Kiểm soát Quỹ Hỗ trợ nông dân; Quy định về hoạt động kiểm soát Quỹ Hỗ trợ nông dân. Hướng dẫn củng cố Ban Vận động, Ban Điều hành Quỹ Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh, cấp huyện; bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống văn bản về xây dựng, quản lý, điều hành hoạt động Quỹ Hỗ trợ nông dân.

Trong 3 năm thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương được cấp bổ sung 400 tỷ đồng và 49 tỉnh, thành Hội được cấp bổ sung 573,785 tỷ đồng từ ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân. Đến nay, tổng Quỹ Hỗ trợ nông dân ở các cấp Hội đạt 1.709,060 tỷ đồng (trong đó Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương: 466,829 tỷ đồng, Quỹ Hỗ trợ nông dân địa phương: 1.242,231 tỷ đồng)

Hiện tại nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân các cấp đang giúp cho hơn 111.300 hộ vay xây dựng mô hình sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm. Trong đó, Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương đang dư nợ tại 62 tỉnh, thành Hội với số tiền trên 451 tỷ đồng thông qua 1.137 dự án với 18.147 hộ vay, các dự án đều trả nợ gốc, phí đầy đủ, chỉ còn 5 dự án chậm trả 899 triệu đồng bằng 0,19%.

Từ khi thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân đã tăng trưởng mạnh, các cấp Hội có thêm nguồn lực giúp các hộ nông dân phát triển mô hình kinh tế có hiệu quả. Tiêu biểu như: Mô hình nuôi lợn, gà an toàn sinh học, đảm bảo vệ sinh môi trường ở Hà Tĩnh, Hà Nam, Ninh Bình, Nghệ An, Khánh Hòa, thành phố Hải Phòng… Mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, lúa cao sản theo mô hình cánh đồng lớn ở Kiên Giang, Long An, An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, thành phố Cần Thơ…Mô hình trồng nấm, trồng măng tây, rau an toàn, trồng hoa ở các tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lâm Đồng, Ninh Thuận, thành phố Hà Nội… giúp cho nhiều hộ nông dân vươn lên làm ăn có hiệu quả và làm giàu chính đáng.

Thông qua hoạt động Quỹ Hỗ trợ nông dân các cấp đã xây dựng được 2.807 mô hình kinh tế hợp tác, liên kết (tổ, nhóm) sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm theo hướng sản xuất hàng hóa có hiệu quả kinh tế cao đang được nhân rộng. Đây là một trong các nội dung hoạt động rất hiệu quả, hấp dẫn và thu hút nhiều nông dân vào tổ chức Hội.

Tóm lại: Trong thời gian ngắn các cấp Hội đã tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền triển khai thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; tranh thủ sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các cấp chính quyền trong việc bố trí mặt bằng đầu tư xây dựng mới, nâng cấp và bổ sung trang thiết bị cho các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân; bổ sung ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân; phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành Trung ương và các sở ngành địa phương để ký và triển khai Chương trình phối hợp với Hội Nông dân Việt Nam. Đã tạo được nguồn lực to lớn để các cấp Hội tổ chức thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ nông dân, hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp; đẩy mạnh 3 phong trào thi đua lớn của Hội nhất là Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững tiếp tục phát triển cả bề rộng và chiều sâu, có sức lan tỏa, lôi cuốn, khích lệ hội viên, nông dân tích cực tham gia; Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới đã khẳng định vai trò chủ thể của nông dân.

Những kết quả đạt được trong 3 năm qua, khẳng định Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đi vào cuộc sống nhanh nhất, mang lại hiệu quả, lợi ích thiết thực cho hội viên, nông dân; nâng cao vị thế, vai trò của Hội Nông dân Việt Nam là trung tâm và nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới; đoàn kết trong nông dân, xây dựng, củng cố tổ chức Hội vững mạnh, góp phần phát triển nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng nông thôn mới, đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên, nông dân; thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 26-NQ/TW, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

2- Kết quả thực hiện Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 129/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ

Trong đó một số chính sách bước đầu thực hiện mang lại hiệu quả thiết thực như: chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn; chính sách chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp; chính sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số; hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn. Đầu tư xây mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân; bổ sung ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân đã tạo nguồn lực để các cấp Hội Nông dân Việt Nam tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề và hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, xây dựng mô hình kinh tế hợp tác, liên kết (tổ, nhóm) sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống.

Tuy nhiên, một số nội dung chưa đạt tiến độ đề ra tại Thông báo số 129/TB-VPCP đó là:1- Về đề nghị rút ngắn thời gian hoàn thành đầu tư xây dựng mới và nâng cấp Trung tâm dạy nghề và hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh xuống còn 5 – 7 năm.

– Tiến độ xây dựng Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân chưa đạt kế hoạch thực hiện theo Thông báo số 129/TB-VPCP đề ra do khó khăn về kinh phí. Đến nay: trong 4 năm 2012- 2015, Hội Nông dân Việt Nam mới được cấp 648 tỷ đồng cho 28 dự án xây mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh.

– Như vậy theo lộ trình đề ra để đến năm 2017 hoàn thành xây mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân, cần cấp thêm 1.600 tỷ đồng.

2- Về cấp bổ sung vốn cho Quỹ Hỗ trợ nông dân. Theo Đề án ” Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân giai đoạn 2011- 2020 ” đã được phê duyệt. Theo đó đến năm 2020 mỗi năm Chính phủ cấp bổ sung cho Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương là 200 tỷ đồng. Thực tế từ năm 2011 đến 2015 mới được cấp 400 tỷ đồng. Cụ thể là: năm 2011 đã được cấp 300 tỷ đồng; năm 2013 đã được cấp 100 tỷ đồng. Năm 2012 và 2014 chưa được cấp.

3- Về cấp ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh. Một số tỉnh, thành phố chưa quan tâm cấp ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân theo Quyết định số 673/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đến ngày 20/4/2015 còn 11 tỉnh, thành phố chưa cấp ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân: Lào Cai, Điện Biên, Hà Nam, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai, Đồng Nai, Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre và thành phố Cần Thơ.

4- Việc sửa đổi Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, ngày 12 tháng 4 năm 2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; điều chỉnh đối tượng thụ hưởng chính sách tín dụng còn chậm.

IV- Phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới

Để góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng; Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” và Nghị quyết Đại hội VI Hội Nông dân Việt Nam; các cấp Hội Nông dân Việt Nam xác định phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian tới là:

1- Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Gắn công tác tuyên truyền với tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước lập thành tích thiết thực chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước; Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XII của Đảng; Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ IX; tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị “về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.

2- Tập trung củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức Hội các cấp, gắn với phát triển và nâng cao chất lượng hội viên; đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi, tổ Hội theo hướng thiết thực, hiệu quả.

3- Tổng kết 5 năm thực hiện Quyết định số 1045/QĐ-TTg, ngày 07/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015”. Thực hiện tốt việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp Hội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tổ chức Hội nghị nông dân điển hình tiên tiến các cấp tiến tới Đại hội thi đua yêu nước và biểu dương “Nông dân điển hình tiên tiến” toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IV. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện các nghị quyết, chương trình, kế hoạch của Hội.

4- Chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền thực hiện có hiệu quả Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; tiếp tục đầu tư và khai thác có hiệu quả các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh, Quỹ Hỗ trợ nông dân các cấp; tích cực tham gia thực hiện các chương trình phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.

5- Đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ nông dân; hướng dẫn nông dân tham gia các hình thức kinh tế tập thể, hợp tác, liên kết trong sản xuất, kinh doanh. Xây dựng Đề án Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện một số nội dung hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015- 2020 theo Quyết định số 2261/QĐ-TTg, ngày 15/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ. Phối hợp nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh nhất là trong trồng trọt, chăn nuôi, thu hoạch, chế biến và bảo quản nông sản. Làm tốt công tác tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền và hướng dẫn hội viên nông dân tích cực tham gia tái cơ cấu nông nghiệp, gắn với xây dựng nông thôn mới.

6- Nâng cao chất lượng, hiệu quả 3 phong trào thi đua của Hội. Vận động nông dân tích cực tham gia thực hiện Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”; xây dựng gia đình văn hóa, tham gia xây dựng làng, xã văn hóa; giữ gìn vệ sinh môi trường, thực hiện nếp sống văn hóa mới; phòng, chống các tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự ở địa phương.

7- Tổ chức cho hội viên, nông dân thực hiện tốt việc tham gia giám sát và phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền theo Quyết định 217 và Quyết định 218 của Bộ Chính trị. Hướng dẫn, vận động hội viên nông dân tích cực tham gia đóng góp ý kiến vào văn kiện Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015- 2020; bồi dưỡng giới thiệu cán bộ, hội viên ưu tú với chi bộ Đảng để xem xét phát triển đảng viên mới.

8- Triển khai thực hiện Quyết định số 81/2014/QĐ-TTg, ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phối hợp giữa các bộ, ngành, ủy ban nhân dân các cấp với các cấp Hội Nông dân Việt Nam trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân.

9- Đẩy mạnh quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế, đặc biệt với các đối tác lớn, có tiềm năng hợp tác lâu dài; chủ động phối hợp với các bộ, ngành, giữa các cấp Hội trong việc triển khai các hoạt động đối ngoại để tạo nguồn lực giúp hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh.

V- Kiến nghị, đề xuất

1- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo cho nghiên cứu xây dựng hệ thống kho chứa bảo quản nông sản đủ lớn, ở các vùng chuyên canh do Nhà nước quản lý. Nhà nước hỗ trợ nông dân thông qua việc cho nông dân (hoặc hợp tác xã) gửi nhờ nông sản (hoặc cho thuê kho với giá ưu đãi) khi giá thị trường thấp, thay cho chính sách hỗ trợ doanh nghiệp mua tạm trữ như hiện nay.

Bởi vì từ lâu nông dân luôn phải chịu cảnh “được mùa, rớt giá” do từng hộ nông dân không đủ khả năng đầu tư kho chứa, đến vụ thu hoạch cùng phải bán nông sản. Mặt khác, các doanh nghiệp thường không thể mua trực tiếp của nông dân mà phải thông qua hệ thống thương lái; nông dân không quyết định được giá bán mà thường do thương lái qui định; tình trạng nông dân bị ép giá là phổ biến và trên thực tế sự hỗ trợ của Nhà nước thường “rơi vãi” ở khâu trung gian mà không đến được nông dân.

2- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho nghiên cứu xem xét lại tiêu chí hộ nghèo và cận nghèo.

Bởi vì tiêu chí hộ nghèo như hiện nay qui định thu nhập bình quân 400.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 500.000 đồng/người/tháng ở thành thị là không phù hợp với giá trị vật giá. Mặt khác không nên chỉ căn cứ vào mức thu nhập bình quân mà cần xem xét đến các yếu tố hoàn cảnh khác nhau như: nhà ở, điều kiện y tế, giáo dục, thông tin…

3- Đề nghị Chính phủ sớm ban hành Nghị định mới thay thế Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, ngày 12 tháng 4 năm 2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

4- Đề nghị Chính phủ ban hành cơ chế quy định trách nhiệm cụ thể của các bộ, ngành và chính quyền các cấp trong việc thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội và Quyết định số 218- QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị- xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

5- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo cấp 1.600 tỷ đồng đầu tư xây dựng mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh. Được phân bổ cho các năm như sau: năm 2015 ứng hoặc cấp bổ sung 500 tỷ đồng; năm 2016 cấp 600 tỷ; năm 2017 cấp 500 tỷ.

Căn cứ Thông báo 129/TB- VPCP ngày 5/4/2012 của Văn phòng Chính phủ về thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại buổi làm việc với Trung ương Hội Nông dân Việt Nam ngày 16/3/2012. Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý việc hoàn thành đầu tư xây dựng mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh rút ngắn đến năm 2017 thay cho đến năm 2020. Theo dự toán tổng kinh phí đầu tư xây dựng và nâng cấp các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân các tỉnh, thành phố trong cả nước là 2.148 tỷ đồng. Đến nay, trong 4 năm 2012- 2015 mới được cấp 648 tỷ đồng (bình quân mỗi năm cấp 162 tỷ đồng), nếu tiến độ cấp như hiện nay thì sau năm 2020 vẫn chưa xây dựng xong. Số còn lại 1.600 tỷ đồng đề nghị được cấp trong 3 năm để bù vào 4 năm trước thì mới bảo đảm tiến độ Đề án.

6- Đề nghị Chính phủ tiếp tục quan tâm, cấp bổ sung vốn cho Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương. Cụ thể là: năm 2015 đề nghị cấp bổ sung từ ngân sách là 600 tỷ đồng, các năm sau mỗi năm cấp 200 tỷ đồng.

Căn cứ Quyết định số 673/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ và Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân giai đoạn 2011- 2020” đã trình Thủ tướng. Theo đó đến năm 2020 mỗi năm Chính phủ cấp bổ sung cho Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương là 200 tỷ đồng. Thực tế mới được cấp 400 tỷ đồng. Cụ thể là: năm 2011 đã được cấp 300 tỷ đồng; năm 2013 đã được cấp 100 tỷ đồng. Năm 2012 và 2014 chưa được cấp.

Năm 2015 đề nghị cấp bù của 2 năm 2012 và 2014, cộng với năm 2015. Tổng đề nghị là 600 tỷ đồng.

7- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các địa phương hàng năm cấp bổ sung từ ngân sách địa phương cho Quỹ Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh, cấp huyện theo Quyết định số 673/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Vì hiện nay một số tỉnh, thành phố chưa quan tâm cấp ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân theo Quyết định số 673/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đến ngày 20/4/2015 còn 11 tỉnh, thành phố chưa cấp ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân: Lào Cai, Điện Biên, Hà Nam, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai, Đồng Nai, Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre và thành phố Cần Thơ.

Căn cứ Quyết định số 2261/QĐ-TTg, ngày 15/12/2014 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015 – 2020. Tuy nhiên, theo Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg, ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ chưa quy định dòng ngân sách riêng cho hỗ trợ phát triển kinh tế hợp tác, nên việc triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn.

9- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính bố trí kinh phí để Hội Nông dân Việt Nam xây dựng mô hình kinh tế tập thể, tổ hợp tác nhất là trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản để góp phần tái cơ cấu nền nông nghiệp và đổi mới mô hình tăng trưởng.

Nghị Quyết số 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn xác định “… tạo cơ chế và điều kiện thuận lợi cho Hội Nông dân Việt Nam trong việc trực tiếp thực hiện một số chương trình, dự án phục vụ sản xuất và nâng cao đời sống của nông dân, hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp …”. Trong những năm qua, Hội Nông dân Việt Nam đã tích cực tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động của Hội vẫn chỉ tập trung ở công tác tuyên truyền, vận động, chưa có nguồn lực để trực tiếp hỗ trợ, hướng dẫn nông dân phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp. Do đó, đề nghị trên là để tạo điều kiện cho Hội Nông dân Việt Nam được trực tiếp tham gia các hoạt động hỗ trợ, hướng dẫn nông dân phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp giai đoạn 2015 – 2020.

10- Đề nghị Chính phủ phê duyệt cho Trung ương Hội Nông dân Việt Nam được tham gia là một trong các đầu mối của Chương trình Xúc tiến Thương mại trong giai đoạn (2015-2020) để giới thiệu, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp cho nông dân.

Căn cứ Kết luận số 61-KL/TW, ngày 03/12/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng có nêu “… tạo cơ chế để Hội Nông dân Việt Nam tham gia thực hiện chính sách của Chính phủ về tiêu thụ nông sản hàng hoá…”. Trong những năm qua, Hội Nông dân Việt Nam đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện các chính sách của Nhà nước về tiêu thụ nông sản, tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại: trong đó, Hội đã tổ chức thành công nhiều hội chợ triển lãm, xúc tiến thương mại nông nghiệp, nông thôn ở các địa phương, vùng miền góp phần quan trọng để kết nối cung cầu nông sản, thúc đẩy phát triển sản xuất…Tuy nhiên, các hoạt động xúc tiến thương mại của Hội Nông dân Việt Nam còn nhiều khó khăn, bất cập, phạm vi, quy mô hoạt động còn nhỏ lẻ, phương thức và cơ chế hoạt động xúc tiến thương mại của Hội chủ yếu là phối hợp, kinh phí hoàn toàn từ nguồn xã hội hóa không có sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước.

Để tạo điều kiện và phát huy vai trò của Hội Nông dân Việt Nam trong việc xúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu và tiêu thụ nông sản trong giai đoạn tới, để Hội Nông dân Việt Nam được trực tiếp thực hiện “Chương trình xúc tiến thương mại Quốc gia” trong lĩnh vực nông nghiệp theo Quyết định số 72/QĐ-TTg, ngày 15/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc “ban hành Quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại Quốc gia”.

11- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục xây dựng Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020” trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Ngày 07 tháng 7 năm 2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1045/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2010- 2015”, đến năm 2015 kết thúc Đề án. Qua 05 năm Hội Nông dân thực hiện, đã hoàn thành các mục tiêu, nội dung của Đề án. Cán bộ qua bồi dưỡng, đào tạo trình độ, năng lực được nâng lên rõ rệt, nhiều đồng chí được bổ nhiệm vào các chức danh chủ chốt của tổ chức Hội, một số đồng chí được cấp ủy đảng bổ nhiệm vào các chức danh chủ chốt của các cấp ủy, chính quyền.

Tuy nhiên, hiện nay nhu cầu bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cơ sở Hội là rất lớn (qua khảo sát đánh giá về tình hình, chất lượng đội ngũ cán bộ ở cơ sở hiện nay, có gần 40% cán bộ cơ sở Hội chưa đạt chuẩn về đào tạo trung cấp chuyên môn, nghiệp vụ công tác Hội). Mặt khác, do yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân sự cho Đảng; cũng như chuẩn bị nguồn nhân sự cho đại hội nhiệm kỳ của Hội sắp tới và đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ đạt chuẩn về trình độ năng lực tại các xã đạt chuẩn về Chương trình quốc gia Xây dựng nông thôn mới.

13- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Khoa học và Công nghệ sửa đổi Khoản 1, Điều 11, Thông tư 07/2014/TT-BKHCN, ngày 26/5/2014 của Bộ Khoa học và Công nghệ về quy định trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước. Đề nghị bổ sung đối tượng là các đoàn thể chính trị- xã hội, để Hội Nông dân Việt Nam được trực tiếp đề xuất đặt hàng các nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp quốc gia hàng năm.

Vì hiện nay xuất phát từ nhu cầu thực tiễn sản xuất của nông dân; các cấp Hội đã tích cực tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân; phối hợp chuyển giao khoa học kỹ thuật, dạy nghề cho nông dân đạt nhiều kết quả. Để thực hiện tốt hơn nữa vai trò của Hội Nông dân Việt Nam trong việc nắm bắt nhu cầu, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp đem lại hiệu quả cho nông dân thông qua việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, kết hợp với Quỹ Hỗ trợ nông dân để xây dựng và nhân rộng các mô hình phát triển sản xuất, kinh doanh; việc Hội Nông dân là đầu mối trong việc đề xuất và triển khai áp dụng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia là hết sức cần thiết và hiệu quả.

14- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho giữ nguyên lượng phát hành Báo Nông thôn Ngày nay theo Quyết định số 2472/QĐ-TTg, ngày 28/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012-2015, cho giai đoạn 2016- 2020.

Trong 3 năm qua, được sự quan tâm của Thủ tướng Chính phủ; Báo Nông thôn Ngày nay đã chủ động cải tiến nội dung, mở thêm nhiều chuyên trang, chuyên mục, tuyên truyền kịp thời chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước nhất là về nông nghiệp, nông dân, nông thôn tới đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn; hướng dẫn khoa học, kỹ thuật, thông tin thị trường, phổ biến mô hình hay, cách thức làm ăn góp phần nâng cao dân trí, xóa đói, giảm nghèo. Để tiếp tục hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn thông qua thông tin để góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững, đảm bảo an sinh xã hội; đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho giữ nguyên lượng phát hành Báo Nông thôn Ngày nay cho giai đoạn 2016- 2020.

15- Đề nghị Văn phòng Chính phủ phối hợp với Trung ương Hội Nông dân Việt Nam xây dựng Quy chế phối hợp hoạt động giữa Chính phủ với Trung ương Hội Nông dân Việt Nam trong năm 2015.

Nơi nhận: T/M BAN THƯỜNG VỤ – Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo), CHỦ TỊCH – Văn phòng Chính phủ, – Các đ/c Ủy viên Ban Thường vụ,(Đã ký) Trưởng các ban, đơn vị Trung ương Hội, – Lưu VP.Nguyễn Quốc Cường

Điều Lệ Hội Nông Dân Việt Nam / 2023

Chức năng, nhiệm vụ của hội nông dân Việt Nam

1. Khái niệm Hội nông dân Việt Nam

Hội Nông dân Việt Nam (tên cũ: Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam trước 1991) là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Điều lệ hội nông dân Việt Nam

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM

Hội Nông dân Việt Nam là đoàn thể chính trị – xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Hội Nông dân Việt Nam tiền thân là Nông hội đỏ, thành lập ngày 14 tháng 10 năm 1930, trải qua các thời kỳ cách mạng luôn trung thành với Đảng và dân tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam là trung tâm, nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới.

Mục đích của Hội là tập hợp đoàn kết nông dân, xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng là lực lượng tin cậy trong khối liên minh vững chắc công, nông, trí, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, xây dựng Hội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động; nâng cao vai trò đại diện, phát huy quyền làm chủ, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, nông dân.

Phát huy truyền thống yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần cách mạng, lao động sáng tạo, cần kiệm, tự lực, tự cường, đoàn kết của nông dân; tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng văn hoá, giữ vững quốc phòng, an ninh, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chương I. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA HỘI Điều 1: Chức năng

1. Tập hợp, vận động, giáo dục hội viên, nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt.

2. Đại diện giai cấp nông dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

3. Chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nông dân; tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân trong sản xuất, kinh doanh và đời sống.

Điều 2: Nhiệm vụ

1. Tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên, nông dân hiểu và tích cực thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nghị quyết, chỉ thị của Hội. Khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, ý chí cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo của nông dân.

2. Vận động, tập hợp, làm nòng cốt tổ chức các phong trào nông dân phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh; xây dựng nông thôn mới.

3. Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của hội viên, nông dân. Trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn; hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn. Tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ, dạy nghề, khoa học công nghệ giúp nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, bảo vệ môi trường.

4. Đoàn kết, tập hợp đông đảo nông dân vào tổ chức Hội, phát triển và nâng cao chất lượng hội viên. Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh về mọi mặt; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

5. Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Tham gia giám sát và phản biện xã hội theo quy chế; tham gia xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Kịp thời phản ánh tâm tư nguyện vọng của nông dân với Đảng và Nhà nước; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, nông dân. Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nông dân; góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội.

6. Mở rộng hoạt động đối ngoại theo quan điểm, đường lối của Đảng, tăng cường hợp tác, trao đổi, học tập kinh nghiệm, tiến bộ khoa học kỹ thuật, quảng bá hàng hoá nông sản, văn hoá Việt Nam với tổ chức nông dân, tổ chức quốc tế, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ trong khu vực và trên thế giới.

2. Uỷ viên ban chấp hành từ cơ sở trở lên đương nhiên là hội viên Hội Nông dân Việt Nam.

Điều 4: Nhiệm vụ của hội viên

1. Chấp hành Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị của Hội, sinh hoạt và đóng hội phí đầy đủ theo quy định của Ban Thường vụ Trung ương Hội.

2. Gương mẫu và tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội; đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau; thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư; gia đình văn hoá; thực hiện nghĩa vụ công dân, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

3. Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh; tuyên truyền, vận động phát triển hội viên; tham gia các hoạt động và phong trào nông dân ở địa phương, xây dựng quỹ hoạt động Hội.

2. Được Hội hướng dẫn, giúp đỡ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng.

3. Được ứng cử, đề cử, bầu cử vào các cơ quan lãnh đạo của Hội.

Điều 6: Nguyên tắc tổ chức và hoạt động

Hội Nông dân Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Cơ quan lãnh đạo các cấp của Hội được bầu cử trực tiếp bằng phiếu kín.

Điều 7: Hệ thống tổ chức của Hội

Hội Nông dân Việt Nam gồm bốn cấp:

– Trung ương;

– Cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương);

– Cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh);

– Cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn và tương đương).

Điều 8: Đại hội Hội Nông dân các cấp

Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội Nông dân Việt Nam là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của mỗi cấp là đại hội cấp đó.

1. Số lượng và cơ cấu đại biểu đại hội cấp nào do ban chấp hành cấp trên trực tiếp hướng dẫn và do ban chấp hành cấp đó quyết định. Đại hội chỉ hợp lệ khi có mặt hai phần ba (2/3) tổng số hội viên (nếu là đại hội toàn thể hội viên) hoặc hai phần ba (2/3) tổng số đại biểu được triệu tập trở lên (nếu là đại hội đại biểu).

2. Đại biểu chính thức của đại hội gồm: Uỷ viên ban chấp hành đương nhiệm của cấp đó, đại biểu do đại hội cấp dưới bầu lên, đại biểu do ban chấp hành cấp triệu tập đại hội chỉ định. Số đại biểu chỉ định không quá năm phần trăm (5%) tổng số đại biểu được triệu tập.

4. Nhiệm kỳ Đại hội các cấp là 5 năm. Trường hợp đặc biệt, đại hội nhiệm kỳ có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn thời gian quy định, nhưng không quá một năm và phải được Hội cấp trên trực tiếp đồng ý bằng văn bản.

Điều 9: Ban chấp hành Hội Nông dân các cấp

1. Số lượng và cơ cấu ban chấp hành cấp nào do ban chấp hành Hội cấp trên trực tiếp hướng dẫn và do đại hội cấp đó quyết định. Trong nhiệm kỳ, nếu số lượng uỷ viên ban chấp hành khuyết thì hội nghị ban chấp hành hoặc hội nghị đại biểu bầu bổ sung. Số uỷ viên ban chấp hành được bầu cử bổ sung cấp tỉnh và Trung ương không quá một phần hai (1/2) so với số uỷ viên ban chấp hành do đại hội quyết định; cấp huyện và cấp cơ sở được bổ sung đủ số lượng uỷ viên ban chấp hành mà đại hội đã quyết định. (24/08/2012)

2. Ban chấp hành là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội, ban chấp hành cấp dưới phải được ban chấp hành cấp trên trực tiếp công nhận. Ban chấp hành bầu ban thường vụ, bầu chủ tịch, các phó chủ tịch trong số uỷ viên ban thường vụ. Số lượng và cơ cấu ban thường vụ do ban chấp hành quyết định, tổng số uỷ viên ban thường vụ không quá một phần ba (1/3) tổng số uỷ viên ban chấp hành, trường hợp khuyết được bầu bổ sung cho đủ số lượng. Thường trực (không phải là một cấp) gồm chủ tịch, các phó chủ tịch thay mặt ban thường vụ giải quyết công việc giữa hai kỳ hội nghị ban thường vụ theo nghị quyết, chủ trương của ban chấp hành, ban thường vụ.

3. Trường hợp cần thiết, ban chấp hành Hội cấp trên trực tiếp có quyền chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, các chức danh chủ chốt của Hội cấp dưới.

Nhiệm kỳ của ban chấp hành, ban thường vụ, các chức danh chủ chốt được chỉ định không nhất thiết đủ 5 năm.

4. Ban Thường vụ Trung ương Hội thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Hội chỉ đạo các cấp Hội tổ chức thực hiện nghị quyết Đại hội và các nghị quyết của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương Hội. Ban Thường vụ Trung ương Hội thành lập Văn phòng, các Ban chuyên môn, đơn vị sự nghiệp làm tham mưu, giúp việc. Ban Thường vụ tỉnh, thành Hội thành lập Văn phòng và các Ban chuyên môn, đơn vị sự nghiệp theo hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương Hội. Cấp huyện và cơ sở phân công cán bộ phụ trách các mặt công tác của Hội, hoặc thành lập các bộ phận, tổ chức kiêm nhiệm giúp việc khi cần.

5. Ban chấp hành từ cấp huyện trở lên họp thường kỳ một năm hai lần, Ban chấp hành cơ sở họp thường kỳ một tháng một lần. Ban thường vụ cấp tỉnh, huyện và cơ sở họp thường kỳ một tháng một lần, Ban Thường vụ Trung ương Hội họp ít nhất ba tháng một lần. Khi cần thiết ban chấp hành, ban thường vụ các cấp họp bất thường. Hội nghị ban chấp hành, ban thường vụ chỉ hợp lệ khi có mặt hai phần ba (2/3) số uỷ viên được triệu tập trở lên. Nghị quyết ban chấp hành, ban thường vụ có giá trị khi quá một phần hai (1/2) tổng số uỷ viên ban chấp hành hay ban thường vụ được triệu tập biểu quyết đồng ý. Uỷ viên ban chấp hành nghỉ hưu, nghỉ công tác hoặc chuyển công tác khác đương nhiên không còn là uỷ viên của ban chấp hành.

6. Ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ xin rút khỏi ban chấp hành ở cấp nào do ban chấp hành cấp đó xem xét, đề nghị lên ban thường vụ cấp trên trực tiếp quyết định; đối với ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương do Ban Chấp hành Trung ương quyết định.

Điều 10: Nhiệm vụ của Ban chấp hành từ cấp huyện trở lên

1. Tổ chức thực hiện và hướng dẫn Hội cấp dưới thực hiện Điều lệ và nghị quyết của Hội; nghiên cứu thi hành các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh về mọi mặt.

2. Phối hợp với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể tổ chức hướng dẫn hội viên, nông dân thi đua thực hiện các phong trào phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng nông thôn mới.

3. Chuẩn bị nội dung, nhân sự ban chấp hành và tổ chức đại hội cấp mình khi hết nhiệm kỳ.

4. Xem xét, quyết định việc thành lập, sáp nhập, chia tách, chấm dứt hoạt động tổ chức Hội cấp dưới trực tiếp.

Điều 11: Tổ chức cơ sở Hội

Tổ chức cơ sở Hội Nông dân là nền tảng của Hội, là nơi trực tiếp với hội viên, nông dân. Tổ chức cơ sở Hội theo đơn vị xã, phường, thị trấn. Những đơn vị kinh tế nông, lâm trường, hợp tác xã nếu có nhu cầu thành lập tổ chức Hội Nông dân và được Hội cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định thì thành lập tổ chức Hội phù hợp.

Điều 12: Nhiệm vụ của ban chấp hành cơ sở Hội

1. Hướng dẫn các chi Hội, tổ Hội học tập, thực hiện Điều lệ và nghị quyết, chỉ thị của Hội; các nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và của cấp ủy, chính quyền cơ sở.

2. Thường xuyên đổi mới phương thức hoạt động; phối hợp với chính quyền, các ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể ở cơ sở tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện các phong trào phát triển kinh tế- xã hội, tham gia kinh tế hợp tác và hợp tác xã, làng nghề, trang trại và các loại hình kinh tế tập thể khác. Tổ chức hoạt động hỗ trợ, tư vấn, dịch vụ giúp nông dân phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của hội viên, nông dân.

3. Nâng cao chất lượng hội viên; xem xét, quyết định kết nạp hội viên; bồi dưỡng cán bộ Hội; duy trì nề nếp sinh hoạt với nội dung thiết thực; xây dựng quỹ Hội, thu nộp hội phí đúng quy định.

4. Kiểm tra việc thực hiện Điều lệ, chỉ thị, nghị quyết của Hội; phối hợp với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể giám sát thực hiện chính sách, pháp luật ở nông thôn; tham gia thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh; bồi dưỡng và giới thiệu với Đảng những cán bộ, hội viên ưu tú để Đảng xem xét, kết nạp.

5. Thường xuyên phản ảnh tình hình tổ chức hoạt động của Hội, tình hình sản xuất, đời sống, tâm tư nguyện vọng và những kiến nghị của hội viên, nông dân với cấp uỷ Đảng, chính quyền cùng cấp và Hội cấp trên.

6. Chuẩn bị nội dung, nhân sự ban chấp hành và tổ chức Đại hội khi hết nhiệm kỳ.

Điều 13: Chi Hội

Chi Hội là đơn vị hành động, cầu nối của ban chấp hành cơ sở với hội viên, nông dân. Chi Hội tổ chức theo thôn, ấp, bản, làng, khu phố, hợp tác xã và theo nghề nghiệp. Chi Hội có thể chia thành nhiều tổ Hội. Chi Hội tổ chức hội nghị bầu chi Hội trưởng, chi Hội phó, nhiệm kỳ hai năm rưỡi và bầu đại biểu đi dự đại hội Hội Nông dân cấp cơ sở. Việc bầu cử tiến hành bằng hình thức bỏ phiếu kín hoặc biểu quyết. Chi Hội họp ba tháng một lần, khi cần thiết có thể họp bất thường.

Điều 14: Nhiệm vụ của chi Hội

1. Tổ chức học tập, phổ biến chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị của Hội cấp trên đến hội viên, nông dân. Chi Hội phối hợp với các tổ chức trong hệ thống chính trị ở thôn, ấp, bản, làng, khu phố…, vận động nông dân thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật và nghĩa vụ công dân với Nhà nước. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, vận động hoà giải tranh chấp trong nội bộ nông dân; nòng cốt trong các phong trào phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng nông thôn mới.

2. Hướng dẫn các tổ Hội học tập nâng cao chất lượng và phát triển hội viên, sinh hoạt tổ Hội, thu nộp hội phí, xây dựng quỹ Hội; đoàn kết tương trợ giúp nhau trong sản xuất và đời sống.

3. Hàng tháng chi Hội phải báo cáo với ban chấp hành cơ sở và tổ chức Đảng cùng cấp về tình hình tổ chức, hoạt động của Hội, sản xuất, đời sống và tâm tư nguyện vọng của hội viên, nông dân.

Điều 15: Tổ Hội

Tổ Hội là đơn vị dưới chi Hội, được thành lập theo địa bàn dân cư, theo nghề nghiệp, đơn vị kinh tế, tổ hợp tác,… cho phù hợp và thuận tiện sinh hoạt. Tổ Hội có tổ trưởng và tổ phó do hội viên cử. Mỗi tháng tổ Hội họp một lần.

Điều 16: Nhiệm vụ của tổ Hội

Nhiệm vụ của tổ Hội là tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân đoàn kết, tương trợ, hợp tác lao động sản xuất, thực hiện nghĩa vụ công dân, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của hội viên, nông dân, vận động hội viên, nông dân xây dựng gia đình văn hoá, giữ gìn an ninh trật tự, hoà giải những vụ tranh chấp của hội viên, nông dân; thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển hội viên, xây dựng quỹ Hội, thu nộp hội phí theo quy định.

Điều 17: Công tác kiểm tra

Ban Chấp hành, Ban Thường vụ các cấp thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra nhằm phục vụ yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức và hoạt động của Hội. Ban Thường vụ Hội Nông dân cấp nào lập ra ban kiểm tra của Hội cấp đó.

Điều 18: Ban kiểm tra

Ban kiểm tra giúp ban chấp hành, ban thường vụ thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của Hội gồm những nội dung sau:

1. Kiểm tra, giám sát cán bộ, hội viên, tổ chức Hội cấp dưới về chấp hành Điều lệ Hội, thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Hội.

2. Kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài chính Hội, thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội của Hội cùng cấp và cấp dưới.

3. Tham gia hoà giải và giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo của nông dân; giải quyết những vụ việc thuộc thẩm quyền của Hội.

4. Giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở nông thôn.

Điều 19: Khen thưởng

Tổ chức Hội, cán bộ, hội viên và những người có công với tổ chức Hội, với giai cấp nông dân tuỳ theo thành tích, được Hội khen thưởng hoặc đề nghị Nhà nước khen thưởng.

Các hình thức khen thưởng của Hội do Ban chấp hành Trung ương Hội quy định.

Điều 20: Kỷ luật

1. Tổ chức Hội, cán bộ, hội viên có sai phạm, tuỳ theo mức độ mà Hội có các hình thức kỷ luật sau đây:

– Đối với tổ chức: khiển trách, cảnh cáo, giải tán.

– Đối với cán bộ: khiển trách, cảnh cáo, cách chức.

– Đối với hội viên: khiển trách, cảnh cáo, xoá tên và thu hồi thẻ hội viên.

2. Thẩm quyền thi hành kỷ luật do Ban Thường vụ Trung ương Hội quy định.

Tài chính của Hội chi cho các hoạt động của Hội.

Điều 22: Quản lý, sử dụng tài chính của Hội

Các cấp Hội thực hiện chế độ quản lý, sử dụng tài chính theo quy định của Nhà nước và của Trung ương Hội.

Điều 23: Chấp hành Điều lệ Hội

Các cấp Hội và cán bộ, hội viên có nhiệm vụ chấp hành Điều lệ Hội. Ban Chấp hành Trung ương Hộicó trách nhiệm hướng dẫn thi hành Điều lệ này.

Điều 24: Sửa đổi Điều lệ Hội

Việc sửa đổi Điều lệ Hội do Đại hội đại biểu toàn quốc hoặc Hội nghị đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam quyết định./.

3. Hướng dẫn thi hành điều lệ hội nông dân Việt Nam

HƯỚNG DẪN Một số vấn đề cụ thể về thi hành Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam

Căn cứ Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam (đã được Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII thông qua ngày 12/12/2018) và Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (khóa VII) ngày 23/7/2019; Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam hướng dẫn thực hiện một số điều của Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam như sau:

1. Điều 3: Đối tượng và điều kiện trở thành hội viên 1.1- Đối tượng, điều kiện kết nạp (khoản 1):

– Tính đến thời điểm kết nạp, người được kết nạp vào Hội phải đủ 18 tuổi.

+ Những người đang lao động trong các lĩnh vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch…

+ Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp… cấp xã trở lên (bao gồm cả cán bộ không chuyên trách cấp xã).

+ Cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động nghỉ hưu sống ở nông thôn hoặc nơi có tổ chức Hội.

+ Các nhà khoa học, các doanh nhân, giám đốc hoặc chủ tịch hội đồng quản trị hợp tác xã trong các ngành nghề nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại; cán bộ kỹ thuật, nghệ nhân…..

+ Học sinh đang học các trường trung học phổ thông; học sinh, sinh viên các trường trung cấp, cao đẳng, đại học là con em nông dân hoặc xuất thân từ nông thôn gắn bó với nông nghiệp, nông thôn.

1.2- Xét kết nạp hội viên trong một số trường hợp:

Hội Nông dân các cấp có trách nhiệm tuyên truyền, vận động để kết nạp:

– Học sinh trong các trường trung học phổ thông từ đủ 18 tuổi có nguyện vọng vào Hội, tích cực, tự nguyện tham gia các hoạt động do Hội tổ chức thì chi Hội hoặc Hội cơ sở nơi học sinh đó cư trú xem xét kết nạp trên cơ sở trao đổi, thống nhất với ban giám hiệu nhà trường nơi học sinh đó đang học tập và cấp ủy nơi cư trú.

– Học sinh, sinh viên các trường trung cấp, cao đẳng, đại học có nguyện vọng vào Hội, tích cực, tự nguyện tham gia các hoạt động do Hội tổ chức thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp cơ sở hoặc cấp huyện/cấp tỉnh/cấp trung ương nơi trường đó đóng trên địa bàn xem xét kết nạp, sau khi có sự thống nhất với cấp ủy và ban lãnh đạo nhà trường trên cơ sở phù hợp với nguyện vọng và điều kiện cư trú, học tập của học sinh, sinh viên vào Hội.

– Các nhà khoa học, các doanh nhân, trí thức trẻ có nguyện vọng vào Hội, tích cực tham gia và đóng góp cho các hoạt động của Hội thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp cơ sở hoặc cấp huyện, cấp tỉnh, cấp trung ương xem xét kết nạp trên cơ sở phù hợp với nguyện vọng, điều kiện cư trú, làm việc của người vào Hội.

– Giám đốc hoặc chủ tịch hội đồng quản trị hợp tác xã trong các ngành nghề nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại…do ban thường vụ Hội cấp cơ sở xem xét, kết nạp.

– Trường hợp người có nguyện vọng xin vào Hội nhưng nơi đó chưa có chi Hội hoặc tổ Hội thì việc kết nạp hội viên do ban thường vụ Hội cấp cơ sở hoặc cấp huyện/cấp tỉnh/cấp trung ương xem xét và kết nạp.

1.3- Thủ tục kết nạp hội viên (khoản 1):

– Người xin vào Hội phải tán thành Điều lệ Hội, tự nguyện có đơn gửi chi Hội hoặc tổ Hội (nơi có tổ Hội).

– Được phổ biến, quán triệt về Điều lệ Hội và những kiến thức cơ bản về Hội trước khi kết nạp.

– Chi Hội tổ chức hội nghị toàn thể hội viên hoặc hội nghị ban chấp hành chi Hội mở rộng (đối với chi Hội có đông hội viên và được chia thành các tổ Hội) để xem xét, lựa chọn người đủ điều kiện, tiêu chuẩn và lập danh sách đề nghị lên ban thường vụ Hội cơ sở xét và ra quyết định kết nạp.

– Khi nhận được văn bản đề nghị xét kết nạp hội viên của chi Hội, ban thường vụ Hội cơ sở có trách nhiệm xem xét kết nạp vào cuộc họp gần nhất và ra quyết định kết nạp hội viên. Nếu có trường hợp không được xét kết nạp thì phải trả lời bằng văn bản lý do không được kết nạp cho chi Hội để chi Hội thông báo cho người xin vào Hội biết.

– Khi có quyết định kết nạp hội viên, chi Hội mời những người có tên trong danh sách được kết nạp dự cuộc họp chi Hội gần nhất và công bố quyết định kết nạp hội viên mới (nơi có tổ Hội thì công bố tại tổ Hội nhưng phải thông báo cho toàn thể chi Hội biết vào kỳ họp gần nhất). Thời gian được công nhận là hội viên tính từ ngày ghi trên quyết định kết nạp.

1.4- Công tác quản lý hội viên

– Chi Hội, tổ Hội, ban chấp hành Hội cơ sở phải có Sổ danh sách hội viên theo dõi kết nạp hội viên, sự biến động hội viên và phát Thẻ hội viên theo mẫu của Trung ương Hội ban hành.

– Các cấp Hội, nhất là cơ sở Hội có thể áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý hội viên phù hợp với xu hướng phát triển hiện nay.

– Các cấp Hội có trách nhiệm báo cáo đầy đủ tình hình biến động hội viên của cấp mình đối với Hội cấp trên trực tiếp. Đối với tổ Hội, chi Hội, cơ sở Hội thực hiện báo cáo hàng quý; đối với cấp huyện, cấp tỉnh thực hiện báo cáo 6 tháng, 1 năm.

– Khi hội viên thay đổi nơi cư trú thì báo cáo chi Hội nơi đi, chi Hội có trách nhiệm báo cáo ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp. Đến nơi cư trú mới, hội viên báo cáo, xuất trình thẻ hội viên hoặc giấy giới thiệu của Hội theo mẫu của Trung ương Hội ban hành với tổ chức Hội cơ sở nơi đến cư trú để được tiếp tục tham gia sinh hoạt Hội.

1.4.2- Quản lý hội viên đi lao động ở xa, thời gian không ổn định; hội viên đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài; hội viên trở thành công nhân trong các khu công nghiệp, trong các doanh nghiệp ở nông thôn

Hội viên đi lao động ở xa, thời gian không ổn định là những hội viên rời khỏi địa phương nơi đăng ký hộ khẩu thường trú đến địa phương khác để lao động với việc làm và thời gian không ổn định, không có điều kiện sinh hoạt Hội thường xuyên nơi cư trú.

a) Trách nhiệm của hội viên:

– Đối với hội viên đi lao động ở xa, thời gian không ổn định:

+ Trước mỗi đợt đi lao động ở xa phải báo cáo với ban chấp hành chi Hội (qua chi hội trưởng) về địa chỉ nơi đến để chi Hội, Hội cơ sở hướng dẫn thủ tục chuyển sinh hoạt Hội tạm thời hoặc báo cáo chi Hội xin tạm dừng sinh hoạt (trong trường hợp nơi đến lao động không có tổ chức Hội và không thể tham gia sinh hoạt Hội được).

+ Khi đến nơi lao động, hội viên liên hệ với chi Hội, Hội cơ sở nơi đến để đăng ký tham gia sinh hoạt Hội; được dùng thẻ hội viên hoặc giấy giới thiệu chuyển sinh hoạt để sinh hoạt tạm thời.

+ Trường hợp hội viên đi lao động, hoặc làm ăn xa nhưng vẫn đi, về thường xuyên và đảm bảo sinh hoạt với chi Hội hoặc tổ Hội ít nhất 02 lần/năm, đóng hội phí đầy đủ, có đóng góp cho các hoạt động của chi Hội, tổ Hội thì vẫn là hội viên được tính vào số hội viên hiện có của chi Hội, tổ Hội.

– Đối với hội viên đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, trước khi đi phải báo cáo ban chấp hành chi Hội (qua chi hội trưởng) để được tạm dừng sinh hoạt Hội và số hội viên này không tính vào số hội viên hiện có của chi Hội khi báo cáo Hội cấp trên. Khi hội viên trở lại sinh sống ở địa phương thì báo cáo chi Hội để được xem xét tiếp tục tham gia sinh hoạt Hội.

– Hội viên làm công nhân trong các khu công nghiệp, trong các doanh nghiệp (đi khỏi nơi cư trú) không thể tham gia sinh hoạt Hội được thì trước khi đi làm phải báo cáo ban chấp hành chi Hội (qua chi hội trưởng) để được tạm dừng sinh hoạt Hội và số hội viên này không tính vào số hội viên hiện có của chi Hội khi báo cáo Hội cấp trên. Khi thôi làm công nhân, trở lại địa phương lao động, sản xuất, kinh doanh thì báo cáo chi Hội để được tiếp tục tham gia sinh hoạt Hội.

b) Trách nhiệm của cơ sở Hội nơi hội viên đi:

Chi Hội lập sổ theo dõi danh sách hội viên kèm theo địa chỉ nơi đến của số hội viên đi lao động ở xa, thời gian không ổn định; hội viên đi xuất khẩu lao động; hội viên làm công nhân trong các khu công nghiệp, trong các doanh nghiệp và báo cáo cho Hội cơ sở để theo dõi. Hội cơ sở chuyển sinh hoạt hội tạm thời cho hội viên bằng giấy giới thiệu hoặc hướng dẫn hội viên dùng thẻ hội viên để đăng ký sinh hoạt tạm thời. Số hội viên này không tính vào số hội viên thực tế hiện có của chi Hội khi báo cáo với cấp trên.

c) Trách nhiệm của cơ sở Hội nơi hội viên đến:

– Hội cơ sở tiếp nhận thủ tục sinh hoạt tạm thời và giới thiệu hội viên về các chi Hội. Số hội viên này được tính vào số hội viên hiện có của chi Hội tiếp nhận khi báo cáo với Hội cấp trên.

– Những địa bàn tập trung đông hội viên là lao động tự do và đã có đăng ký tạm trú thì Hội cơ sở ở nơi đó có thể thành lập chi Hội hoặc tổ Hội trực thuộc để tổ chức sinh hoạt và các hoạt động cho hội viên.

1.4.3- Sinh hoạt của hội viên:

– Việc tổ chức sinh hoạt cho hội viên phải phù hợp với từng đối tượng, điều kiện lao động, công tác và học tập của hội viên.

+ Hội viên sinh sống và lao động ở nông thôn thì tham gia sinh hoạt tại chi Hội, tổ Hội được tổ chức theo địa bàn dân cư, theo nghề nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác…

+ Hội viên là học sinh thuộc trường trung học phổ thông sinh hoạt tại chi Hội, tổ Hội tại địa bàn nông thôn nơi đang sinh sống.

+ Hội viên là ủy viên ban chấp hành Hội Nông dân cấp huyện trở lên sinh hoạt tại các kỳ họp của ban chấp hành và các cuộc hội thảo, hội nghị…cấp mình tham gia.

+ Hội viên là cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, các nhà khoa học, nhà doanh nghiệp (nơi không có chi Hội, tổ Hội) thì tham gia sinh hoạt Hội tại cơ quan chuyên trách Hội Nông dân cấp huyện/cấp tỉnh/cấp trung ương tổ chức.

+ Hội viên là sinh viên các trường trung cấp, cao đẳng, đại học sinh hoạt tại chi Hội, tổ Hội được thành lập trong trường hoặc sinh hoạt tại cơ quan chuyên trách Hội Nông dân cấp cơ sở/cấp huyện/cấp tỉnh/cấp trung ương trực tiếp quản lý.

+ Hội viên là giám đốc hoặc chủ tịch hội đồng quản trị hợp tác xã trong các ngành nghề nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại sinh hoạt tại tổ chức Hội nơi cư trú.

– Cách thức và nội dung sinh hoạt đối với hội viên là các nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, học sinh, sinh viên, trí thức trẻ do cơ quan chuyên trách Hội Nông dân cấp trực tiếp quản lý lựa chọn và chuẩn bị.

1.4.4- Xem xét miễn sinh hoạt:

– Đối với hội viên tuổi cao, sức yếu, hội viên ốm đau dài ngày, nếu vì lý do sức khỏe không tham gia sinh hoạt và các hoạt động của Hội được nhưng vẫn có nguyện vọng gắn bó với tổ chức Hội thì báo cáo chi Hội xem xét để được miễn sinh hoạt và các hoạt động của Hội. Chi Hội báo cáo ban thường vụ Hội cơ sở biết theo dõi.

* Nhiệm vụ, quyền lợi của hội viên được miễn sinh hoạt và hoạt động Hội.

+ Nhiệm vụ: Thực hiện nhiệm vụ của hội viên được quy định tại Điều 4, Điều lệ Hội phù hợp với sức khỏe.

+ Quyền lợi: Được mời dự Hội nghị toàn thể hội viên. Được hưởng quyền lợi đầy đủ như hội viên đang tham gia sinh hoạt và hoạt động của Hội.

+ Nếu vi phạm tư cách hội viên vẫn bị xử lý kỷ luật theo quy định của Điều lệ Hội.

1.4.5- Trường hợp đưa ra khỏi danh sách hội viên và tổ chức Hội:

Đối với những hội viên không gắn bó, thiết tha với Hội và làm đơn xin ra khỏi Hội thì chi Hội báo cáo ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp để đưa ra khỏi danh sách hội viên và tổ chức Hội. Hội viên đã xin ra khỏi Hội thì không xem xét kết nạp lại.

1.4.6- Sử dụng huy hiệu Hội

Cán bộ, hội viên đeo huy hiệu Hội vào ngày lễ lớn của Hội, các hoạt động mang ý nghĩa chính trị – xã hội và các buổi sinh hoạt tập thể của Hội.

– Thẻ hội viên có giá trị chứng nhận tư cách, trách nhiệm và quyền lợi chính trị – xã hội của hội viên, được cấp để thực hiện nhiệm vụ của hội viên và của Hội Nông dân Việt Nam. Thẻ hội viên do Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam quy định và phát hành.

– Hội viên được phát Thẻ trong lễ kết nạp hoặc chậm nhất không quá 3 tháng kể từ ngày được kết nạp vào Hội. Việc cấp Thẻ hội viên do ban thường vụ Hội Nông dân các tỉnh, thành phố quyết định. Thẻ có dán ảnh và đóng dấu nổi của Hội Nông dân tỉnh, thành phố. Hội viên được nhận Thẻ hội viên phải thực hiện đúng những quy định về sử dụng và bảo quản thẻ hội viên.

– Thẻ hội viên chỉ được sử dụng trong công tác và sinh hoạt nội bộ Hội Nông dân và xuất trình khi cần.

– Hội viên không được cho người khác mượn thẻ; Thẻ hội viên không còn giá trị khi hội viên không còn tham gia tổ chức Hội.

– Hội viên bị xóa tên thì thu hồi thẻ. Ban thường vụ Hội cơ sở có trách nhiệm thu hồi thẻ và báo cáo Hội cấp trên trực tiếp.

– Khi thẻ bị mất hoặc hư hỏng thì phải báo cho chi Hội biết; chi Hội lập danh sách và có văn bản báo cáo lên Hội cấp trên đề nghị cấp lại hoặc đổi thẻ hội viên.

1.4.8- Trách nhiệm của các cấp Hội trong việc phát và quản lý thẻ hội viên

a) Hội cơ sở: Lập danh sách hội viên được đề nghị cấp thẻ và làm thủ tục đề nghị Hội cấp trên trực tiếp xem xét phát thẻ hội viên, cấp lại thẻ hội viên bị mất hoặc bị hỏng. Sau khi có quyết định phát thẻ của cấp Hội có thẩm quyền, chi Hội tổ chức phát thẻ hội viên tại cuộc họp chi Hội hoặc tổ Hội.

b) Hội cấp trên trực tiếp của tổ chức Hội cơ sở: Chỉ đạo, hướng dẫn, xem xét và lập danh sách đề nghị ban thường vụ Hội cấp tỉnh cấp thẻ hội viên; lập danh sách hội viên được phát thẻ và quản lý sổ phát thẻ hội viên.

c) Hội Nông dân tỉnh, thành phố: Ra quyết định phát thẻ hội viên, cấp lại thẻ hội viên bị mất hoặc bị hỏng; tổ chức viết thẻ hội viên. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra Hội cấp dưới thực hiện việc phát và quản lý thẻ hội viên. Hằng năm báo cáo Trung ương ương Hội.

d) Đối với hội viên thuộc cấp huyện/cấp tỉnh/cấp trung ương quản lý thì cấp đó có trách nhiệm đề nghị hoặc quyết định cấp thẻ cho hội viên.

2. Điều 4. Nhiệm vụ của hội viên

– Thực hiện theo 3 nhiệm vụ quy định trong Điều lệ Hội.

– Hội viên sinh hoạt tại đâu thì có trách nhiệm đóng hội phí tại đó.

3. Điều 5: Quyền lợi của hội viên 3.1- Quyền ứng cử, đề cử, bầu cử (Khoản 3):

– Hội viên có quyền ứng cử để bầu vào ban chấp hành các cấp của Hội, dù hội viên đó là đại biểu hay không là đại biểu của đại hội.

– Việc ứng cử, đề cử, bầu cử thực hiện theo Quy chế bầu cử trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam.

– Người tự ứng cử, nhận đề cử và đề cử là đảng viên thực hiện theo Quy định của Đảng cộng sản Việt Nam.

– Đối với hội viên là sinh viên có đóng góp tích cực, hiệu quả cho hoạt động của Hội, khi tốt nghiệp loại giỏi hoặc xuất sắc thì được các cấp Hội giới thiệu để dự thi tuyển vào các cơ quan chuyên trách của Hội Nông dân ở các cấp theo quy định khi có nhu cầu.

4. Điều 6: Nguyên tắc tổ chức và hoạt động 4.1- Nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của cơ quan lãnh đạo Hội các cấp

– Hội Nông dân Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ; thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên.

– Hội nghị ban chấp hành, ban thường vụ chỉ hợp lệ khi có mặt hai phần ba (2/3) số uỷ viên được triệu tập trở lên. Nghị quyết ban chấp hành, ban thường vụ chỉ có giá trị khi quá một phần hai (1/2) tổng số uỷ viên ban chấp hành hay ban thường vụ được triệu tập biểu quyết đồng ý.

Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Thành viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu ý kiến và được báo cáo với Hội cấp trên trực tiếp. Khi chưa có ý kiến của Hội cấp trên trực tiếp, thành viên đó phải chấp hành nghị quyết của tập thể và không được truyền bá ý kiến cá nhân và làm trái với nghị quyết. Khi thi hành, phải thực hiện nghị quyết của tập thể.

4.2- Cơ quan lãnh đạo các cấp của Hội được bầu cử trực tiếp bằng phiếu kín.

Việc bầu cử thực hiện theo Quy chế bầu cử trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam.

– Trong trường hợp bầu không có số dư, khi bầu lần thứ nhất chưa đủ số lượng cần bầu, nếu đại hội hoặc hội nghị quyết định tiếp tục bầu lần thứ hai để bổ sung đủ số lượng còn thiếu, thì lựa chọn và giới thiệu nhân sự trong diện số dư mà ban chấp hành cấp triệu tập đại hội hoặc hội nghị đã chuẩn bị (nếu có); không giới thiệu nhân sự vừa bầu không trúng cử ở lần thứ nhất.

– Trường hợp những người bầu không trúng cử vào các cơ quan lãnh đạo của Hội các cấp tại Đại hội hoặc hội nghị thì ít nhất phải 6 tháng sau nếu đủ tiêu chuẩn, uy tín thì mới giới thiệu để bầu lại.

4.3- Công tác bầu cử của Hội

Thực hiện theo Quy chế bầu cử trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam.

4.3.1- Việc bỏ phiếu kín áp dụng trong các trường hợp:

a) Bầu ban chấp hành trong đại hội, bầu ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch hoặc bầu bổ sung ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ và chức danh chủ tịch, phó chủ tịch.

b) Bầu đại biểu đi dự đại hội Hội Nông dân cấp trên trực tiếp.

c) Bầu ủy viên ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra.

4.3.2 – Bầu cử tại Hội nghị ban chấp hành, hội nghị ủy ban kiểm tra

– Triệu tập phiên họp đầu tiên của ban chấp hành khóa mới là đồng chí chủ tịch hoặc phó chủ tịch khóa trước được bầu tái cử. Nếu chủ tịch và phó chủ tịch khóa trước không tái cử thì Đoàn chủ tịch đại hội chỉ định triệu tập viên là một đồng chí mới được bầu vào ban chấp hành, chủ trì phiên họp cho đến khi bầu xong chủ toạ hội nghị.

– Hội nghị ban chấp hành bầu ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch, ủy ban kiểm tra và chủ nhiệm ủy ban kiểm tra. Hội nghị ủy ban kiểm tra bầu phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra.

– Ban chấp hành có quyền quyết định số lượng ủy viên ban thường vụ, phó chủ tịch, ủy viên ủy ban kiểm tra, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra. Số lượng ủy viên ban thường vụ không quá một phần ba (1/3) ủy viên ban chấp hành; số lượng ủy viên ủy ban kiểm tra không nhiều hơn số lượng ủy viên ban thường vụ và thực hiện theo Đề án Ủy ban kiểm tra Hội Nông dân các cấp nhiệm kỳ 2018 – 2023 của Ban Thường vụ Trung ương Hội.

4.4- Quy trình, thủ tục công nhận kết quả bầu cử ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch

Ban chấp hành, ban thường vụ và chức danh chủ tịch, các phó chủ tịch Hội từ cấp tỉnh trở xuống phải được ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp công nhận.

– Trong vòng 15 ngày làm việc, ban thường vụ khóa mới báo cáo lên ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp các biên bản bầu cử ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch kèm theo danh sách trích ngang và tờ trình đề nghị công nhận kết quả bầu cử. Tờ trình do chủ tịch hoặc phó chủ tịch (đối với nơi chưa bầu chủ tịch) mới được bầu tại Hội nghị ban chấp hành lần thứ nhất ký.

– Đồng chí chủ tịch, phó chủ tịch điều hành và ký các văn bản theo thẩm quyền ngay sau khi công bố kết quả bầu cử tại đại hội. Riêng kiện toàn bổ sung tại hội nghị ban chấp hành được điều hành các công việc ngay, nhưng chỉ khi có quyết định chuẩn y của ban thường vụ Hội cấp trên thì đồng chí chủ tịch, phó chủ tịch mới được ký các văn bản theo thẩm quyền.

– Trường hợp phát hiện có sự vi phạm Điều lệ Hội và nguyên tắc, thủ tục bầu cử thì ban thường vụ cấp trên trực tiếp có quyền không công nhận kết quả bầu cử và chỉ đạo tiến hành bầu lại; hoặc thấy có một hoặc một số chức danh đã được bầu nhưng không đảm bảo nguyên tắc, tiêu chuẩn quy định thì có quyền không công nhận một hoặc một số chức danh đó.

– Trong vòng 15 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ của cấp dưới, ban thường vụ Hội cấp trên phải ra quyết định công nhận. Nếu không công nhận phải thông báo và nêu rõ lý do cho Hội cấp dưới biết bằng văn bản.

– Trường hợp đã có quyết định công nhận của ban thường vụ Hội cấp trên, sau đó mới phát hiện có sự vi phạm Điều lệ Hội và nguyên tắc, thủ tục bầu cử của Hội thì ban thường vụ cấp ra quyết định công nhận có quyền thu hồi và hủy quyết định công nhận đối với tất cả danh sách hoặc của một/một số người trong danh sách.

5. Điều 7: Hệ thống tổ chức của Hội

5.1- Hệ thống tổ chức Hội được thành lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước.

5.2- Tổ chức Hội được xác định tương đương với tổ chức Hội cơ sở được thành lập theo đơn vị hành chính là những tổ chức do ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện phối hợp với cơ quan có thẩm quyền thống nhất thành lập trong một số nông trường, lâm trường, hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ…mà thực hiện chức năng, nhiệm vụ tương đương Hội Nông dân cấp cơ sở, được cấp ủy cùng cấp và ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp đồng ý.

6. Điều 8: Đại hội Hội Nông dân các cấp 6.1- Đại biểu đại hội 6.1.1- Số lượng đại biểu (khoản 1):

Ban chấp hành cấp triệu tập đại hội xem xét, quyết định số lượng đại biểu dự đại hội căn cứ vào số lượng, đơn vị trực thuộc, số lượng hội viên và phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương trên cơ sở hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương Hội và ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp.

Ở những nơi có số lượng hội viên dưới 100 thì tổ chức đại hội toàn thể hội viên trừ trường hợp đặc biệt sẽ do ban chấp hành Hội cấp trên trực tiếp quyết định trên cơ sở thống nhất ý kiến với cấp ủy của cấp triệu tập đại hội.

– Ủy viên ban chấp hành thuộc cấp triệu tập đại hội ở đơn vị nào là đại biểu chính thức của đoàn đại biểu đơn vị đó. Đối với ủy viên ban chấp hành cơ cấu, không chuyên trách thì thuộc đoàn đại biểu của cơ quan Hội chuyên trách cấp triệu tập đại hội.

– Đại biểu do đại hội, hội nghị đại biểu cấp dưới bầu lên theo phân bổ số lượng của ban chấp hành cấp triệu tập đại hội. Ban chấp hành cấp triệu tập đại hội phân bổ số lượng đại biểu đại hội theo những căn cứ chủ yếu sau:

+ Số lượng hội viên.

+ Số lượng tổ chức Hội trực thuộc cấp đó.

+ Tính đặc thù, những đặc điểm về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, tôn giáo, dân tộc…

– Đại biểu chỉ định: Đại biểu chỉ định là những đại biểu do ban chấp hành cấp triệu tập đại hội quyết định ngoài số đại biểu đương nhiên và đại biểu bầu. Chỉ chỉ định những trường hợp cần thiết và phải bảo đảm tiêu chuẩn đại biểu. Không chỉ định những người đã bầu cử ở cấp dưới không trúng cử chính thức hoặc dự khuyết làm đại biểu của đại hội. Số lượng đại biểu được chỉ định không quá 5% số lượng đại biểu chính thức của đại hội.

6.1.3- Bầu đại biểu chính thức và đại biểu dự khuyết dự đại hội cấp trên

Việc bầu cử đại biểu dự đại hội cấp trên (cả chính thức và dự khuyết) thực hiện theo Quy chế bầu cử trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam.

6.1.4- Thay thế đại biểu

Việc chuyển đại biểu dự khuyết thành đại biểu chính thức do ban thường vụ cấp triệu tập đại hội quyết định.

– Nguyên tắc thay thế đại biểu:

+ Đại biểu dự khuyết được bầu thuộc đoàn đại biểu nào thì được thay thế đại biểu chính thức của đoàn đại biểu đó.

+ Đại biểu dự khuyết được chuyển thành đại biểu chính thức theo thứ tự số phiếu bầu từ cao xuống thấp; nếu phiếu bầu bằng nhau thì người có thành tích nổi trội, có quá trình cống hiến cho tổ chức Hội và phong trào nông dân nhiều hơn sẽ được ưu tiên lựa chọn và trên cơ sở có tính đến yếu tố cơ cấu của đề án đoàn đại biểu.

– Khi đại biểu chính thức đã được bầu tại đại hội vắng mặt có lý do chính đáng thì đại biểu dự khuyết thay thế. Ban thường vụ Hội nơi có sự thay đổi đại biểu phải có tờ trình báo cáo lý do và đề cử đại biểu dự khuyết thay thế gửi ban thường vụ Hội cấp triệu tập đại hội và phải được ban thường vụ Hội cấp triệu tập đại hội đồng ý bằng văn bản.

Trường hợp đã thay thế hết số đại biểu dự khuyết mà số đại biểu chính thức đã được bầu vẫn thiếu, nếu cần thiết thì ban chấp hành cấp triệu tập đại hội xem xét, quyết định chỉ định bổ sung theo đề nghị của ban thường vụ Hội cấp dưới nhưng với điều kiện tổng số đại biểu chỉ định vẫn nằm trong giới hạn tỉ lệ 5% so với tổng số đại biểu được triệu tập.

6.1.5- Bác tư cách đại biểu

Đại hội cấp triệu tập có trách nhiệm xem xét bác bỏ tư cách đại biểu trong các trường hợp sau:

– Đại biểu đang trong thời gian bị cơ quan pháp luật khởi tố, truy tố. Đại biểu được bầu đang trong thời gian bị thi hành kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên.

– Đại biểu được bầu không đúng quy định của Điều lệ Hội.

– Trong thời gian đang diễn ra đại hội, đại biểu vi phạm pháp luật hoặc vi phạm nội quy đại hội gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức Hội.

6.2- Về kéo dài hoặc rút ngắn thời gian nhiệm kỳ đại hội (khoản 4)

– Các trường hợp đặc biệt có thể tổ chức đại hội sớm hoặc muộn hơn nhưng không được quá một năm (mười hai tháng), bao gồm:

Khi có thay đổi địa giới hành chính (chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc thành lập mới) theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp có quyền quyết định điều chỉnh thời gian nhiệm kỳ đại hội lần thứ nhất để phù hợp với thời gian nhiệm kỳ đại hội Hội cùng cấp trong cả hệ thống Hội. Nhiệm kỳ của tổ chức Hội mới không nhất thiết phải đủ 5 năm.

– Ban Thường vụ Trung ương Hội xem xét, quyết định kéo dài, rút ngắn nhiệm kỳ đại hội Hội cấp tỉnh khi cần. Ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh xem xét, quyết định kéo dài, rút ngắn nhiệm kỳ đại hội Hội Nông dân cấp huyện và cấp cơ sở để phù hợp với nhiệm kỳ chung.

– Trước khi quyết định việc kéo dài hoặc rút ngắn thời gian nhiệm kỳ đại hội phải báo cáo và được sự đồng ý (bằng văn bản) của ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp và cấp ủy cùng cấp của cấp triệu tập đại hội.

6.3- Hội nghị đại biểu 6.3.1- Số lượng đại biểu:

Không nhiều hơn số lượng đại biểu của đại hội nhiệm kỳ. Việc phân bổ số lượng đại biểu của hội nghị đại biểu như căn cứ phân bổ số lượng đại biểu đại hội.

6.3.2- Thành phần đại biểu của Hội nghị đại biểu:

– Ủy viên ban chấp hành cấp triệu tập hội nghị không bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên mà chưa hết thời hạn áp dụng (Kể cả kỷ luật đảng, chính quyền, đoàn thể).

– Các đại biểu do ban chấp hành cấp dưới cử lên, gồm:

+ Cán bộ chủ chốt của ban chấp hành cấp dưới.

+ Một số cán bộ Hội chuyên trách, không chuyên trách.

+ Hội viên tiêu biểu.

7. Điều 9: Ban chấp hành Hội Nông dân các cấp 7.1- Xây dựng ban chấp hành khóa mới (khoản 1)

Xây dựng ban chấp hành phải bảo đảm các yếu tố, tiêu chuẩn do Ban Chấp hành Trung ương Hội quy định.

7.1.2- Cơ cấu ban chấp hành

– Cán bộ chuyên trách, không chuyên trách, chủ chốt các cấp Hội; nhà khoa học, giám đốc hợp tác xã/chủ tịch Hội đồng quản trị hợp tác xã, chủ trang trại, hội viên tiêu biểu có điều kiện và khả năng hoàn thành nhiệm vụ.

– Chú trọng cán bộ trưởng thành từ phong trào nông dân, từ cơ sở. Đảm bảo tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ trẻ, cán bộ khoa học kỹ thuật, kinh tế, xã hội…

– Những cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị – xã hội, các doanh nghiệp, nếu có đủ điều kiện và tín nhiệm, được cấp uỷ Đảng và ban chấp hành Hội cùng cấp giới thiệu thì được đề cử để đại hội bầu vào ban chấp hành hoặc hội nghị ban chấp hành bầu bổ sung vào ban chấp hành Hội các cấp.

7.1.3- Số lượng ủy viên ban chấp hành Hội các cấp

– Trước mỗi kỳ Đại hội căn cứ vào chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Hội, Ban Thường vụ Trung ương Hội hướng dẫn cụ thể việc chuẩn bị và tiến hành đại hội hội nông dân các cấp, trong đó có quy định về số lượng (tối đa, tối thiểu) của ban chấp hành các cấp. Ban chấp hành Hội Nông dân cấp tỉnh căn cứ vào hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương Hội để cụ thể hoá và hướng dẫn ban chấp hành Hội Nông dân cấp dưới thực hiện.

– Số lượng uỷ viên ban chấp hành cấp nào do đại hội cấp đó quyết định, nhưng phải đảm bảo số lượng tối thiểu và không vượt quá số lượng tối đa do ban thường vụ cấp trên trực tiếp hướng dẫn.

7.2- Bổ sung ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch (khoản 2)

Chỉ bổ sung ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch khi khuyết các chức danh đó.

7.2.1- Các trường hợp bầu bổ sung

– Bầu chưa đủ số lượng do đại hội hoặc hội nghị quyết định.

– Khi ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch nghỉ hưu, nghỉ công tác, chuyển công tác (không thuộc cơ cấu ban chấp hành, ban thường vụ), bị kỷ luật cách chức hoặc vì lý do cá nhân khác xin rút tên.

– Trong trường hợp khi sáp nhập, hợp nhất số ủy viên ban chấp hành khuyết so với đề án thì có thể xem xét để bầu bổ sung.

7.2.2- Nguyên tắc bầu bổ sung

– Bầu bổ sung ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch phải đảm bảo đúng cơ cấu, số lượng và tiêu chuẩn đã được đại hội hoặc hội nghị thông qua.

– Trước khi bầu bổ sung uỷ viên ban chấp hành, uỷ viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch ở mỗi cấp, ban thường vụ cấp đề nghị phải có văn bản báo cáo cụ thể và phải được sự thống nhất, đồng ý của cấp ủy cùng cấp theo quy định phân cấp quản lý cán bộ và ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp bằng văn bản. Văn bản đề nghị kiện toàn, bổ sung cần ghi rõ lý do bổ sung.

– Bổ sung người chưa là ủy viên ban chấp hành vào ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch của cấp đó: ban chấp hành tiến hành bầu bổ sung người đó vào ban chấp hành sau đó bầu vào ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch.

– Trong cùng một cuộc họp, người vừa được bầu bổ sung trúng cử vào ban chấp hành được quyền ứng cử, đề cử và bầu cử các chức danh khác tại cuộc họp đó.

Quy trình, thủ tục, hồ sơ kiện toàn nhân sự và công nhận kết quả bầu cử ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch

Bước 2: Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét, cho ý kiến và trả lời bằng văn bản.

Bước 3: Khi có ý kiến đồng ý của cấp ủy cùng cấp và ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp, ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung triệu tập hội nghị ban chấp hành và tiến hành bầu bổ sung các chức danh theo quy định.

Bước 4: Ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung hoàn thiện thủ tục, hồ sơ trình ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định công nhận.

* Hồ sơ kiện toàn: – Hồ sơ xin chủ trương kiện toàn, bổ sung nhân sự

+ Tờ trình của ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung xin chủ trương kiện toàn ban chấp hành, ban thường vụ (cần nêu rõ lý do và tình hình ban chấp hành, ban thường vụ ở thời điểm kiện toàn).

+ Danh sách trích ngang nhân sự cụ thể.

+ Đối với nhân sự là ủy viên ban thường vụ phải có thêm lý lịch theo mẫu 2C/TCTW-98 của Ban Tổ chức Trung ương quy định.

– Hồ sơ đề nghị công nhận các chức danh kiện toàn, bổ sung

+ Tờ trình của ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung đề nghị công nhận chức danh kiện toàn.

+ Trích biên bản Hội nghị ban chấp hành (phần điều hành kiện toàn nhân sự).

+ Biên bản kiểm phiếu bầu từng chức danh.

Bước 2: Thực hiện quy trình công tác cán bộ theo quy định, có thể thực hiện một trong các trường hợp sau:

– Căn cứ giới thiệu của ban thường vụ cấp ủy về nhân sự cụ thể để thực hiện quy trình kiện toàn.

– Tùy theo tình hình thực tế của địa phương, tổ chức Đảng, ban thường vụ Hội Nông dân cấp kiện toàn có thể lựa chọn nhân sự phù hợp để tham mưu với cấp ủy cho thực hiện quy trình công tác cán bộ.

Bước 3: Sau khi có phương án nhân sự cụ thể:

– Đối với Hội Nông dân các tỉnh, thành phố: Đảng đoàn Hội Nông dân tỉnh/thành phố tham mưu cho ban thường vụ tỉnh/thành ủy có văn bản trao đổi với Đảng đoàn Hội Nông dân Việt Nam về chủ trương và nhân sự cụ thể dự kiến kiện toàn chức danh chủ tịch, phó chủ tịch của Hội Nông dân tỉnh/thành phố.

– Đối với Hội Nông dân cấp huyện, cấp cơ sở: Ban thường vụ Hội Nông dân cấp huyện, cấp cơ sở tham mưu cho cấp ủy cùng cấp có văn bản trao đổi với ban thường vụ Hội Nông dân cấp trên về chủ trương và nhân sự cụ thể dự kiến kiện toàn chức danh chủ tịch, phó chủ tịch của cấp huyện hoặc cấp xã.

Bước 4: Trên cơ sở chỉ đạo của cấp ủy cùng cấp và ý kiến đồng ý bằng văn bản về chủ trương kiện toàn nhân sự của Đảng đoàn (hoặc ban thường vụ) Hội cấp trên trực tiếp, ban thường vụ Hội Nông dân nơi kiện toàn triệu tập hội nghị ban chấp hành tiến hành bầu bổ sung các chức danh theo quy định.

Bước 5: Ban thường vụ Hội Nông dân nơi kiện toàn hoàn thiện thủ tục, hồ sơ trình ban thường vụ cấp trên trực tiếp xem xét quyết định công nhận.

* Hồ sơ đề nghị kiện toàn và công nhận các chức danh: – Hồ sơ xin ý kiến kiện toàn, bổ sung nhân sự:

+ Đề nghị cấp ủy có văn bản gửi Đảng đoàn (đối với trung ương, tỉnh, thành phố), ban thường vụ Hội Nông dân (đối với cấp huyện, cấp xã) trao đổi về công tác cán bộ để thống nhất chủ trương và nhân sự cụ thể kiện toàn chức danh chủ tịch, phó chủ tịch (Kèm theo trích ngang lý lịch nhân sự dự kiến giới thiệu).

+ Tờ trình của ban thường vụ Hội Nông dân nơi kiện toàn gửi ban thường vụ Hội Nông dân cấp trên trực tiếp báo cáo tình hình ban chấp hành, ban thường vụ, nhân sự chủ tịch, phó chủ tịch. Trên cơ sở đó, xin ý kiến và chủ trương kiện toàn chức danh chủ tịch, phó chủ tịch (Kèm theo sơ yếu lý lịch cán bộ theo mẫu 2C/TCTW-98; Văn bản điều động, phân công công tác của cấp ủy đối với nhân sự được luân chuyển (nếu có).

– Hồ sơ đề nghị công nhận chức danh được kiện toàn, bổ sung

+ Tờ trình của ban thường vụ Hội Nông dân nơi kiện toàn đề nghị công nhận chức danh được kiện toàn, bổ sung.

+ Trích biên bản Hội nghị ban chấp hành (phần điều hành kiện toàn nhân sự).

+ Biên bản kiểm phiếu bầu từng chức danh.

7.3- C hỉ định ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch và phó chủ tịch các cấp Hội (khoản 3):

– Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp chỉ định ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ và các chức danh chủ chủ tịch, phó chủ tịch trong trường hợp tổ chức Hội mới được thành lập hoặc được thành lập mới do có sự thay đổi về địa giới hành chính như chia tách, sáp nhập, hợp nhất trong nhiệm kỳ; chỉ đạo xây dựng hoặc bổ sung nhiệm vụ mới cho phù hợp.

– Trong trường hợp thực hiện kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ ở cơ sở theo chỉ đạo của cấp ủy, số lượng ủy viên ban chấp hành Hội cấp xã hoặc của chi Hội còn dưới 50% so với tổng số ủy viên ban chấp hành theo Đề án được Đại hội thông qua, thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp huyện có quyền chỉ định bổ sung ủy viên ban chấp hành Hội Nông dân cấp xã; ban thường vụ Hội Nông dân cấp xã có quyền chỉ định bổ sung ủy viên ban chấp hành chi Hội. Số lượng ủy viên ban chấp hành cấp xã hoặc của chi Hội sau khi đã được chỉ định bổ sung không được vượt quá 2/3 tổng số ủy viên ban chấp hành theo đề án đã được đại hội thông qua.

Quy trình chỉ định

– Trường hợp chia tách, ban thường vụ Hội khóa đương nhiệm nơi có sự thay đổi về địa giới hành chính báo cáo về dự kiến nhân sự phù hợp với cơ cấu tổ chức mới với Hội cấp trên trực tiếp sau khi có sự thống nhất của cấp ủy cùng cấp; ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp làm việc với ban chấp hành khóa đương nhiệm và cấp ủy nơi có sự thay đổi về địa giới hành chính dự kiến nhân sự để chỉ định.

– Trường hợp sáp nhập, hợp nhất hoặc thành lập mới tổ chức Hội, ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp làm việc với ban chấp hành Hội và cấp ủy của các tổ chức Hội được sáp nhập, hợp nhất hoặc thành lập mới.

– Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp ra quyết định chỉ định ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch và phó chủ tịch.

7.4- Việc đương nhiên không còn là ủy viên ban chấp hành; cho rút tên khỏi ban chấp hành, ban thường vụ, thôi giữ chức danh chủ tịch, phó chủ tịch (khoản 5, 6):

– Uỷ viên ban chấp hành có quyết định nghỉ hưu hoặc có thông báo nghỉ công tác (kể từ thời điểm quyết định nghỉ hưu hoặc thông báo nghỉ công tác có hiệu lực thi hành) thì đương nhiên không còn là uỷ viên ban chấp hành và các chức vụ khác do ban chấp hành bầu.

– Uỷ viên ban chấp hành chuyển công tác khác mà vị trí công tác mới không thuộc thành phần cơ cấu tham gia ban chấp hành kể từ thời điểm quyết định chuyển công tác có hiệu lực thi hành thì đương nhiên không còn là uỷ viên ban chấp hành.

– Đối với ủy viên ban chấp hành chuyển công tác trong hệ thống Hội:

+ Trường hợp ủy viên ban chấp hành Hội cấp dưới (không là ủy viên ban chấp hành Hội cấp trên) khi chuyển công tác lên cơ quan chuyên trách Hội cấp trên thì đương nhiên thôi tham gia ban chấp hành Hội cấp dưới.

+ Trường hợp ủy viên ban chấp hành Hội cấp dưới đồng thời là ủy viên ban chấp hành Hội cấp trên nếu chuyển công tác lên cơ quan chuyên trách Hội cấp trên thì đương nhiên thôi tham gia ban chấp hành Hội cấp dưới; việc tham gia hay không tham gia ban chấp hành Hội cấp trên do ban chấp hành Hội cấp trên quyết định.

– Ủy viên ban chấp hành giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thuộc thành phần cơ cấu tham gia ban chấp hành khi có quyết định thôi giữ chức vụ cũng đương nhiên không còn là ủy viên ban chấp hành.

– Đối với người tham gia ban chấp hành nhiều cấp: Nếu bị kỷ luật cách chức hoặc rút tên khỏi ban chấp hành cấp dưới thì không còn là ủy viên ban chấp hành của các cấp trên.

– Đối với các chức danh chủ tịch, phó chủ tịch Hội các cấp trước khi cho rút tên hoặc thôi tham gia ban chấp hành phải báo cáo bằng văn bản và được sự đồng ý của cấp ủy đảng cùng cấp và Hội cấp trên trực tiếp.

– Nếu rút tên trong ban chấp hành thì không còn là ủy viên ban thường vụ và không còn giữ chức vụ chủ tịch, phó chủ tịch (nếu có). Nếu chỉ rút tên trong ban thường vụ thì không còn giữ chức vụ chủ tịch, phó chủ tịch (nếu có) nhưng vẫn còn là ủy viên ban chấp hành. Nếu chỉ thôi giữ chức vụ chủ tịch, phó chủ tịch thì vẫn còn là ủy viên ban thường vụ, uỷ viên ban chấp hành.

8. Khoản 4, Điều 10: Thành lập, chia tách, sáp nhập, chấm dứt hoạt động tổ chức Hội 8.1- Thành lập tổ chức Hội

a) Thẩm quyền: Việc thành lập tổ chức Hội do Hội cấp trên trực tiếp quyết định sau khi hiệp y chủ trương thống nhất với cấp ủy cùng cấp.

b) Quy trình, thủ tục:

– Cấp ủy Đảng nơi dự kiến thành lập tổ chức Hội gửi hồ sơ đến tổ chức Hội có thẩm quyền thành lập, gồm:

+ Văn bản đề nghị thành lập tổ chức Hội tại địa phương.

+ Đề án thành lập tổ chức Hội.

+ Dự thảo phương hướng hoạt động của tổ chức Hội trong thời gian lâm thời.

+ Danh sách trích ngang ban chấp hành lâm thời dự kiến chỉ định.

+ Lý lịch theo mẫu quy định đối với các chức danh ủy viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch.

+ Danh sách hội viên.

– Tổ chức Hội có thẩm quyền tiếp nhận và thẩm định hồ sơ; làm việc với cấp ủy nơi thành lập .

– Tổ chức Hội có thẩm quyền ra quyết định thành lập, phối hợp với cấp ủy tổ chức lễ công bố quyết định thành lập.

Lưu ý: Trong trường hợp Hội cấp trên có chủ trương thành lập Hội cấp dưới thì chủ động làm việc với cấp ủy cấp dưới để thống nhất chủ trương thành lập.

8.2- Chia tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội

a) Chia tách tổ chức Hội trong các trường hợp: Có sự chia tách đơn vị hành chính thành các đơn vị (như chia tách một tỉnh, huyện, xã thành nhiều tỉnh, huyện, xã) theo đó, tổ chức Hội thuộc các đơn vị này cũng chia tách thành hai hay nhiều tổ chức Hội.

b) Sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội trong các trường hợp: Có sự sáp nhập hoặc hợp nhất đơn vị hành chính thành một tổ chức Hội (như sáp nhập hoặc hợp nhất hai hay nhiều tỉnh, huyện, xã thành một tỉnh, huyện, xã) theo đó, tổ chức Hội thuộc các đơn vị này cũng sáp nhập, hợp nhất thành một tổ chức Hội.

Việc chia tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội có thể diễn ra đồng thời trong trường hợp chia tách các bộ phận của hai hay nhiều đơn vị hành chính để sáp nhập hoặc hợp nhất các bộ phận đó lại thành một đơn vị (như tách một hay nhiều huyện của hai hay nhiều tỉnh để thành lập tỉnh mới; tách một hay nhiều xã của hai hay nhiều huyện để thành lập một huyện mới; tách một hay nhiều thôn, ấp, bản của một hay nhiều xã để thành lập một xã mới) theo đó tổ chức Hội của những đơn vị này cũng được chia tách để sáp nhập, hợp nhất thành một tổ chức Hội mới.

Việc xác định cấp của tổ chức Hội được chia tách, sáp nhập, hợp nhất do Hội cấp trên trực tiếp quyết định.

c) Thẩm quyền quyết định chia tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội – Chia tách tổ chức Hội:

– Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét quyết định việc chia tách tổ chức Hội, sau khi thống nhất với cấp ủy Đảng của đơn vị chia tách.

– Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch của các tổ chức Hội mới chia tách.

– Sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội:

– Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét quyết định việc sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội sau khi thống nhất với cấp ủy Đảng của đơn vị mới sáp nhập, hợp nhất.

– Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch của các tổ chức Hội mới sáp nhập, hợp nhất

d) Hồ sơ chia tách; sáp nhập, hợp nhất gồm:

+ Văn bản đề nghị của ban thường vụ Hội nơi được chia tách hoặc sáp nhập, hợp nhất các tổ chức Hội gửi ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp.

+ Đề án chia tách hoặc sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội có ý kiến nhất trí của cấp ủy.

+ Bản sao quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc chia tách hoặc sáp nhập, hợp nhất đơn vị hành chính.

b) Quy trình, thủ tục chấm dứt hoạt động:

– Ban chấp hành tổ chức Hội đơn vị có nhu cầu chấm dứt hoạt động báo cáo thực trạng công tác Hội và phong trào nông dân, tình hình tổ chức Hội của đơn vị mình đồng thời đề xuất phương án giải quyết với Hội cấp trên trực tiếp và cấp ủy cùng cấp.

– Có văn bản đề nghị được chấm dứt hoạt động gửi ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp.

– Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp làm việc với ban chấp hành tổ chức Hội nơi muốn chấm dứt hoạt động và cấp ủy trực tiếp quản lý, xác định rõ lý do chấm dứt hoạt động; đồng thời báo cáo cấp ủy cùng cấp về phương án giải quyết.

a) Cấp chuyển giao, tiếp nhận:

Chuyển giao và tiếp nhận một tổ chức Hội được tiến hành khi có sự thay đổi địa giới hành chính.

– Ban thường vụ Hội cơ sở chuyển giao, tiếp nhận chi hội.

– Ban thường vụ Hội cấp huyện chuyển giao, tiếp nhận Hội cơ sở.

b) Thủ tục chuyển giao và tiếp nhận:

– Ban thường vụ Hội cấp tỉnh chuyển giao, tiếp nhận Hội cấp huyện.

– Công văn đề nghị của tổ chức Hội chuyển đi gửi ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp và cấp Hội tiếp nhận

– Công văn của Hội cấp trên trực tiếp có tổ chức Hội chuyển đi gửi cấp Hội tiếp nhận.

– Danh sách ban chấp hành, cán bộ Hội chuyên trách.

– Báo cáo số lượng, chất lượng hội viên.

c) Nội dung chuyển giao và tiếp nhận:

– Quyết định của cấp Hội có trách nhiệm tiếp nhận.

– Tình hình tư tưởng của cán bộ, hội viên

– Công tác tổ chức cán bộ.

– Những nhiệm vụ công tác đang tiến hành cần tiếp tục giải quyết.

8.5- Giải thể tổ chức Hội

– Các loại văn bản, sổ sách.

a) Trường hợp áp dụng: Khi các đơn vị đã giải thể về mặt hành chính theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

c) Quy trình, thủ tục giải thể tổ chức Hội:

b) Thẩm quyền: Cấp nào có thẩm quyền quyết định thành lập thì cấp đó có thẩm quyền ra quyết định giải thể và báo cáo Hội cấp trên trực tiếp.

– Tổ chức Hội phải giải thể có văn bản báo cáo cấp ủy đảng về việc đề nghị giải thể.

– Hội cấp trên trực tiếp xem xét, làm việc với tổ chức Hội và cấp ủy đảng thống nhất chủ trương.

+ Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp ban hành quyết định giải thể.

8.6- Cách tính nhiệm kỳ của tổ chức Hội thành lập mới, chia tách, sáp nhập, hợp nhất a) Thành lập mới, sáp nhập, hợp nhất:

Trong trường hợp Hội cấp dưới không chủ động thực hiện quy trình giải thể tổ chức Hội, Hội cấp trên có quyền làm việc với cấp ủy cấp dưới để thống nhất chủ trương giải thể tổ chức Hội.

Nhiệm kỳ (không nhất thiết phải đủ 5 năm) được tính từ thời điểm tiến hành đại hội, số thứ tự đại hội được tính là lần thứ nhất (trừ trường hợp sáp nhập tổ chức Hội cấp thấp hơn trở thành một bộ phận của tổ chức Hội cấp trên thì số thứ tự được tính theo nhiệm kỳ của tổ chức Hội cấp trên).

b) Chia tách:

Trường hợp sáp nhập 02 tổ chức Hội trở lên cùng cấp, có số nhiệm kỳ bằng nhau thì số nhiệm kỳ của tổ chức Hội mới được sáp nhập được giữ nguyên.

– Các đơn vị không thay đổi tên gọi và cấp Hội thì nhiệm kỳ đại hội và số thứ tự đại hội được giữ nguyên.

– Các đơn vị thành lập với tên gọi mới và mô hình tổ chức bộ máy có sự thay đổi thì nhiệm kỳ được tính từ thời điểm tiến hành đại hội. Số thứ tự đại hội được tính là lần thứ nhất.

– Các đơn vị thay đổi tên gọi nhưng mô hình tổ chức bộ máy không có sự thay đổi thì nhiệm kỳ đại hội và số thứ tự đại hội được giữ nguyên, không thay đổi.

9. Điều 11: Tổ chức cơ sở Hội

8.7- Đối với chi Hội, tổ Hội: Ban thường vụ Hội cơ sở hoặc cấp trên trực tiếp quản lý quyết định việc thành lập, chia tách, sáp nhập, hợp nhất, chấm dứt hoạt động, giải thể chi hội trực thuộc. Quy trình được thực hiện như cấp cơ sở.

9.1– Cơ sở Hội là nền tảng của Hội, là cấp trên trực tiếp của chi Hội, là nơi trực tiếp với hội viên, nông dân; đoàn kết, tập hợp, vận động, hướng dẫn hội viên nông dân tương trợ, giúp đỡ nhau thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao đời sống; là nơi trực tiếp thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, các phong trào của Hội.

– Cơ sở Hội được thành lập theo đơn vị hành chính (xã, phường, thị trấn).

– Tổ chức Hội tương đương cấp cơ sở: Đối với những tổ chức Hội có tính chất đặc thù về nhiệm vụ chính trị, về đối tượng hội viên như nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, có mối liên hệ với nhiều ngành, nhiều đơn vị trong công tác… ; nếu có nhu cầu và đủ điều kiện, được sự thống nhất của cấp uỷ cùng cấp và Hội cấp trên đồng ý thì thành lập tổ chức Hội tương đương Hội Nông dân cấp cơ sở và do ban thường vụ Hội Nông dân cấp huyện quyết định.

Nếu tổ chức Hội tương đương cấp cơ sở có sự thay đổi, không còn đủ các điều kiện quy định thì ban thường vụ Hội cấp huyện xem xét, quyết định lại cho phù hợp và báo cáo lên ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh.

9.2- Trường hợp đặc thù tổ chức Hội cấp dưới không còn tổ chức Hội cấp trên trực tiếp thì Hội cấp trên kế tiếp trực tiếp chỉ đạo tổ chức Hội cấp dưới đó. Cụ thể như sau:

– Tại các quận, thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh, không có tổ chức Hội mà vẫn có cơ sở Hội thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo và thống nhất với cấp uỷ của quận, thị, thành trực thuộc tỉnh để cử cán bộ theo dõi cơ sở Hội đó; việc công nhận uỷ viên ban chấp hành, ban thường vụ, chức danh chủ tịch, phó chủ tịch do ban thường vụ Hội cấp tỉnh quyết định.

– Trường hợp tổ chức Hội cấp cơ sở không còn mà vẫn còn chi Hội thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp huyện trực tiếp chỉ đạo và thống nhất với cấp uỷ của xã, phường, thị trấn cử cán bộ theo dõi chi Hội đó. Việc công nhận ban chấp hành, chi hội trưởng, chi hội phó do ban thường vụ Hội cấp huyện quyết định.

9.3- Quy trình, thủ tục thành lập tổ chức cơ sở Hội :

– Trường hợp cấp cơ sở Hội và quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh không còn tổ chức Hội mà còn chi Hội thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo và thống nhất với cấp uỷ xã, phường, thị trấn cử cán bộ theo dõi chi Hội đó. Việc công nhận ban chấp hành, chi hội trưởng, chi hội phó do ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh quyết định.

– Khi một đơn vị có đủ điều kiện và có nguyện vọng thành lập tổ chức cơ sở Hội, ban thường vụ Hội Nông dân cấp trên trực tiếp làm việc với cấp ủy nơi có nhu cầu thành lập để thống nhất về việc thành lập tổ chức cơ sở Hội, kết nạp hội viên, xem xét, lựa chọn nhân sự ban chấp hành, ban thường vụ và chức danh chủ chốt.

– Thủ tục:

+ Văn bản đề nghị thành lập của cấp uỷ nơi có nguyện vọng thành lập cơ sở Hội.

+ Đề án mô hình tổ chức cơ sở Hội và nhân sự cơ quan lãnh đạo mới.

+ Danh sách hội viên (nếu có); danh sách và đơn xin tham gia tổ chức Hội của nông dân và lao động khác.

+ Danh sách trích ngang đề cử ban chấp hành, ban thường vụ và chức danh lãnh đạo.

– Ban Thường vụ Hội Nông dân cấp trên trực tiếp ra quyết định công nhận hội viên, quyết định thành lập tổ chức cơ sở Hội và chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ và chức danh lãnh đạo của tổ chức Hội được thành lập.

10. Điều 13: Chi Hội

– Tổ chức lễ ra mắt và công bố quyết định thành lập.

10.1- Vai trò, vị trí của chi Hội: Chi Hội là đơn vị hành động, là tế bào của Hội và là hạt nhân nòng cốt đoàn kết, tập hợp hội viên, nông dân.

10.2- Mô hình tổ chức chi Hội: Chi Hội tổ chức theo thôn, ấp, bản, làng, khu phố phù hợp với địa bàn dân cư và sự lãnh đạo của chi bộ; theo hợp tác xã, theo nghề nghiệp; chi Hội có thể được thành lập trong các trường trung cấp, cao đẳng, đại học.

Chi Hội nghề nghiệp trực thuộc Hội cơ sở; chi Hội trong các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, trong các nhà khoa học, trí thức trẻ có thể trực thuộc cơ sở Hội hoặc cấp huyện/cấp tỉnh/cấp Trung ương quản lý.

Chi Hội có 100 hội viên trở lên thì được chia thành các tổ Hội theo địa bàn, đối tượng, tổ hợp tác, nghề nghiệp, sở thích. Chi Hội theo địa bàn dân cư nhưng hội viên sinh sống phân tán trên địa bàn rộng, đi lại khó khăn thì dưới 100 hội viên vẫn có thể chia thành các tổ Hội để thuận tiện cho việc sinh hoạt và tổ chức các hoạt động của Hội.

10.3- Quy trình, thủ tục thành lập chi Hội

Ngoài mô hình trên, tại các cơ sở Hội, có thể hình thành các câu lạc bộ, nhóm/tổ hội viên nông dân có tính chất đặc thù thuộc sự quản lý, điều hành của ban chấp hành cơ sở Hội hoặc của ban chấp hành chi Hội.

– Khi một đơn vị có đủ điều kiện và có nguyện vọng thành lập chi Hội, ban thường vụ Hội Nông dân cấp trên trực tiếp quản lý trao đổi thống nhất với cấp uỷ quản lý của nơi có nhu cầu thành lập chi Hội; đồng thời xin ý kiến chỉ đạo của cấp ủy cùng cấp để thống nhất về việc thành lập chi Hội, kết nạp hội viên, lựa chọn nhân sự cán bộ chi Hội (ban chấp hành, chi hội trưởng, chi hội phó).

– Thủ tục:

+ Văn bản của cấp uỷ đảng nơi có nguyện vọng thành lập chi Hội.

+ Danh sách trích ngang đề cử cán bộ chi Hội.

– Ban thường vụ Hội Nông dân cấp trên trực tiếp ra quyết định công nhận hội viên, quyết định thành lập chi Hội.

– Tổ chức lễ ra mắt và công bố quyết định thành lập.

Đại hội chi Hội: Chi Hội tổ chức đại hội toàn thể hội viên hoặc đại hội đại biểu hội viên (đối với chi Hội có trên 100 hội viên trở lên) để bầu ban chấp hành và bầu đại biểu đi dự đại hội cấp trên (nếu có). Ban chấp hành tổ chức hội nghị bầu chi hội trưởng, chi hội phó.

Trường hợp chi Hội có trên 100 hội viên mà vẫn có nguyện vọng tổ chức đại hội toàn thể hoặc chi Hội có dưới 100 hội viên nhưng muốn tổ chức đại hội đại biểu thì phải được sự đồng ý của cấp uỷ cùng cấp và Hội cấp trên trực tiếp. Số lượng đại biểu dự đại hội chi Hội (nếu là đại hội đại biểu), số lượng ban chấp hành, chi hội phó của chi hội do ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp quản lý hướng dẫn trên cơ sở được sự đồng ý của cấp ủy cùng cấp và Hội cấp trên trực tiếp. Số lượng chi hội phó có thể từ 1 – 3, tùy thuộc vào quy mô tổ chức và số lượng hội viên của từng chi Hội.

Ban chấp hành chi hội, chi hội trưởng, chi hội phó phải được ban thường vụ Hội cơ sở (hoặc ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp) ra quyết định công nhận.

10.5- Chi Hội họp định kỳ 3 tháng 01 lần, khi cần thiết có thể họp bất thường, ban chấp hành chi Hội họp định kỳ 01 tháng 01 lần, khi cần thiết có thể họp bất thường.

10.6– Nhiệm kỳ của chi Hội là 05 năm. Trường hợp đặc biệt có thể tổ chức sớm hơn hoặc muộn hơn nhưng không quá 12 tháng và phải được ban chấp hành cơ sở Hội (hoặc ban thường vụ Hội cấp trực tiếp quản lý) đồng ý.

Trong nhiệm kỳ, chi Hội được bầu bổ sung ban chấp hành, kiện toàn chi hội trưởng, chi hội phó khi khuyết nhân sự và không giới hạn số lần bầu bổ sung.

11. Điều 15: Tổ Hội

10.7– Ban thường vụ hội cấp trên trực tiếp chỉ định ủy viên ban chấp hành chi hội và các chức danh chi hội trưởng, chi hội phó trong trường hợp tổ chức Hội mới được thành lập hoặc được thành lập mới do có sự thay đổi về địa giới hành chính như chia tách, sáp nhập, hợp nhất trong nhiệm kỳ; chỉ đạo xây dựng hoặc bổ sung nhiệm vụ mới cho phù hợp.

– Tổ Hội là đơn vị trực thuộc chi Hội, thành lập trên cơ sở các hội viên có cùng địa giới hành chính, điều kiện công tác, học tập, lao động, sản xuất, kinh doanh, nghề nghiệp, đơn vị kinh tế, tổ hợp tác phù hợp và thuận tiện cho việc sinh hoạt, hoạt động của chi Hội. Tổ Hội có thể thành lập trong các trường trung cấp, cao đẳng, đại học khi có đủ kiện về số lượng hội viên và được sự đồng ý của cấp ủy và ban lãnh đạo nhà trường.

Tổ Hội trong các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, trong các nhà khoa học, trí thức trẻ có thể trực thuộc cơ sở Hội hoặc cấp huyện/cấp tỉnh/cấp trung ương quản lý.

12. Điều 17: Công tác kiểm tra

– Tổ Hội có tổ trưởng và 1 – 2 tổ phó do hội viên bầu ra. Số lượng tổ phó do chi Hội quyết định trên sơ sở tình hình thực tế và điều kiện cụ thể của từng tổ Hội và phải được ban thường vụ Hội cơ sở (hoặc ban thường vụ Hội cấp quản lý trực tiếp) đồng ý. Tổ Hội họp 01 tháng 01 lần.

13. Điều 18, 19, 20: Ủy ban kiểm tra của Hội

Thực hiện theo Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Hội do Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam ban hành.

13.1- Việc lập ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp cơ sở và công nhận ủy ban kiểm tra:

13.2- Về tổ chức bộ máy giúp việc ủy ban kiểm tra:

Thực hiện theo Đề án Ủy ban kiểm tra Hội Nông dân các cấp; Hướng dẫn quy trình lập Ủy ban Kiểm tra Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp cơ sở nhiệm kỳ 2018 – 2023.

13.3- Về nhiệm vụ, quyền hạn, nguyên tắc, chế độ làm việc của ủy ban kiểm tra:

Thực hiện theo Đề án Ủy ban kiểm tra Hội Nông dân các cấp và Đề án cơ quan giúp việc Ủy ban kiểm tra Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.

– Về nhiệm vụ, quyền hạn, nguyên tắc làm việc của ủy ban kiểm tra: Thực hiện theo Đề án Ủy ban Kiểm tra Hội Nông dân các cấp; Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Hội, Ủy ban Kiểm tra Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp cơ sở; Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Hội.

13.4- Việc bổ sung và cho rút tên ủy viên, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra hội nông dân các cấp: 13.4.1- Bổ sung ủy viên, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra a. Các trường hợp bầu bổ sung

– Về chế độ làm việc của ủy ban kiểm tra: Ủy ban Kiểm tra Trung ương Hội, ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện họp thường kỳ 6 tháng 1 lần, khi cần thiết thực hiện nhiệm vụ có thể họp đột xuất do thường trực ủy ban quyết định. Ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cấp cơ sở họp thường kỳ 01 tháng 01 lần, khi cần thiết thực hiện nhiệm vụ có thể họp đột xuất do thường trực ủy ban quyết định. Thường trực ủy ban kiểm tra gồm chủ nhiệm, các phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra. Hội nghị ủy ban kiểm tra chỉ hợp lệ khi có ít nhất hai phần ba (2/3) số ủy viên ủy ban kiểm tra được triệu tập có mặt; các kết luận, quyết định của ủy ban kiểm tra phải được trên 50% số ủy viên ủy ban kiểm tra được triệu tập đồng ý.

– Bầu chưa đủ số lượng do hội nghị ban chấp hành quyết định.

b. Nguyên tắc bầu bổ sung

– Khi ủy viên ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra nghỉ hưu, nghỉ công tác, chuyển công tác, bị kỷ luật cách chức hoặc vì lý do cá nhân khác xin rút tên.

– Bầu bổ sung ủy viên, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra phải đảm bảo đúng thành phần, cơ cấu, số lượng và tiêu chuẩn đã được hội nghị ban chấp hành thông qua.

c. Quy trình, hồ sơ kiện toàn nhân sự và công nhận kết quả bầu cử ủy viên, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra * Quy trình

– Trước khi bầu bổ sung uỷ viên, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra ở mỗi cấp, ban thường vụ cấp đề nghị phải có văn bản báo cáo cụ thể với ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp bằng văn bản. Đối với nhân sự chủ nhiệm ủy ban kiểm tra phải được sự đồng ý của cấp ủy cùng cấp theo quy định phân cấp quản lý cán bộ. Văn bản đề nghị kiện toàn, bổ sung cần ghi rõ lý do bổ sung.

Bước 2: Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét và trả lời bằng văn bản.

Bước 3: Khi có ý kiến đồng ý của cấp ủy cùng cấp và ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp, Hội Nông dân cấp bầu bổ sung triệu tập hội nghị ban chấp hành cùng cấp và tiến hành bầu bổ sung các chức danh theo quy định.

Bước 4: Ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung hoàn thiện hồ sơ trình ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định công nhận.

* Hồ sơ kiện toàn – Hồ sơ xin chủ trương kiện toàn, bổ sung nhân sự:

Bước 5: Báo cáo cấp ủy cùng cấp, ban thường vụ và ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cấp trên.

+ Tờ trình của ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung xin chủ trương kiện toàn ủy ban kiểm tra (cần nêu rõ lý do và tình hình ủy ban kiểm tra ở thời điểm kiện toàn).

+ Danh sách trích ngang nhân sự cụ thể.

– Hồ sơ đề nghị công nhận các chức danh kiện toàn, bổ sung:

+ Đối với nhân sự là chủ nhiệm ủy ban kiểm tra phải gửi thêm lý lịch theo mẫu 2C/TCTW-98.

+ Tờ trình của ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung đề nghị công nhận chức danh kiện toàn.

+ Biên bản Hội nghị ban chấp hành về việc bầu ủy viên, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra.

+ Biên bản kiểm phiếu bầu từng chức danh.

13.4.2- Bổ sung phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra a. Các trường hợp bầu bổ sung

+ Danh sách trích ngang nhân sự cụ thể.

– Bầu chưa đủ số lượng do hội nghị ban chấp hành quyết định.

b. Nguyên tắc bầu bổ sung

– Khi phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra nghỉ hưu, nghỉ công tác, chuyển công tác, bị kỷ luật cách chức hoặc vì lý do cá nhân khác xin rút tên.

– Bầu bổ sung phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra phải đảm bảo đúng thành phần, cơ cấu, số lượng và tiêu chuẩn đã được hội nghị ban chấp hành thông qua.

c. Quy trình, hồ sơ kiện toàn nhân sự và đề nghị phê chuẩn chức danh phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra * Quy trình

– Trước khi bầu bổ sung phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra ở mỗi cấp, ủy ban kiểm tra phải có văn bản báo cáo cụ thể và được sự đồng ý của ban thường vụ cùng cấp trực tiếp bằng văn bản. Văn bản đề nghị kiện toàn, bổ sung cần ghi rõ lý do bổ sung.

Bước 1: Khi ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cấp nào khuyết phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra thì ủy ban kiểm tra cấp đó báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của ban thường vụ cùng cấp bằng văn bản.

Bước 2: Ban thường vụ cùng cấp căn cứ đề án ủy ban kiểm tra đã được thông qua tại hội nghị ban chấp hành, tiêu chuẩn cụ thể đối với chức danh phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra để xem xét, giới thiệu nhân sự bầu bổ sung chức danh phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra bằng văn bản.

Bước 3: Khi có văn bản của ban thường vụ cùng cấp, ủy ban kiểm tra cấp bầu bổ sung triệu tập hội nghị ủy ban kiểm tra và tiến hành bầu bổ sung chức danh theo quy định.

* Hồ sơ đề nghị phê chuẩn chức danh phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra được kiện toàn, bổ sung:

Bước 4: Ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cấp bầu bổ sung hoàn thiện hồ sơ trình ban thường vụ cùng cấp phê chuẩn chức danh phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra và báo cáo ủy ban kiểm tra hội cấp trên.

– Tờ trình của ủy ban kiểm tra cấp bầu bổ sung đề nghị phê chuẩn chức danh kiện toàn.

– Biên bản hội nghị ủy ban kiểm tra về việc bầu phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra.

– Biên bản kiểm phiếu bầu phó chủ nhiệm.

13.4.3- Việc đương nhiên không còn là ủy viên ủy ban kiểm tra; cho rút tên ủy viên ủy ban kiểm tra, thôi giữ chức danh chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra

– Danh sách trích ngang nhân sự cụ thể.

– Uỷ viên ủy ban kiểm tra có quyết định nghỉ hưu hoặc có thông báo nghỉ công tác (kể từ thời điểm quyết định nghỉ hưu hoặc thông báo nghỉ công tác có hiệu lực thi hành) thì đương nhiên không còn là uỷ viên ủy ban kiểm tra và các chức danh khác của ủy ban kiểm tra do ban chấp hành và ủy ban kiểm tra bầu.

– Đối với chức danh chủ nhiệm ủy ban kiểm tra trước khi cho rút tên khỏi danh sách ủy ban kiểm tra phải báo cáo và được sự đồng ý của cấp ủy cùng cấp và Ban Thường vụ Hội cấp trên trực tiếp.

14. Điều 21: Khen thưởng

– Nếu rút tên khỏi chức danh ủy viên ủy ban kiểm tra thì không còn giữ chức danh chủ nhiệm, phó chủ nhiệm (nếu có). Nếu chỉ rút tên khỏi chức danh chủ nhiệm hoặc phó chủ nhiệm thì vẫn còn là ủy viên ủy ban kiểm tra.

15. Điều 22: Kỷ luật

Thực hiện theo quy định về thi đua, khen thưởng trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam của Ban Thường vụ Trung ương Hội.

16. Điều 24: Quản lý, sử dụng tài chính của Hội

Thực hiện theo Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Hội do Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam ban hành.

Thực hiện theo quy định của Nhà nước và quy định của Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.

Hướng dẫn này được phổ biến trong toàn hệ thống Hội để thống nhất thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề gì chưa phù hợp các cấp Hội đề xuất, phản ánh về Trung ương Hội. Ban Chấp hành giao Ban Thường vụ Trung ương Hội xem xét sửa đổi, hướng dẫn bổ sung./.

Hội Nông Dân Tỉnh Nam Định / 2023

CƠ CẤU TỔ CHỨC HỘI NÔNG DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

Cơ quan Hội Nông dân tỉnh là cơ quan chuyên trách của Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh, có chức năng tham mưu giúp việc cho Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh trong lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng và tổ chức các hoạt động của Hội theo Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam; tham mưu cho Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về việc lãnh đạo tổ chức Hội và phong trào nông dân tỉnh.

I. Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Hội Nông dân tỉnh Nam Định: 1. Chức năng:

Cơ quan Hội Nông dân tỉnh là cơ quan chuyên trách của Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh, có chức năng tham mưu giúp việc cho Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh trong lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng và tổ chức các hoạt động của Hội theo Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam; tham mưu cho Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về việc lãnh đạo tổ chức Hội và phong trào nông dân tỉnh.

2. Nhiệm vụ:

– Giúp Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh điều hành, giải quyết công việc hàng ngày.

– Nghiên cứu, tham mưu cho Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh về chủ trương, nghị quyết, chương trình, kế hoạch công tác của Hội, phong trào nông dân ở địa phương; tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Hội theo quy định của Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam và các nhiệm vụ do cấp uỷ giao.

– Hướng dẫn, kiểm tra các cấp Hội ở địa phương trong việc thực hiện Điều lệ, Nghị quyết Đại hội, Nghị quyết Ban Chấp hành, chương trình, kế hoạch công tác của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và Hội Nông dân tỉnh.

– Tập hợp, đề xuất với Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh những tâm tư, nguyện vọng của hội viên, nông dân, kịp thời phản ánh với Tỉnh uỷ, UBND tỉnh để có chủ trương, biện pháp giải quyết.

– Xây dựng, củng cố tổ chức Hội vững mạnh; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ Hội các cấp. Xây dựng quản lý cơ sở vật chất và các nguồn tài chính bảo đảm điều kiện hoạt động của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh.

– Tham mưu trong việc quản lý nhân sự, thực hiện chính sách đối với cán bộ, hội viên theo quy định của pháp luật và Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam.II. Chức năng, nhiệm vụ của các ban chuyên môn:

1. Ban Tuyên huấn

– Nghiên cứu, tham mưu, đề xuất, xây dựng kế hoạch chỉ đạo và tổng hợp kết quả thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục cán bộ, hội viên nông dân về các chủ trương đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, chương trình công tác của Hội.

– Thực hiện tốt chương trình phối kết hợp với các cơ quan, ban ngành chức năng tuyên truyền, giáo dục vận động cán bộ, hội viên, nông dân.

* Nhiệm vụ

– Tham mưu nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của hội viên, nông dân; đề xuất giải pháp đảm bảo quyền và nghĩa vụ của nông dân.

– Tham mưu giúp Ban biên tập xây dựng và tổ chức phát hành cuốn Bản tin nông dân Nam Định hàng quý; duy trì các hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, cộng tác viên dư luận xã hội.

– Tổ chức hướng dẫn các nội dung công tác tuyên truyền, giáo dục của Hội. Vận động cán bộ, hội viên nông dân thực hiện nếp sống văn hoá và xây dựng gia đình nông dân đạt gia đình văn hoá.

– Tham mưu quản lý, khai thác sử dụng trang website của Hội, hệ thống mạng và phối hợp với Văn phòng tham gia vận hành thiết bị công nghệ thông tin của cơ quan.

– Phối hợp với các ngành chức năng thực hiện chương trình phối hợp như: Ban Dân tộc, Tôn giáo, An ninh quốc phòng và Ban tuyên huấn TW Hội; Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Quân sự, Bộ đội Biên phòng tỉnh, Công an tỉnh, Báo Nam Định, Đài phát thanh, truyền hình tỉnh, Sở Thông tin & truyền thông, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Ban Tôn giáo Sở Nội vụ và các đơn vị khác theo sự chỉ đạo của Thường trực.2. Ban Tổ chức – Kiểm tra

– Tham mưu cho Ban Chấp hành, Ban Thường vụ tỉnh Hội về công tác xây dựng, củng cố tổ chức Hội; công tác tổ chức bộ máy và cán bộ; công tác bảo vệ chính trị nội bộ; công tác kiểm tra việc thi hành Điều lệ Hội; giám sát và phản biện xã hội, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý; hoà giải, giải quyết khiếu nại, tố cáo của hội viên, nông dân.

– Phối hợp với các cơ quan, ban, ngành chức năng thực hiện tốt công tác tổ chức, kiểm tra.

– Tham mưu giúp Ban T hường vụ giải quyết các đơn thư, khiếu nại, tố cáo của hội viên nông dân; tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý cho nông dân.

– Tham mưu thực hiện, đảm bảo chế độ chính sách cho cán bộ, công chức viên chức cơ quan như: chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…

– Tham mưu giúp Ban Thường vụ triển khai các chương trình hành động VSTBPN nông dân tỉnh Nam Định.

– Hướng dẫn việc theo dõi, quản lý, phát triển hội viên; việc thu và sử dụng hội phí, quỹ hội. Tổng hợp, thống kê, lưu trữ tình hình tổ chức Hội (tỉnh, huyện, cơ sở); tham gia tiếp dân theo lịch của UBND tỉnh; hướng dẫn cán bộ, hội viên, nông dân thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cơ sở.

– Phối hợp với Ban Tổ chức, Ban Kiểm tra, Trường cán bộ TW Hội; Ban Tổ chức , Ủy ban kiểm tra, Ban Nội chính Tỉnh ủy, Sở Nội Vụ , T hanh tra tỉnh, Sở Tư pháp , và các đơn vị khác theo chỉ đạo của Thường trực tỉnh Hội.

3. Ban Kinh tế – Xã hội

– Tham mưu, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các nội dung, hình thức và biện pháp vận động nông dân thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế – xã hội theo Nghị quyết TW Hội và của Tỉnh ủy, BCH Hội Nông dân tỉnh.

– Phối kết hợp với các ngành chức năng tổ chức thực hiện các chương trình kinh tế – xã theo chức năng, nhiệm vụ của Hội.

– Tham mưu, đề xuất, xây dựng và tổ chức thực hiện kinh tế tập thể, kinh tế hộ, kinh tế trang trại, các mô hình, các dự án về kinh tế – xã hội của TW và của tỉnh.

– Tham mưu hướng dẫn và tổ chức thực hiện Nghị quyết của BCH HND tỉnh về tiếp tục nâng cao vai trò của Hội Nông dân tham gia xây dựng nông thôn mới.

– Vận động nông dân thực hiện phong trào sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết, giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững.

– Tham mưu triển khai chương trình phối hợp với Ban Kinh tế, Ban Xã hội, Trung tâm môi trường TW Hội; Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở LĐTB&XH, Sở Y Tế, Sở Khoa học & công nghệ, Sở Tài nguyên & Môi trường, Liên minh HTX tỉnh, Sở Giao thông vận tải và các đơn vị khác theo chỉ đạo của Thường trực tỉnh Hội.

4. Trung tâm dạy nghề và hỗ trợ nông dân

– Tham mưu, triển khai và thực hiện công tác dạy nghề và hỗ trợ nông dân tỉnh.

– Phối hợp các ngành tổ chức dạy nghề, tư vấn việc làm và dịch vụ hỗ trợ cho hội viên nông dân.

– Theo dõi, tổ chức thực hiện và quản lý trực tiếp các dự án 120 (vốn vay từ quỹ quốc gia GQVL) của Hội từ tỉnh tới cơ sở; xây dựng triển khai thực hiện các dự án, đề án của Hội. Kiểm tra, giám sát và đôn đốc thực hiện dự án, chỉ đạo việc sơ, tổng kết các dự án, đề án, chương trình theo quy định.

– Triển khai, tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác dạy nghề và phối hợp với các Ban, ngành Trung ương và địa phương dạy nghề cho nông dân theo Quyết định 1956 của Thủ tướng chính phủ.

– Tham mưu cho Ban Thường vụ, Ban điều hành Quỹ hỗ trợ nông dân tỉnh triển khai các hoạt động trong quản lý, điều hành, xây dựng và tăng trưởng Quỹ HTND các cấp trong tỉnh.

– Tham mưu, triển khai thực hiện Kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về việc tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Kế luận 61 của Ban Bí thư.

– Quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả Trung tâm dạy nghề và Hỗ trợ nông dân tỉnh Nam Định.

– Phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, các ngành, doanh nghiệp… tổ chức thực hiện tốt mối liên kết 4 nhà giúp nông dân vay vốn, tập huấn chuyển giao tiến bộ KHKT và dịch vụ vật tư cho sản xuất nông nghiệp.

– Triển khai các chương trình phối hợp với: Trung tâm hỗ trợ nông dân nông thôn, Quỹ HTND, Trường trung cấp dạy nghề TW Hội; Sở LĐTB&XH, Sở Nông nghiệp&PTNT và các nhiệm vụ khác do Thường trực phân công.

5. Văn phòng tổng hợp

– Tham mưu, tổng hợp cho BCH, Ban Thường vụ, Thường trực cơ quan triển khai công tác đảm bảo việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng, đường lối chính sách pháp luật của Nhà nước; đảm bảo cơ sở vật chất, công tác nội vụ của cơ quan hoạt động theo quy định của Nhà nước và của ngành; quản lý, triển khai thực hiện đảm bảo các nguồn lực tài chính của cơ quan, của ngành đáp ứng yêu cầu cho các nội dung công việc của BCH, BTV, cơ quan tỉnh Hội.

– Tổ chức thực hiện, phối hợp với các Ban chuyên môn, các cơ quan, đơn vị thực hiện các quyết định của BTV, BCH, lãnh đạo cơ quan, của ngành về các lĩnh vực xử lý thông tin, soạn thảo văn bản, quản lý tài chính, công tác nội vụ và công tác thi đua, khen thưởng.

* Nhiệm vụ

– Tham mưu xây dựng chương trình công tác của cơ quan hàng tuần, tháng, quý, năm. Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các chương trình công tác đã được phê duyệt.

– Thực hiện công tác Văn thư, Lưu trữ của ngành và của cơ quan, quản lý công tác quản trị mạng và công nghệ thông tin, quản lý và phát hành các văn bản đi, đến theo đúng quy định. Tham mưu, chuẩn bị các điều kiện cho việc tổ chức các cuộc họp của ngành và của cơ quan.

– Trực tiếp điều hành công tác hành chính, nội vụ, tham mưu giúp Thường trực điều hành thu, chi tài chính theo phân bổ dự toán ngân sách Nhà nước cấp cho các hoạt động của ngành;đảm bảo các điều kiện, phương tiện phục vụ cho hoạt động thường trực và các Ban chuyên môn.

– Tham mưu cho Ban Thường vụ xây dựng kế hoạch và hướng dẫn công tác thi đua, khen thưởng của ngành và của cơ quan.

– Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ theo sự uỷ quyền của thường trực; xây dựng cơ bản, quản lý, mua sắm, sửa chữa tài sản và các phương tiện làm việc; dự toán, quyết toán tài chính hàng tháng, quý, năm với ngân sách Nhà nước, đảm bảo công tác bảo vệ trật tự an toàn cơ quan; quản lý lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của cơ quan; tham mưu cho thường trực về công tác đối ngoại.

– Phối hợp triển khai các chương trình với Văn phòng TW Hội; Ban Dân vận. Văn phòng tỉnh ủy; MTTQ và các đoàn thể chính trị – xã hội của tỉnh và các đơn vị khác theo chỉ đạo của Thường trực phân công./.

Báo Cáo Ngày Hội Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc / 2023

Báo cáo toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa năm 2020

Báo cáo ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư

1. Nội dung cơ bản của báo cáo ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư:

BÁO CÁO TỔNG KẾT CUỘC VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT XDĐSVH Ở KH DÂN CƯ VÀ DỰ THẢO PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG NĂM …………

Thực hiện chương trình thống nhất hành động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện ………….. và chương trình công tác Mặt trận năm …….. của UBMT xã ………. Ban công tác Mặt trận khu dân cư Bắc Bình, báo cáo thành tích 5 năm thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” gắn với việc chung sức xây dựng nông thôn mới

A. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH

Làng văn hóa …………có lịch sử hình thành từ năm ……… ban đầu chỉ có ………. hộ sinh sống, trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử đến nay toàn thôn có …….. hộ gia đình với tổng số ……… nhân khẩu. Trong đó có ……. hộ thuộc diện chính sách, ……. liệt sĩ và …….. thương binh, có ……….. họ tộc. Tổng diện tích ……… ha trong đó đất nông nghiệp ………. ha, đất thổ cư …….. ha, đất lâm nghiệp ……….. ha. Bình quân đất nông nghiệp ………… m2/ khẩu. …………… là vùng đất ẩm thấp, thời tiết mưa nắng thất thường, mặt khác giá cả các loại vật tư phân bón, một số mặt hàng thiết yếu phục vụ cho sản xuất, đời sống tăng cao làm ảnh hưởng không ít đến việc sản xuất của bà con nhân dân. Nhưng dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của mặt trận cấp trên, sự lãnh đạo trực tiếp của Cấp ủy chi bộ, Ban công tác mặt trận đã phát huy trách nhiệm của mình, phối kết hợp với chính quyền thôn đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân ở khu dân cư tổ chức thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước các cuộc vận động. Bà con nhân dân ở khu dân cư đã đoàn kết, phát huy đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa bàn, khắc phục khó khăn để vươn lên, xây dựng khu dân cư ổn định và ngày càng phát triển khá về mọi mặt

B/NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC I/Phong trào đoàn kết xây dựng đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển, chung sức xây dựng nông thôn mới

Trong 5 năm qua thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ và các kế hoạch của HĐND, UBND xã và của Chi bộ về phát triển kinh tế xã hội, Ban công tác MT KDC đã cụ thể thành các chỉ tiêu nội dung phù hợp với tình hình để ký cam kết và tuyên truyền vận động bà con nhân dân thực hiện. Chủ động phát triển các mô hình kinh tế, ứng dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất, đầu tư thâm canh tăng năng suất sản lượng cây trồng vật nuôi

1/ Về trổng trọt

– Tổng diện tích lúa cả năm ……….. ha, tăng so với các năm ……. ha, riêng năm ………. tăng đến ………. ha. Năng suất bình quân …….. tạ/ha/ năm. Tăng so với các năm trước ………… tạ/ha

– Thực hiện đề án nâng cao hiệu quả vùng lạc của Huyện, đồng thời thôn áp dụng Công nghệ sinh học vào sản xuất được Huyện và Tỉnh chọn làm điểm nên diện tích đất trồng ……… đến nay có ………….. ha năng suất bình quân …………. tạ/ha tăng so với các năm trước …… tạ/ha. Đặc biệt hai năm ………………….. gieo trồng ………. ha ………….. có phủ bạt nilong cho năng suất cao ………… tạ/ha tăng so với năng suất……….. thường ……. tạ/ha.

Cây …………hiện có ……………. ha đang đi vào chăm sóc năm thứ 4 phát triển tốt

Là một thôn áp dụng Công nghệ sinh học lại có thêm lợi thế bải bồi ven sông nên bà con đầu tư phát triển các loại rau màu cho năng suất rất cao. Đặc biệt như cây ………………. bà con đã chuyển dịch bố trí hợp lí cơ cấu đúng thời vụ, phù hợp với chất đất mang lại thu nhập bình quân 2,5 – 3 triệu đồng/sào. Có nhiều hộ trồng 5 – 7 sào/vụ

2/ Về lâm nghiệp

Đã ổn định diện tích, đi vào chăm sóc 80 ha rừng của dự án Việt – Đức, nhờ vào phát triển trồng rừng nên có nhiều hộ có thu nhập khá, đã tu sữa nhà cửa khang trang sạch đẹp, mua sắm các phương tiện sinh hoạt đắt tiền

3/ Về chăn nuôi

Thực hiện Nghị quyết của Huyện ủy về cải tạo và phát triển chăn nuôi bò, vừa qua bà con thay đổi đàn bò cỏ địa phương bằng bò lai có năng suất cao, đến nay tổng đàn Bò có 145 con vượt so năm trước 38 con, trong đó bò lai có 32 con. Tỉ lệ tiêm phòng hàng năm đạt 80%.

Năm ………… trồng 2,5 ha cỏ các loại, năm …………….. đã mở rộng diện tích trồng cỏ lên đến 3 ha. Đặc biệt trong năm ….. thành lập được một Câu lạc bộ chăn nuôi Bò gồm 30 hộ, nhờ sự quan tâm của Phòng Nông Nghiệp Huyện và sự kết hợp giúp đỡ về kỉ thuật của trường Đại học Nông Nghiệp 2 – Huế, hướng dẫn có 21 hộ nuôi 29 con bò vỗ béo trong thời gian 3 tháng, tăng bình quân 30kg/con/tháng. Đây là một mô hình đem lại kết quả tốt cần nhân rộng

Các ngành nghề dịch vụ như: Nề, Mộc, rèn, thợ may, vận chuyển, dịch vụ buôn bán nhỏ trên địa bàn khu dân cư từng bước được phát triển, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho gia đình.

Thực hiện chủ trương xoá đói giảm nghèo, bà con nhân dân trong thôn đã đoàn kết quyên góp tiền để giúp đỡ khi có người bị tai nạn rủi ro đau ốm. Các tổ chức đoàn thể đã xây dựng nguồn quỹ để giúp nhau phát triển kinh tế xoá đói giảm nghèo

Nhờ làm tốt công tác phát triển kinh tế nên đời sống của bà con trong thôn từng bước được ổn định, thu nhập bình quân đầu người hiện nay ước đạt 13 triệu đồng/khẩu/năm, so năm ……………. là 11 triệu đồng/khẩu/năm. Hộ làm ăn khá ngày càng tăng, hộ nghèo năm …….. giảm còn 10,8%. So năm …….. = 12,6%

II/ Đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chăm lo sự nghiệp giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thực hiện dân số kế hoạch hóa gia đình

Ban công tác Mặt trận khu dân cư hàng năm đã tổ chức tốt việc đăng ký xây dựng gia đình văn hoá, tuyên dương gia đình văn hoá trong dịp Ngày hội đại đoàn kết 18/11, đồng thời thường xuyên truyên truyền vận động bà con tích cực thực hiện nên chất lượng xây dựng khu dân cư văn hóa, gia đình văn hóa được nâng cao. Qua bình xét chất lượng hàng năm đạt trên 85% hộ đạt gia đình văn hoá. Phối hợp với các đoàn thể vận động nhân dân ở khu dân cư tích cực tham gia xây dựng cơ sở vật chất và các thiết chế văn hoá cộng đồng, các công trình phục vụ sản xuất với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm. Bê tông hóa 350m kênh mương thủy lợi, 750m giao thông nội đồng, bà con đã hiến 1830m2 và trên 200 công lao động

Phong trào văn hóa văn nghệ thể dục thể thao luôn được tổ chức sôi nổi ở khu dân cư, tham gia Đại hội thể dục thể thao do Xã tổ chức đạt được nhiều giải thưởng đáng khích lệ, các trò chơi dân gian truyền thống được duy trì và tổ chức vào các dịp lễ hội. Ngoài ra khu dân cư còn tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ đón xuân nhân dịp tết cổ truyền và những ngày lễ lớn của quê hương đất nước, mang ý nghĩa thiết thực, để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong cán bộ và nhân dân

Phong trào xây dựng xã hội học tập, xã hội hoá giáo dục được phát động sâu rộng trong địa bàn dân cư. Trẻ đúng tuổi đi học được đưa đến trường. Hội khuyến học thôn và các ban khuyến học dòng họ duy trì hoạt động có hiệu quả. Các mô hình “Gia đình hiếu học” được phát triển và nhân rộng. Quỹ khuyến học hàng năm có từ 2,5 – 3 triệu đồng, số tiền này là do bà con trong thôn tự nguyện đóng góp. Nhờ có sự cổ vũ động viên trong việc học tập nên các cháu tiến bộ vượt khó vươn lên rõ rệt

Công tác dân số KHHGĐ thường xuyên được vận động, trẻ em trong độ tuổi đều được tiêm chủng đủ các mũi vắc xin phòng dịch, công tác khám sức khỏe cho nhân dân được duy trì, đặc biệt là chị em phụ nữ và hội người cao tuổi

III/ Đoàn kết xây dựng cảnh quan môi trường sạch đẹp

Công tác bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng được thường xuyên chú trọng, có 100% hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh, không để phát sinh lây lan các loại dịch bệnh trên địa bàn. Đã phân chia cho các hộ đảm nhận 3200m đường bê tông và đường đất nội thôn vệ sinh quét dọn, có 01 điểm thu gom rác thải, trên 95% số hộ có hố xí hợp vệ sinh, trong đó có 65 hộ có hố xí tự hoại kết hợp với phòng tắm chiếm 68,4%. Đã trồng cây lâu năm trong khuôn viên khu vui chơi để tạo cảnh quan môi trường Xanh – Sạch – Đẹp, đường làng ngõ xóm luôn được phát quang sạch sẽ, hiện nay đang vận động bà con mở rộng đường nội thôn trên 5m theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới

Tổ chức tốt các cuộc tiếp xúc giữa cử tri với đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp để phản ánh những tâm tư nguyện vọng và những bức xúc trong nhân dân đến các cấp chính quyền giải quyết

Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc và công tác quốc phòng luôn được nhân dân tham gia tích cực, làm tốt công tác động viên con em lên đường làm nghĩa vụ quân sự, thanh niên đến tuổi được đi khám tuyển và tham gia nghĩa vụ quân sự đầy đủ, không có người đào bỏ ngũ. Tổ chức lực lượng dân quân và An ninh thôn được củng cố, thường xuyên làm tốt nhiệm vụ tuần tra canh gác bảo vệ ANCT trật tự an toàn xã hội trên địa bàn khu dân cư. Nhờ vậy tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ vững, các tệ nạn xã hội được đẩy lùi, không có người vi phạm pháp luật, các mâu thuẩn nảy sinh trong nhân dân được tập trung giải quyết kịp thời, không để xảy ra tình trạng khiếu nại, khiếu kiện vượt cấp

Các tổ chức trong hệ thống chính trị ở khu dân cư được thường xuyên củng cố và hoạt động có hiệu quả:

Chi bộ Đảng có 6 đảng viên, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của chi bộ được nâng cao, thể hiện được vai trò hạt nhân lãnh đạo ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đề ra. Công tác phát triển đảng viên luôn được quan tâm

Công tác điều hành hoạt động của Ban thôn có hiệu quả, kịp thời triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước đến tận người dân

Ban mặt trận và các chi hội đoàn thể đều hoàn thành tốt nhiệm vụ đã được phân công

V/Đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong cộng đồng, phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn, đáp nghĩa”, “Tương thân, tương ái”

Hưởng ứng cuộc vận động ngày vì người nghèo do Mặt trận các cấp phát động, 5 năm qua khu dân cư đã vận động bà con đóng góp quỹ người nghèo và quỹ tình nghĩa đạt và vượt chỉ tiêu vận động. Thường xuyên thăm hỏi, động viên giúp đỡ các gia đình chính sách, thương binh liệt sỹ nhân các dịp lễ tết.

Ngoài ra bà con ở khu dân cư đã tham gia đóng góp các nghĩa vụ đối với nhà nước và địa phương đầy đủ

* Đánh giá chung

Trong năm qua, mặc dù có những khó khăn nhất định, nhưng cán bộ và bà con khu dân cư đã nêu cao tinh thần đoàn kết, nổ lực phấn đấu thực hiện có hiệu quả 5 nội dung của cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Đời sống của bà con nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao, bộ mặt nông thôn từng bước được khởi sắc, tình hình an ninh chính trị, trật tự ATXH được ổn định, các tổ chức trong hệ thống chính trị ở khu dân cư được củng cố kiện toàn và đi vào hoạt động có nề nếp

C/PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TRONG THỜI GIAN TỚI

Phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những mặt tồn tại hạn chế. Trên cơ sở bám sát các chủ trương, Nghị quyết của Đảng và nhà nước, các chỉ tiêu thực hiện phong trào thi đua do MT các cấp phát động. Trong thời gian tới KDC cần tập trung thực hiện tốt các nội dung sau:

1. Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng con nuôi, ứng dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất, đầu tư thâm canh tăng năng suất cây trồng vật nuôi; mở mang các ngành nghề, dịch vụ nhằm thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã và các đề án phát triển kinh tế của huyện: Về cải tạo và phát triển chăn nuôi bò; nâng cao hiệu quả vùng lạc; phát triển cây cao su để nâng cao thu nhập cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo một cách bền vững. Tập trung chăm sóc diện tích cây cao su hiện có. Xây dựng các vùng chuyên canh đồng thời kết hợp vận động dồn điền, đổi thửa cho phù hợp với điều kiện sản xuất. Nâng cao chất lượng đàn gia súc, gia cầm, chú trọng thực hiện tốt việc lai tạo đàn bò. Đẩy mạnh việc quy hoạch và cải tạo vườn tạp để nâng cao giá trị kinh tế vườn, thành lập các tổ hợp tác trồng rau màu và chăn nuôi

2. Tiếp tục nâng cao chất lượng xây dựng khu dân cư văn hóa, gia đình văn hóa, phấn đấu có trên 90% hộ gia đình được công nhận gia đình văn hóa. Đóng góp để xây dựng các thiết chế văn hoá gắn với việc chỉnh trang xây dựng nông thôn mới. Tổ chức tốt các hoạt động vui chơi giải trí, văn hoá văn nghệ, TDTT tại cộng đồng khu dân cư, thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội theo tinh thần chỉ thị ………………… Đẩy mạnh phong trào hiếu học, phong trào khuyến học, khuyến tài trong mỗi gia đình, dòng họ và cộng đồng khu dân cư

3. Giữ gìn vệ sinh môi trường sinh thái, duy trì hoạt động của tổ thu gom rác thải, vệ sinh đường làng, ngõ xóm sạch đẹp, tiếp tục trồng thêm cây xanh ở khu vui chơi để tạo cảnh quan môi trường. Phong trào thắp sáng đường quê và đoạn đường tự quản giao cho chi đoàn thanh niên phụ trách

4. Tập trung củng cố tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận và các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội ở khu dân cư, tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng 5 nội dung cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư trong giai đoạn mới” theo chương trình phối hợp số ……… ngày ………………. giữa Ban Thường trực UBTWMTTQ Việt Nam và Bộ Văn hóa thể thao & Du lịch gắn với cuộc vận động ” Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới” do các cấp các ngành phát động, nhằm thực hiện có hiệu quả các tiêu chí xây dựng nông thôn mới

Tăng cường công tác tập hợp và thu hút quần chúng vào các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội và tổ chức hoạt động có chất lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, chăm lo xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

Xin chân thành cảm ơn!

2. Báo cáo kết quả ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc – Mẫu 2

A. Phần mở đầu:

Nêu khái quát đặc điểm, tình hình khu dân cư và sự chỉ đạo hướng dẫn của Cấp uỷ, Ban Thường trực Uỷ Ban MTTQ Việt Nam cấp xã, tạo điều kiện của Chính quyền; phối hợp của các đoàn thể, sự tham gia của các tầng lớp nhân dân thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

B. Phần nội dung:

I. Kết quả thực hiện 5 nội dung Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”:

1. Cuộc vận động đã động viên, khơi dậy các tầng lớp nhân dân đoàn kết giúp nhau kinh tế, chung sức xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh:

– Hưởng ứng các phong trào, cuộc vận động xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh: Tham gia xây dựng xây dựng và thực hiện quy hoạch trên địa bàn; vận động hiến đất, hiến cây, mở rộng đường giao thông, đóng góp xây dựng hạ tầng cơ sở…

– Vận động nhân dân giúp nhau phát triển kinh tế, xây dựng kinh tế gia đình ổn định từng bước phát triển: Các hình thức vận động, giúp đỡ và kết quả giúp nhau về giống cây trồng, vật nuôi, ngày công, vốn … trong cộng đồng; nêu mô hình, điển hình giúp nhau, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi…

Đánh giá kết quả thực hiện Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”. Góp phần tăng hộ giàu, hộ khá, hộ thoát nghèo, hộ nghèo hiện còn, nhà tạm còn …

2. Cuộc vận động đã tạo sự chuyển biến quan trọng trong xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú ở khu dân cư, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chăm lo sự nghiệp giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thực hiện dân số kế hoạch hóa gia đình:

– Công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn hoá, ứng xử văn minh. Việc thực hiện theo quy ước, hương ước trong việc tang, cưới, lễ hội.

– Số hộ sử dụng điện thắp sáng, các phương tiện đi lại, nghe, nhìn …

– Số hộ gia đình đăng ký xây dựng và số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá (đạt… %); KDC đạt danh hiệu văn hoá …

– Công tác chăm sóc sức khoẻ, nhất là bảo hiểm y tế cho người nghèo; thực hiện chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình; vận động học sinh đến trường, phổ cập tiểu học, số học sinh bỏ học, giúp đỡ học sinh nghèo, khuyến khích học sinh giỏi.

Đánh giá kết quả và nêu những tấm gương tiêu biểu trong phong trào.

3. Cuộc vận động đã góp phần xây dựng ở các khu dân cư và các tầng lớp nhân dân nâng cao nhận thức, trách nhiệm thực hiện xây dựng môi trường cảnh quan sạch đẹp:

– Các hoạt động bảo vệ môi trường: vệ sinh đường làng, ngõ xóm, hệ thống cấp thoát nước, các điểm thu gom, xử lý rác thải, trồng cây xanh; việc lấn chiếm lòng lề đường, vỉa hè.

– Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch; chuồng trại, hố xí hợp vệ sinh…

Đánh giá kết quả và nêu điển hình.

4. Cuộc vận động đã góp phần phát huy dân chủ tuyên truyền nhân dân chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh:

– Vấn đề ý thức chấp hành Pháp luật, các Hương ước, quy ước của cộng đồng.

– Tình hình thực hiện dân chủ: những vấn đề công khai trước dân, những hoạt động có sự tham gia giám sát của nhân dân, việc tiếp thu, phản hồi ý kiến, kiến nghị của nhân dân.

– Kết quả phong trào toàn dân tham gia phòng chống tội phạm, ma tuý, HIV/AIDS; đảm bảo trật tự an toàn giao thông; phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, số nguồn tin tố giác tội phạm, số vụ việc được hòa giải …

– Vai trò lãnh đạo của Cấp uỷ trong thực hiện Cuộc vận động, vai trò quản lý của Ban điều hành thôn, chủ trì của Mặt trận, sự phối hợp giữa các tổ chức thành viên trong công tác vận động nhân dân.

Đánh giá kết quả các hoạt động, xếp loại cuối năm của Chi bộ, Mặt trận, các đoàn thể và nêu điển hình.

5. Cuộc vận động đã khơi dậy trong các tầng lớp nhân dân tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong cộng đồng; phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn, đáp nghĩa”, “Tương thân, tương ái”:

– Sự tham gia hưởng ứng của cán bộ và nhân dân đối với “Quỹ đền ơn đáp nghĩa’ và các hoạt động khác như: xây dựng, sữa chữa nhà ở, tặng sổ tiết kiệm, phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng, thăm hỏi ốm đau, chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ…

– Huy động nhân dân đóng góp cho các hoạt động nhân đạo từ thiện như: hỗ trợ, giúp đỡ người già đơn không nơi nương tựa, người tàn tật, nạn nhân chất độc da cam, người bị thiên tai, hoả hoạn…

Đánh giá kết quả và nêu điển hình.

II. Đánh giá chung

1. Ưu điểm

2. Tồn tại, hạn chế

III. Một số nhiệm vụ trọng tâm năm 2020:

Triển khai thực hiện 5 nội dung của Cuộc vận động, tiếp tục vận động nhân dân nâng cao chất lượng, lồng ghép vào các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; xác định nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, những công việc cụ thể, đề ra các giải pháp thực hiện, phấn đấu từng khu dân cư: Đoàn kết, có đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển, chung sức xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; đoàn kết chăm lo sự nghiệp giáo dục; chăm sóc sức khỏe, thực hiện dân số kế hoạch hóa gia đình, xây dựng môi trường cảnh quan sạch đẹp; xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh; đoàn kết tương trợ, giúp đỡ nhau trong cộng đồng. Xây dựng Gia đình văn hoá, KDC văn hoá . Phát động đăng ký thi đua …

Bạn đang đọc nội dung bài viết Báo Cáo Tình Hình Nông Dân Và Hoạt Động Của Hội Nông Dân Việt Nam Tại Buổi Làm Việc Với Thủ Tướng Chính Phủ (Ngày 21/ 4/ 2022) / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!