Đề Xuất 12/2022 # Bài 1: Cấu Trúc Của Da / 2023 # Top 19 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Bài 1: Cấu Trúc Của Da / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bài 1: Cấu Trúc Của Da / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

CẤU TRÚC CỦA DA

(Structure of the skin)

1. ĐẠI CƯƠNG

Da là một cơ quan lớn nhất, chiếm khoảng 16% tổng trọng lượng của cơ thể, nằm ở mặt ngoài, tiếp xúc trực tiếp với môi trường sống.

Da là bộ phận vô cùng quan trọng, giống như một tấm áo tự nhiên bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân có hại bên ngoài và có chức năng bài tiết, điều hòa nhiệt độ cơ thể. Tổng diện tích da ở người trưởng thành là 1,2-2m2 .

Da người có 3 lớp: thượng bì, trung bì và hạ bì. Thượng bì có nguồn gốc phôi thai từ lá thai ngoài, bản chất là biểu mô. Trung bì có người gốc phôi thai từ lá thai giữa, bản chất là mô liên kết. Ngoài ra còn có các phần phụ của da như lông, tóc, móng, tuyến mồ hôi và tuyến bã nhờn.

2. MÔ HỌC DA THƯỜNG

2.1. Thượng bì (Epidermis)

Thượng bì là lớp ngoài cùng của da, gồm chủ yếu là tế bào biểu mô sừng (keratinocyte) chiếm tới 95%, ngoài ra còn có tế bào hắc tố, tế bào Merkel và tế bào Langerhans.

Thượng bì tác dụng như hàng rào bảo vệ da, gồm 4 lớp chính: tính từ ngoài vào trong là lớp tế bào sừng, lớp hạt, lớp gai, lớp đáy (lớp tế bào mầm). Riêng lòng bàn tay, bàn bàn chân có thêm 1 lớp sáng nằm xen kẽ giữa lớp sừng với lớp hạt (5 lớp).

Thượng bì dày khoảng 0,4-1.5mm tùy theo vị trí trên cơ thể (dày nhất ở lòng bàn tay, bàn chân, mỏng nhất ở vùng sinh dục).

Thượng bì có các lớp sau:

2.1.1. Lớp tế bào đáy (stratum basale)

Lớp này còn gọi là lớp tế bào cơ bản (basel cells), là lớp sâu nhất của thượng bì, gồm những tế bào hình trụ, nhân có trục dài, thẳng đứng. Nguyên sinh chất ưa kiềm chứa các hạt sắc tố melamin. Các tế bảo đáy có khả năng sinh sản rất mạnh để sản xuất các tế bào mới thay thế các tế bào cũ đã biệt hóa.

Trong bào tương của lớp tế bào đáy xuất hiện các sợi keratin rất mảnh tập trung từ xung quanh nhân chạy ra gắn với các cầu nối gian bào (desmosome) và nửa cầu nối gian bào (hemidesmosome) giúp các tế bào liên kết với nhau một cách vững chắc.

Thời gian cần thiết cho một tế bào đáy phân chia, biệt hóa và di chuyển tới lớp sừng khoảng 14 ngày. Thời gian ở lớp sừng đến khi thành vảy da và bong ra khoảng 14 ngày nữa. Như vậy thời gian để tái tạo toàn bộ thượng bì là khoảng 4 tuần.

Rải rác, xen giữa những tế bào đáy còn có tế bào hắc tố (melanocyte) có nguồn gốc từ các mào thần kinh, tập trung nhiều nhất ở mặt và những vùng tiếp xúc với ánh sáng. Ngoài ra, ở lớp đáy còn có tế bào Merkel.

Tế bào lớp đáy có cặp phân tử keratin là K5 (trọng lượng phân tử là 58kDa) và K14 (trọng lượng phân tử là 50kDa)

2.1.2. Lớp tế bào gai (stratum spinosum)

Còn gọi là lớp nhầy Malpighi. Là lớp tế bào hình đa diện, nằm trên lớp đáy, xếp từ 6 đến 20 hàng, càng về phía trên các tế bào càng dẹt dần. Đây là những tế bào trưởng thành của biểu bì.

Desmosome là cấu trúc ở bề mặt của tế bào và phụ thuộc calci do bó sợi keratin từ trong tế bào chạy ra liên kết với phần xuyên màng và gắn với tế bào sừng kề bên. Đây kết cấu rất vững chắc với các tác nhân cơ học nên chức năng của Desmosome là ổn định tế bào, hạn chế tác động từ các sang chấn. Trong một số bệnh lý, điển hình là nhóm bệnh da mọng nước tự miễn trong thượng bì như Pemphigus, các cầu nối gian bào này bị đứt gây nên các bọng nước mềm, nhẽo, vết trợt trên da và/ niêm mạc.

Nhân của tế bào gai to và rất hoạt động. Trong bào tương của tế bào gai và cả lớp hạt có chứa bào quan mới, gọi là tiểu thể Lamella (lamellar granuler) hay thể Odland, kích thước 100-500nm, đường kính 0,2-0,3nm, có dạng lá gấp lại hoặc dạng đĩa. Các tiểu thể này chứa hỗn hợp của lipid như phospholipid, sphinggolipid và cholesterol. Khi lên đến lớp tế bào hạt trên cùng, các tiểu thể này sẽ hòa mảng và giải phóng các lá lipit vào khoảng gian bào tạo thành lớp lipid gian bào, một hàng rào chắn nước rất có hiệu quả, giúp da giữ nước, tránh khô da và tham gia vào quá trình gắn kết và bong vảy của lớp sừng.

Trong lớp tế bào gai vẫn tồn tại các lá sừng chạy từ nhân tế bào ra gắn với các cầu nối gian bào và vẫn có cá keratin K5, K14. Ngoài ra còn xuất hiện thêm K1 (56,5kDa) và K10 (67kDa). Đó là những keratin đặc thù cho sự biệt hóa cho thấy quá trình sừng hóa của tế bào gai đang diễn ra mạnh mẽ.

Các tế bào gai cũng có khả năng sinh sản bằng gián phân. Hoạt động gián phân của lớp đáy và lớp gai đều mạnh mẽ và liên tục.

Trong lớp tế bào gai còn có tế bào tua di chuyển hay còn gọi là tế bào Langerhans.

2.1.3. Lớp tế bào hạt (stratum granulosum)

Lớp này là những tế bào dẹt nằm ở trên lớp gai, gồm 3-4 hàng tế bào, nhân sáng. Tế bào ở lớp này thể hiện hình ảnh sự thoái triển của tế bào biểu mô.

Bên trong bảo tương của tế bào hạt có nhiều hạt keratohyalin mà thành phần chủ yếu là tiền chất filaggrin và các lá keratin trung gian. Sự xuất hiện của các hạy này chứng tỏ quá rình sừng hóa đang diễn ra. Các phân tử keratin K1 biến đổi thành K2, K10 và thành K11. Trong quá trình chuyển dần từ tế bào hạt thành tế bào sừng, các tiền chất filaggrin sẽ chuyển thành filaggrin và là thành phần chú yếu của các yếu tố dưỡng ẩm tự nhiên (natural moiturizing factors) và vỏ tế bào lớp sừng.

2.1.4. Lớp tế bào sáng (stratum lucidum)

Lớp này chỉ có ở lòng bàn tay, bàn chân và nằm ở trên lớp hạt bao gồm những tế bào trong, thuần nhất, không có nhân, dẹt, sắp xếp thành 2 hoặc 3 hàng. Các tế bào này chứa chất eleidin, hình thành do hóa lỏng các hạt sừng trong chứa nhiều nhóm disulfid.

2.1.5. Lớp tế bào sừng (stratum corneum)

Lớp tế bào sừng (horny cells) là lớp ngoài cùng của da, có bề dày khoảng 0,1mm (100μm), dày nhất là ở lòng bàn tay, lòng bàn chân từ 0,8-1,4mm, mỏng nhất là ở mi mắt 50μm.

Đây là những tế bào có kích thước lớn nhất ở lớp thượng bì. Thành phần chủ yếu là chất sừng (keratin). Ở những lớp ngoài cùng, các tế bào sừng trở nên dẹt hoàn toàn, màng bào tương dầy, nhân biến mất, trong bào tương chỉ còn toàn những sợi sừng. Mỗi tế bào biến thành một lá sừng mỏng, chồng chất lên nhau như một bức tường gạch. Các tế bào sừng là những viên gạch và chất gian bào sừng là xi măng gắn các tế bào sừng lại với nhau, thành một khối vững chắc để chống lại các tác động từ bên ngoài. Do hiện tượng bong da sinh lí, trung bình mỗi ngày có một lớp sừng bong ra tạo nên những vảy nhỏ như vảy phán, quện với mồ hôi và chất bã tạo thành ghét.

80-85% chất keratin trong tế bào sừng là K1/K10.

Quá trình sừng hóa diễn ra liên tục giúp da luôn đổi mới. Quá trình này chịu sự ảnh hưởng của cả yếu tố bên ngoài môi trường và bên trong (gen, các yếu tố toàn thân).

Thượng bì không có mạch máu và được nuôi dưỡng bằng dịch gian bào.Các sợi thần kinh chỉ phân nhánh đến lớp đáy.

2.1.6. Các tế bào thượng bì có tua (dendric cells)

Thượng bì chứa hai loại tế bào có giả túc (có tua) là tế bào sắc tố và tế bào Langerhans.

2.1.6.1. Tế bào sắc tố

Tế bào sắc tố (melanocyte) là tế bào tua gai cung cấp sắc tố cho các tế bào sừng, tạo màu da. Tế bào sắc tố có nguồn gốc từ mào thần kinh, trong bào tương có các sợi vimentin, thường khu trú dọc theo lớp đáy của thượng bì. Tỷ lệ giữa tế bào sắc tố và tế bào đáy thay đổi từ khoảng 1/4 ở mặt đến 1/10 ở chi. Khi nhuộm bằng Hematoxylineosin (HE), tế bào sáng màu, không có tonofilament và desmosomes. Một tế bào sắc tố và một nhóm các tế bào sừng liền kề được cung cấp sắc tố còn gọi là “1 đơn vị sắc tố thượng bì”.

Tế bào sắc tố là tế bào duy nhất có khả năng sản xuất ra các hạt melanosome. Các melanosome được vận chuyển theo các giả túc của tế bào sắc tố đến một nhóm tế bào sừng (đơn vị sắc tố của thượng bì).

Các hạt melanosome sẽ biến đổi qua 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1 chỉ chứ tyrosinase

Giai đoạn 2 chứa nhiều tyrosinase và một vài melanin

Giai đoạn 3 chứa phần lớn melanin với một vài tyrosinase

Giai đoạn 4 chỉ chứa melanin

Sắc tố khác nhau từ mày vàng đến màu nâu hoặc màu đen giải thích sự khác nhau về màu da trong một chủng tộc và với các chủng tốc khác. Sự khác nhau giữa các màu da, giữa các chủng tộc không phụ thuộc vào số lượng tế bào sắc tố mà phụ thuộc vào bản chất của melanin và kích thước hạt melanosome.

Sắc tố (melanin) được tạo thành do một chuỗi các phản ứng từ chất nền tyrosin qua con đường DOPA và dopaquinon dưới sự kiểm soát của nhiều loại men.

Chức năng của sắc tố là chống lại tác hại của tia cực tím (ultraviolet = UV), che trở sự sự gián phân của tế bào đáy ở thượng bì khỏi sự ảnh hưởng của các tia UV, kiểm soát sự tổng hợp vitamin D3 và điều hòa thân nhiệt tại chỗ. Số lượng tế bào sắc tố tăng khi phản ứng với sự kích thích của UV.

Ở da người có hai loại sắc tố.

Eumelanin: có màu nâu hoặc đen

Phaeomelanin: có màu vàng đỏ

2.1.6.2. Tế bào Langerhans

Là tế bào trình diện kháng nguyên, có nguồn gốc từ tủy xương, chiếm 5% tế bào thượng bì, nằm ở khắp thượng bì tạo hàng rào lưới, nhưng tập trung nhiều ở lớp tế bào gai phía trên. Mật độ thay đổi tùy vào vị trí trên cơ thể, nhiều nhất ở mặt với 600-1000 tế bào/mm2.

Tế bào Langerhans điển hình có nhân chia múi, bào tương sáng, không có desmosomes và tonofilaments, có các giả túc đi vào giữa các tế bào biểu mô sừng lên tận lớp hạt và xuống tận màng đáy. Trong tế bào chứa bào quan đặc biệt giống như hình vợt tennis gọi là hạt Birbeck.

Tế bào Langerhans có khả năng miễn dịch nhờ vai trò trình diện kháng nguyên và tăng số lượng trong phản ứng tiếp xúc. Đây chính là tiền đồn của hệ thống miễn dịch tế bào của cơ thể.

2.1.6.3. Tế bào Merkel

Tế bào nằm rải rác ở lớp đáy và chiếm khoảng 0,2-5% số tế bào thượng bì, có hình bầu dục dài khoảng 15μm, nhân lớn 2 múi, bào tương sáng, ít tổ chức bên trong nằm song song với màng đáy.

2.2. Trung bì (Dermis)

Trung bì là lớp thứ 2, nằm dưới thượng bì và là vùng dày nhất của da. Độ dày khác nhau tùy từng vùng của cơ thể từ 1/10mm đến bài milimet gồm các mô liên kết để giữ hạ thượng bì với hạ bì.

Trung bì và thượng bì ngăn cách nhau bởi màng đáy (hay còn gọi là màng cơ bản). Màng đáy dày chừng 0,5mm. Các dịch sẽ truyền từ trung bì ngấm qua màng đáy để nuôi dưỡng thượng bì. Ranh giới giữa thượng bì và trung bì không phải là 1 đường thẳng mà là đường lượn sóng. Phần sóng nhô lên phía trên là gai bì (hay nhú bì, hay còn gọi là trung bì nông). Phần sóng nhô lên phía trên là gai bì (hay nhú bì) gọi là mào liên gai (hay là mào liên nhú).

Cấu trúc của màng đáy gồm 4 phần:

Nửa cầu nối gian bào (Hemidermosome). Đường kính của nửa cầu nối gian bào khoảng 500-1000nm, gồm các sợi tơ keratin (tonofilament); sợi bám để nối màng bào tương với lá đặc (Lamina densa).

Lá sáng (Lamina lucida) dày khoảng 20-40nm.

Lá đặc (Lamina densa) dày khoảng 30-40nm, trong đó chủ yếu là collagen lớp IV.

Dưới là đặc (Sub-lamina densa( có nhiều bó vi sợi bản chất là collagen, chủ yếu là collagen típ VII).

Thành phần sinh hóa chủ yếu của màng đáy (BMZ) là collagen típ IV (lamina densa) và một số glycoprotein bao gồm laminin 322 (lamina lucida). Màng đáy gắn kết với tế bào đáy bởi các hemidesmosomes, đồng thời gắn kết với trung bì thông qua các sợi néo (anchoring filaments/anchoring fibrils). Các sợi néo ở thượng bì (anchoring filaments) có kích thước 5-7nm giàu laminin 332 (laminin 5) và 311 (laminin 6) liên kết với α6 β4 integrin trên bề mặt tế bào sừng. Còn các sợi néo ở trung bì (anchoring fibrils) có kích thước 20-60nm, là những dải không đều, chéo nhau và trông giống như hình đuôi chim ở cả hai đầu, cấu tạo chủ yếu là collagen típ VII liên kết giữa lá đặc với mảng néo ở trung bì. Khi có bất thường ở sợi néo sẽ làm cho vùng liên kết trung bì và thượng bì (DEJ) lòng lẻo dễ bị tổn thương như gặp trong bệnh ly thượng bì bọng nước bẩm sinh.

Trung bì gồm các lớp

2.2.1. Trung bì nông(papillary dermis)

Lớp này là lớp nuôi dưỡng, rất mỏng chỉ khoảng độ 0,1mm. Trên bề mặt có những gai nhô lên còn gọi là nhú bì hay gai bì (papille) ăn sâu vào thượng bì. Các gai do tổ chức liên kết non tạo nên, ở đó có nhiều mao mạch. Các nhú bì có chiều cao và độ lớn khác nhau tùy theo vùng da. Da ở lòng bàn tay, bàn chân các nhú có khi cao tới 0,2mm, ở da mặt thì lớp nhú rất mỏng.

2.2.2. Trung bì chính thức hay còn gọi là trung bì sâu (reticular dermis)

Đây là lớp chống đỡ, dày khoảng 0,4mm, gồm có:

Những sợi chống đỡ

Sợi keo hay còn gọi là sợi hồ (collagen fiber). Là chết liệu chính làm da bền vững chống lại các sang chấn bảo vệ các tổ chức bên trong. Bản chất các sợi collagen là các protein với 3 chuỗi polypeptide. Đó là những sợi thẳng không phân nhánh, dài vài micron. Cấu tạo bởi những chuỗi polypeptid, gồm 20 loại acid amin khác nhau, chủ yếu là glycin và argenin. Sợi keo có thể bị phá hủy bởi men collagenase do vi khuẩn tiết ra và được thay thế bằng các sợi mới. Sợi keo là chất liệu chính làm cho da vững chắc trước tác động cơ học, lý học, hóa học từ bên ngoài. Sợi keo tập trung chủ yếu ở trung bì sâu, một ít ở nhú bì, nang lông, tuyến bã, tuyến mồ hôi, quanh mạch máu.

Sợi chun (Elastic fiber) (hay còn gọi là sợi đàn hồi): là một thành phần của các mô liên kết ở trung bì có tác dụng giúp da đàn hồi. Đây là những sợi mỏng, lượng sóng hoặc thành từng đoạn có kích thước từ 1-3

μ

m, chiếm dưới 2-4% trọng lượng khô của trung bì, bắt màu đen khi nhuộm bạc, bắt màu nâu khi nhuộn accin. Đột biến gen của một trong thành phần của sợi chun gặp trong bệnh nhão da (cutix laxa)

Sợi lưới: sợi lưới tạo thành mạng lưới mỏng bao quanh mạch máu, tuyến mồ hôi, cấu trúc giống sợi keo.

Sợi liên võng (Reticulum fiber): sợi liên vọng là dạng đặc biệt của sợi tạo keo tập trung ở bì nông, phần phụ của da, mạch máu.

Các chất cơ bản: các chất cơ bản là một màng nhày gồm Trytophan, Tyrosin, Mucopolycharcarit, Hyaluronic.

Tế bào:

Các tế bào xơ hình thoi hoặc hình amip, có nhân to hình bầu dục, chứa nhiều hạt ty lạp thể, có tác dụng làm da lên sẹo.

Tổ chức bào hình thoi hoặc hình sao, nó có thể biến thành thực bào, đại thực bào.

Dưỡng bào (Mastocyte) tham gia quá trình chuyển hóa heparin, histamin, acid hyaluronic.

Mạch máu, trung bì chỉ có những mạch máu nhỏ tập trung ở gai bì và quanh các tuyến.

Thần kinh ở da có 2 loại:

Thần kinh não tủy có vỏ myelin, có nhánh đi riêng.

Thần kinh giao cảm không có vỏ myelin chạy trong các tế bào mạch máu.

Thần kinh da được tạo thành từ đám rối ở hạ bì, sau đó phân nhánh chạy thẳng góc tới các đầu gai bì rối tận cùng ở lớp hạt. Ngoài những nhánh này, thần kinh da còn có những nhánh cuộn tròn lại thành những tiểu thể. Có 5 loại tiểu thể:

Tiểu thể Vater Pacini khu trú ở đáy trung bì, có nhiều ở lòng ngón tay, chi phối xúc giác (sờ mó)

Tiểu thể Buffini chi phối cảm giác nóng

Tiểu thể Krause chi phối cảm giác lạnh

Tiểu thể Golgi-Mazzoni chi phối xúc giác

Đĩa Meckel-Ranvier và tiểu thể Meissnercho cảm giác tiếp xúc.

2.3. Hạ bì (Subcutaneous layer)

Hạ bì (còn gọi là lớp mỡ dưới da) chứa mô liên kết, nhiều mạch máu, thần kinh… đảm bảo cho da sống và thực hiện các chức năng của mình. Cấu trúc gồm nhiều tần ngăn, liên kết tạo thành nhiều ô, chứa nhiều chất mỡ.

Ở hạ bì có nhiều mạch máu lớn.

Độ dày của hạ bì tùy thuộc vào thể trạng từng người. Đây là kho dự trữ mỡ lớn nhất của cơ thể, có vai trò bảo vệ cơ học chống những sức ép, chấn động đột ngột, xem như cái gối che chở da và những cấu trúc bên dưới và có vai trò điều hòa nhiệt độ.

2.4. Các thành phần phụ của da

2.4.1. Tuyến mồ hôi (Sweat glands)

Tuyến mộ hôi là tuyến ngoại tiết, có loại đổ trực tiếp qua da , có loại đổ ở phần đầu của nang lông. Có 2 loại tuyến mồ hôi.

Tuyến bảo toàn (Eccrine gland): được phân bố trên khắp bề mặt da, trừ niêm mạc. Tùy vùng cơ thể mà số lượng tuyến mồ hôi có khác nhau. Ở lòng bàn tay, bàn chân có khoảng 620 cái/1cm2, đùi có khoảng 120 cái/cm2. Toàn bộ cô thể có khoảng 2,5 triệu tuyến.

Cấu tạo gồm 3 phần

Cầu bài tiết hình tròn khu trí ở trung bì sâu hoặc hạ bì, có 2 lớp tế bào giữa là những tế bào bài tiết, xung quanh có lớp tế bào dẹt bao bọc.

Ống dẫn đoạn qua trung bì có cấu trúc như phần cầu nhưng ít bài tiết.

Ống dẫn đoạn qua thượng bì có đoạn xoắn ốc, càng ra ngoài càng xoắn nhiều, gồm một lớp tế bào có nhiễm hạt sừng.

Tuyến mồ hôi làm nhiệm vụ điều hòa thân nhiệt, góp phần làm cho thân nhiệt hằng định. Sự bài tiết mồ hôi được điều chỉnh bởi thần kinh giao cảm ở xung quanh tuyến, các trung khi dọc tủy sống, vùng dưới đồi. Các chất như Pilocarpin, Cholin, Adrenalin làm tăng tiết mồ hôi, Atropin làm giảm bài tiết mồ hôi.

Tuyến đầu hủy (Aprocrine gland)

Tuyến này tập trung ở mặt, quanh hậu môn, quanh đầu vú, nách.

Cấu tạo gồm cuộn bài tiết là một ống đơn thuần gốm lớp tế bào hình trụ hoặc hình hộp nằm trên lớp màng đáy có ống dẫn đổ vào cổ nang lông phía trên tuyến bã, một số đổ trực tiếp lên da mặt. Trong quá trình bài tiết, một phần bào tương của tế bào bị tống ra ngoài.

Tuyến tiết ra chất lỏng như dầu, có khi có màu. Ban đầu chấy này không mùi, khi lên đến mặt da do tác động của vi khuẩn có thể có mùi đặc biệt gây ra hôi nách.

2.4.2. Tuyến bã (Sebaceous glands)

Tuyến bã là tuyến ngoại tiết nằm cạnh nang lông, đổ chất tiết vào nang lông mỏ ra ở da, tạo da mềm mại, chống thấm nước, chống khô da.

Mỗi tuyến bã có nhiều thùy, mỗi thùy gồm nhiều lớp tế bào: ngoài cùng là những tế bào trẻ giống tế bào lớp cơ bản, rối đến lớp tế bào to chứa những hạt mỡ, trong cùng có những lớp tế bào chứa đầy mỡ làm căng vỡ tế bào, rồi chảy ra ngoài thành chất thành chất bã (sebum). Ống tiết được cấu tạo bởi tế bào sừng. Chất mỡ đào thải qua ống tuyến lên mặt da.

Có 2 loại tuyến bã nang lông:

Tuyến bã nang lông dài: nằm ở da đầu, râu, lông nách, lông mu. Tại những nơi lòng bàn tay, bàn chân không có tuyến bã.

Tuyến bã nang lông tơ: tuyến bã nang lông tơ nằm ở khắp nơi trên cơ thể trừ lòng bàn tay, bàn chân không có tuyến bã.

Tuy tuyến bã nang lông tơ có kích thước nhỏ hơn tuyến bã nang lông dài nhưng tế bào tuyến hoạt động mạnh hơn, có kích thước lớn hơn, bài tiết chất bã nhiều hơn. Ở mặt, tuyến bã phát triển gấp 5 lần ở những nơi khác. Số lượng tuyến bã thay đổi khác nhau tùy vùng trên cơ thể. Ở da đầu, mặt, ngực, lưng, tầng sinh môn có từ 400-900 tuyến/cm2 da. Các vùng còn lại có khoảng 100 tuyến/1cm2 da. Tuyến bã ở miệng (hạt fordyce) và ở rãnh quy đầu (tuyến tyson) không đổ qua ống tuyến mà bài tiết trực tiếp lên niêm mạc.

2.4.3. Nang lông (Hair follicles)

Lông là biến dạng nhiễm keratin của thượng bì. Nang lông là phần lõm sâu xuống của thượng bì chứa sợi lông và tiếp cận với tuyến bã. Cấu tạo của nang lông bao gồm: chất cơ bản của lông, sợi lông, lớp vỏ trong, lớp vỏ ngoài, gai lông. Các tế bào hắc tố có trong phần chất cơ bản của lông tạo nên màu sắc cho sợi lông.

Ở người có 2 loại lông:

Lông nhẵn hay còn gọi là lông tơ: là sợi lông ngắn bao phủ phần lớn cơ thể trừ lòng bàn tay, bàn chân.

Lông dài là những sợi lông dài, cứng và có đường kính lớn hơn lông nhẵn. Lông dài nằm ở các vùng da đầu (tóc), xung quanh miệng (râu), lông nách, lông mu.

Ngoài ra, thai nhi còn có lông tơ mịn mượt, lông này sẽ rụng đi trước khi sinh 2 tháng.

Một sợi lông gồm có 3 phần: phần nằm trên thượng bì; phần mọc xuyên qua thượng bì, phần nằm ở trong chân bì (trung bì). Phần nằm trong chân bì gọi là rễ lông được bao bọc bởi một vỏ gọi là nang lông. Nang lông có 3 lớp: lớp bao biểu mô ngoài, bao biểu mô trong và bao xơ.

Mỗi nang lông có 3 phần:

Miệng nang lông thông ra mặt da.

Bao nang lông là phần dài nhất ăn sâu xuống hạ bì.

2.4.4. Móng (nails)

Móng là biến dạng của da, ở các đầu ngón tay, ngón chân. Móng là một tấm sừng mỏng dày chừng 0,3-0,5-0,75mm nằm gọn trong một rãnh của mặt lưng (mu) đầu ngón.

Móng có 4 bờ, bờ tự do nằm ở đầu móng, ba bờ còn lại được các nếp da phủ lên gọi là bờ sau và 2 bở bên. Bờ sau và nếp gấp vùng gốc móng gọi là nếp gấp trên móng. Phần móng ở bờ sau có hình vát gọi là rễ móng. Phần còn lại dày đều, hình khum gọi là thân móng. Thượng bì ở dưới móng tiếp với thượng bì da ở nếp gấp sau và các nếp gấp bên. Phần gốc móng có hình bán nguyệt gọi là liềm móng. Thượng bì ở dưới rễ móng gọi là mầm móng, đó là lớp sinh sản, có lớp malpighi khá dày. Những tế bào ở mầm móng phát triển từ đáy mầm ra thân móng và dẹt đi biến thành lá sừng đắp vào mặt dưới của móng. Bản móng mọc liên tục từ gốc móng ra bờ từ do. Mỗi ngày móng mọc dài ra khoảng 0,1mm. Móng chân mọc chậm hơn móng tay. Càng nhiều tuổi móng càng mọc chậm. Thời gian thay thế hoàn toàn 1 móng tay khoảng 3 tháng, móng chân 6 tháng.

2.4.5. Niêm mạc

Khác da ở chỗ không nhiễm keratin. Các lớp nông ở niêm mạc gồm tế bào có nhiều lỗ hổng dẹt và sẽ bong đi chứ không nhiễm keratin, còn các lớp tế bào gai, lớp hạt giống như da nhưng dày hơn.

(Tài liệu được biên soạn bởi PGS. TS. Trần Lan Anh của Bộ môn Da liễu, trường Đại học Y Hà Nội)

Câu 1. Trình Bày Cấu Trúc Và Chức Năng Của Lục Lạp / 2023

Câu 1. Trình bày cấu trúc và chức năng của lục lạp.Câu 2. Nêu cấu trúc và chức năng của ti thể.Câu 3. Nêu cấu trúc và chức năng của lizôxôm.Câu 4. Nếu các chức năng của không bào.Trả lời:Câu 1. Cấu trúc của lục lạp: Lục lạp là bào quan chỉ có ở thực vật, có lớp màng bao bọc. Bên trong lục lạp chứa chất nền cùng với hệ thống các túi dẹt được gọi là tilacôit. Các tilacôit xếp chồng lên nhau tạo thành cấu trúc gọi là grana. Các grana trong lục lạp được nối với nhau bằng hệ thống màng. Trong màng của tilacôit chứa nhiều dịp lục và các enzim có chức năng quang hợp. Trong chất nền của lục lạp còn có cả ADN và ribôxôm.Chức năng của lục lạp: Lục lạp là bào quan chỉ có ở tế bào thực vật. lục lạp chứa nhiều chất diệp lục có khả năng chuyển đổi năng lượng ánh sáng thành năng lượng hoá học, sản xuất chất hữu cơ cung cấp năng lượng cho tế bào.Câu 2. Cấu trúc của ti thể: Ti thể có 2 lớp màng bao bọc. Màng ngoài không gấp khúc, màng trong gấp khúc thành các mào, trên đó chứa nhiều loại enzim hô hấp. Bên trong ti thể là chất nền có chứa cả ADN vàribôxôm.Chức năng của ti thể là: Cung cấp nguồn năng lượng chủ yếu của tế bào là các phần tử ATP. Ti thể chứa nhiều enzim hô hấp có nhiệm vụ chuyển hoá đường và các chất hữu cơ khác thành ATP cung cấp năng lượng cho các hoạt động sống của tế bào và cơ thể.Câu 3. Cấu trúc của lizôxôm: Lizôxôm là bào quan với một lớp màng bao bọc, có nhiều enzim thuỷ phân.– Chức năng của lizôxôm: Phân huỷ các tế bào già, các tế bào bị thương tổn không có khả năng phục hồi và chúng được ví như một phân xưởng tái chế “rác thải” của tế bào.Câu 4. Không bào là bào quan có một lớp màng bao bọc. Tế bào thực vật thường có không bào lớn, không bào có thể rất khác nhau tuỳ theo từng loại và từng loại tế bào. Một số không bào chứa chất phế thải độc hại. Không bào của tế bào lông hút ở rễ cây chứa muối khoáng cùng nhiều chất khác nhau hoạt động như chiếc máy bơm chuyên hút nước từ đất vào rễ cây. Không bào của tế bào cánh hoa được xem như túi đựng đồ mĩ phẩm của tế bào vì nó chứa nhiều sắc tố.Một tế bào động vật cũng có thể chứa không bào nhưng có kích thước nhỏ. Các tế bào động vật có thể có các không bào thức ăn (còn gọi là không bào tiêu hoá) và không bào co bóp (có ở một số loại sinh vật đơn bào).

Trình Bày Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da / 2023

Cấu tạo da gồm 3 lớp : lớp biểu bì, lớp bì và lớp mỡ dưới da. Ngoài cùng là tầng sừng gồm những tế bào chết đã hóa sừng, xếp sít nhau, dễ bong ra. Dưới tầng sừng là lớp tế bào sống có khả năng phân chia tạo ra tế bào mới, trong tế bào có chứa các hạt sắc tố tạo nên màu da. Các tế bào mới sẽ thay thế các tế bào ở lớp sừng bong ra. Phần dưới lớp tế bào sống là lớp bì cấu tạo từ các sợi mô liên kết bền chặt trong đó có các thụ quan, tuyến mồ hôi, tuyến nhờn, lông và bao lông, cơ co chân lông, mạch máu. Lớp mỡ dưới da chứa mở dự trữ, có vai trò cách nhiệt.

Lông, móng là sản phẩm của da. Lòng bàn tay và gan bàn chân không có lông. Lông, móng được sinh ra từ các túi cấu tạo bởi các tế bào của tầng tế bào sống.

Chức năng của da gồm:

-Bảo vệ da khỏi tác động bên ngoài môi trường, giữ độ ẩm cho da: ở lớp ngoài cùng biểu bì có chứa các nhân tố dưỡng ẩm tự nhiên (NMFs)- Những chất này gắn kết với nước và giúp duy trì được sự đàn hồi, sự vững chắc và mềm mại của da. Khi độ ẩm của lớp sừng xuống còn từ 8- 10%, da trở nên khô, sần sùi và có xu hướng bị nứt nẻ.

-Đàn hồi, bảo vệ da: Các tế bào mỡ ở mô dưới da cung cấp lớp đệm hoạt động như thiết bị giảm va chạm, bảo vệ các mô cơ và các sợi mô bao quanh cơ ở phía dưới. Khả năng đệm của màng hydrolipid và axit bảo vệ giúp bảo về cơ thể khỏi các chất hóa học có tính kiềm gây hại.

Bảo vệ cơ thể khỏi vi khuẩn và vi rút: lớp sừng của biểu bì và các axit bảo vệ chống lại các loại vi khuẩn và nấm. Nếu có tác nhân nào đó vượt qua được rào cản đầu tiên thì hệ thống miễn dịch của da sẽ phản ứng lại.

-Điều chỉnh nhiệt độ: Da đổ mồ hôi giúp làm mát cơ thể và thu nhỏ lại hệ thống các mạch máu ở hạ bì để giữ nhiệt.

-Kiểm soát cảm xúc: Đầu các dây thần kinh ở da khiến da nhạy cảm với áp lực, chấn động, va chạm, nỗi đau và nhiệt độ .

-Sự tái tạo: da có khả năng phục hồi các vết thương

-Cung cấp dinh dưỡng: các tế bào chất béo ở mô dưới da cung cấp các chất dinh dưỡng quan trọng. Khi cơ thể cần, những chất này sẽ được di chuyển đến các mạch máu và đưa đến nơi cần thiết.

-Da cũng đóng một vai trò quan trọng về tâm lý: Là chỉ số dễ thấy nhất của sức khỏe. Sở hữ một làn da khỏe mạnh, hồng hào, tươi nhuận sẽ luôn giúp bạn cảm thấy thoải mái và tự tin hơn.

Cấu Trúc Và Chức Năng Của Làn Da Dưới Lăng Kính Khoa Học / 2023

Chuyện gì sẽ xảy ra khi da bị tổn thương?

Làn da rất quan trọng đối với sức khỏe và tinh thần của chúng ta. Bên cạnh việc đóng vai trò là rào cản đầu tiên của cơ thể chống lại vi khuẩn và vi rút, một làn da khỏe mạnh còn duy trì sự cân bằng của các chất và giúp điều hòa nhiệt độ cơ thể. Làn da rất nhạy cảm, cảm nhận được sự va chạm nhẹ nhàng cũng như những tác động mạnh. Vì là cơ quan rộng nhất, che phủ gần 2m2 và nặng bằng 1/6 trọng lượng cơ thể, tình trạng của da có cũng tác động quan trọng lên chính nó.

Cấu trúc da

Là cơ quan luôn luôn thay đổi, làn da bao gồm 3 lớp chính- biểu bì, hạ bì và mô dưới da – mỗi lớp lại bao gồm nhiều lớp thay thế. Các phần phụ của da như các nang và các tuyến mồ hôi, tuyến bã nhờn cũng đóng  những vai trò khác nhau trong chức năng tổng thể của da.

Biểu bì

Như là lớp da ở phía ngoài cùng mà chúng ta có thể nhìn và chạm vào được, lớp biểu bì bảo vệ chúng ta tránh khỏi các độc tố, vi khuẩn là tránh mất các chất lỏng cần thiết. Nó bao gồm 5 lớp tế bào. Các tế bào được sản sinh ở lớp trong cùng, di chuyển đến bề mặt da. Từ đó, chúng phát triển và trải qua nhiều sự thay đổi. Đây chính là quá trình được biết như là quá trình sừng hóa (hay sự hình thành sừng ở biểu bì), khiến mỗi lớp của tầng biểu bì trở nên khác biệt.

Lớp đáy (hay stratum basale): là lớp trong cùng của biểu bì nơi các tế bào keratinocyte được sản sinh.

Lớp tế bào gai (hay Stratum spinosum): các tế bào keratinocytes sản sinh chất sừng (các sợi protein) và trở nên có hình con suốt.

Lớp hạt (hay stratum granulosum): Quá trình sừng hóa bắt đầu- các tế bào sản sinh ra các hạt nhỏ và các hạt này di chuyển lên trên, biến đổi thành chất sừng và các lipid biểu bì.

Lớp bóng (hay stratum lucidium): Các tế bào bị ép nhẹ, trở nên bằng phẳng và không thể phân biệt được.

Lớp sừng (hay stratum corneum): Là lớp ngoài cùng của biểu bì, trung bình có khoảng 20 lớp da và các tế bào chết đã được dát mỏng, phụ thuộc vào vùng da của cơ thể. Những tế bào chết này bong ra thường xuyên trong quá trình tróc vảy. Lớp sừng là nơi cư trú của các tuyến mồ hôi và các tuyến bã nhờn

Các tế bào ở lớp sừng thì được gắn kết với nhau bởi các lipid biểu bì. Những lipid này thì rất quan trọng để tạo nên một làn da khỏe mạnh: chúng tạo nên hàng rào bảo vệ và giữ được độ ẩm cho da. Khi các lipid bị mất đi, da trở nên khô hơn và cảm giác bị căng và sần sùi.

Biểu bì được bao phủ bởi chất nhũ tương gồm nước và lipid (chất béo) được biết như các màng hydrolipid. Lớp màng này giúp duy trì sự tiết mồ hôi và bã nhờn, giúp làn da được mềm hơn và hoạt động giống như hàng rào chống lại vi khuẩn và nấm.

Phần nước của màng này, như là các acid bảo vệ bao gồm:

Axit lactic và một số các amino axit từ mồ hôi

Các axit tự do từ dầu

Các amino axit, axit cacboxilic pyrrolidine và các nhân tố tạo độ ẩm tự nhiên khác (NMFs)- là nhân tố của quá trình sừng hóa.

Các axit bảo vệ giúp làn da khỏe mạnh, là môi trường axit nhẹ và có độ pH nằm trong khoảng từ 5.4 đến 5.9. Đây là môi trường lý tưởng cho:

Các vi sinh vật tốt cho da có thể phát triển mạnh và các vi sinh vật có hại sẽ bị tiêu diệt.

Sự hình thành các lipid biểu bì.

Các enzym kiểm soát quá trình tróc vảy.

Lớp sừng dễ dàng tự phục hồi khi nó bị tổn thương.

Bao phủ hầu hết các phần của cơ thể nhưng biểu bì chỉ có độ dày khoảng 0.1mm, vùng biểu bì chung quanh mắt mỏng hơn (0.05mm) và dưới bàn chân thì dày hơn (1-5mm). Tìm hiểu thêm có thể đọc Am hiểu về làn da ở các phần khác nhau của cơ thể và làn da của nam và nữ thì khác nhau như thế nào.

Hạ bì (hay lớp mô mạch liên kết)

Hạ bì thì dày, đàn hồi, là lớp giữa của da và bao gồm 2 lớp:

Lớp đáy (hay stratum reticulare): là vùng rộng và dày, nơi tiếp giáp với hạ bì.

Lớp lưới (hay stratum papillare): được định dạng hình làn sóng và tiếp xúc với biểu bì

Phần cấu trúc chính của lớp  hạ bì là sợi collagen, sợi đàn hồi và các mô liên kết- giúp cho làn da độ khỏe mạnh, linh hoạt mang đến sự  trẻ trung hơn cho da. Các cấu trúc này thì gắn chặt với một chất như gel (có chứa axit hyaluronic), có khả năng cao trong việc liên kết với phân tử nước giúp duy trì được thể tích của da.

Lối sống và các nhân tố bên ngoài như ánh nắng mặt trời và sự thay đổi nhiệt độ có tác động đến số lượng sợi collagen và sợi đàn hồi trong cấu trúc da. Khi chúng ta già đi, sự sản sinh sợi collagen và sợi đàn hồi  tự nhiên giảm xuống và chức năng gắn kết với các phân tử nước cũng bị suy yếu. Làn da lúc đó trông có vẻ thiếu săn chắc và nếp nhăn xuất hiện. Tìm hiểu thêm về các nhân tố ảnh hưởng đến làn da, ánh nắng mặt trời tác động lên làn da như thế nào và lão hóa da.

Lớp hạ bì đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể khỏi ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài cũng như nuôi dưỡng  lớp ngoài cùng:

Lớp hạ bì dày, có cấu trúc giúp làm nhẹ đi các tác động từ bên ngoài và khi tổn thương xảy ra, chúng có chứa các mô liên kết giúp làm lành vết thương như nguyên bào sợi và dưỡng bào .

Là  nơi có chứa nhiều mao mạch máu giúp nuôi dưỡng biểu bì và loại bỏ chất thải.

Tuyến bã nhờn (nơi sản sinh dầu cho bề mặt da) và tuyến mồ hôi (nơi vận chuyển nước và axit lactic tới bề mặt da) thì đều được đặt tại lớp hạ bì. Các chất lỏng này kết hợp với nhau tạo nên lớp màng hydrolipid.

Hạ bì còn là nơi có các cơ quan:

Các mao mạch bạch huyết.

Cơ quan cảm nhận cảm giác.

Chân tóc: nơi tóc được phát triển.

Mô dưới da (hay lớp mỡ dưới da)

Lớp da ở phía trong cùng là nơi tạo ra năng lượng của cơ thể, đồng thời hoạt động như một tấm đệm và cách nhiệt cho cơ thể . Chúng bao gồm:

Các tế bào mỡ: gắn kết lại với nhau thành nhóm như  một lớp đệm.

Các sợi collagen đặc biệt (được gọi là vách mô hay đường ranh giới): bao gồm các mô liên kết mềm xốp giúp giữ các tế bào chất béo gắn kết  lại với nhau.

Các mạch máu.

Số lượng các tế bào chất béo ở mô dưới da thì khác nhau ở các vùng trên cơ thể . Hơn  nữa, sự tạo thành các tế bào này cũng khác nhau giữa nam và nữ,cũng như cấu trúc của các bộ phận khác của da.

Chức năng của da

Làn da rất quan trọng đối với sức khỏe và tinh thần của chúng ta. Một làn da khỏe hoạt động như một rào cản giữa thế giới bên ngoài và bên trong cơ thể, và là sự bảo vệ cơ thể đầu tiên và tốt nhất.

Lạnh, nóng, mất nước và tia bức xạ

Như là lớp ngoài cùng của da, lớp sừng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể khỏi môi trường và hạn chế sự mất nước của biểu bì.

Chúng có chứa các nhân tố dưỡng ẩm tự nhiên (NMFs)- bắt nguồn từ tuyến bã nhờn của lớp sừng bao gồm lactic và ure. Những chất này gắn kết với nước và giúp duy trì được sự đàn hồi, sự vững chắc và mềm mại của da. Nếu các nhân tố này bị suy yếu, da sẽ mất đi độ ẩm. Khi độ ẩm của lớp sừng xuống còn  từ 8- 10%, da trở nên khô, sần sùi và có xu hướng bị nứt nẻ.

Khi da tiếp xúc thường xuyên với ánh nắng mặt trời, sự sản sinh sắc tố ở lớp đáy tăng lên, da trở nên dày hơn để tự bảo vệ và chứng tăng sắc tố da có thể xảy ra. Các tế bào mở ở mô dưới da cũng giúp cô lập cơ thể khỏi nhiệt độ nóng và lạnh

Áp lực, dòng chảy và sự mài mòn

Một lần nữa, các lớp biểu bì tạo thành lớp đầu tiên để bảo vệ. Các tế bào mỡ ở mô dưới da cung cấp lớp đệm hoạt động như thiết bị giảm va chạm, bảo vệ các mô cơ và các sợi mô bao quanh cơ ở phía dưới.

Khi da tiếp xúc với các nhân tố bên ngoài, sẽ làm cho lớp sừng dày lên, ví dụ khi các vết chai ở tay hay chân sẽ càng dày lên khi bị cọ xát nhiều.

Các vật chất hóa học

Khả năng đệm của màng hydrolipid và axit bảo vệ giúp bảo về cơ thể khỏi các chất hóa học có tính kiềm gây hại.

Vi khuẩn và vi rút

Lớp sừng của biểu bì và các axit bảo vệ chống lại các loại vi khuẩn và nấm. Nếu có tác nhân nào đó vượt qua được rào cản đầu tiên thì hệ thống miễn dịch của da sẽ phản ứng lại

Điều chỉnh nhiệt độ

Da đổ mồ hôi giúp làm mát cơ thể và thu nhỏ lại hệ thống các mạch máu ở hạ bì để giữ nhiệt.

Kiểm soát cảm xúc

Đầu các dây thần kinh ở da khiến da nhạy cảm với áp lực, chấn động, va chạm, nỗi đau và nhiệt độ .

Sự tái tạo

Da có khả năng phục hồi các vết thương

Nguồn thức ăn

Các tế bào chất béo ở mô dưới da cung cấp các chất dinh dưỡng quan trọng. Khi cơ thể cần, những chất này sẽ được di chuyển đến các mạch máu và đưa đến nơi cần thiết.

Da cũng đóng một vai trò quan trọng về tâm lý

Là chỉ số dễ thấy nhất của sức khỏe, tình trạng da của chúng ta ảnh hưởng đến cách chúng ta cảm thấy về bản thân mình và cách người khác cảm nhận chúng ta ra sao. Khi làn da khỏe mạnh và không có bất kì vấn đề gì, nó có thể làm mọi chuyện tốt hơn và chúng ta sẽ cảm thấy thoải mái và tự tin hơn.

Các độ tuổi và giai đoạn khác nhau

Làn da của trẻ sơ sinh

Làn da của trẻ sơ sinh chỉ dày bằng khoảng một phần năm da của người lớn. Nó có số lớp da giống nhau tuy nhiên mỗi lớp thì mỏng hơn, làm cho làn da trở nên đặc biệt mỏng manh và nhạy cảm

Lớp da ở phía ngoài cùng của biểu bì (lớp sừng) thì rất mỏng và các tế bào được sắp xếp ít chặt chẽ hơn làn da của người lớn tuyến mồ hôi và bã nhờn thì ít hoạt động màng hydrolipidvà các acid bảo vệ vẫn còn tương đối yếu. Điều này có nghĩa là hàng rào chức năng dễ bị tổn hại và làn da của trẻ em thì:

Ít đề kháng hơn

Đặc biệt nhạy cảm với các tác động hóa học, vật lý và vi khuẩn

Có thiên hướng bị khô ráp

Nhạy cảm hơn với tia UV.

Độ nhạy cảm với tia UV bị tăng lên nhiều bởi lượng sắc tố da thấp ở da của trẻ em. Tế bào biểu bì tạo hắc tố (tế bào có nhiệm vụ sản sinh hắc tố) thì luôn hiện diện nhưng ít hoạt động do đó trẻ sơ sinh cần được tránh xa khỏi măt trời.

Trẻ sơ sinh thì khó điều chỉnh nhiệt độ cơ thể hơn người lớn. Điều đó là bởi vì:

Bề mặt da của cơ thể tương đối rộng.

Tuyến mồ hôi ít hoạt động.

Sự lưu thông của da thích ứng chậm.

Làn da của trẻ em

Ở độ tuổi  lên 4 , làn da và các phần phụ (như tóc, móng, các tuyến) thì đã bắt đầu phát triển một chút. Tuy nhiên, làn da của trẻ em vẫn mỏng hơn và có sắc tố da ít hơn người lớn. Bởi vì cơ chế tự bảo vệ vẫn chưa phát triển nhiều, làn da của trẻ vẫn rất nhạy cảm với tia UV. tìm hiểu thêm về làn da của trẻ emvà làm thế nào để chăm sóc.

Đến khi 12 tuổi, cấu trúc và chức năng của làn da trẻ em bắt đầu tương ứng với da người lớn.

Những năm ở độ tuổi niên thiếu

Sự thay đổi hooc môn khi dậy thì có thể gây tác động nguy hiểm lên da- đặc biệt là lên mặt, vai, ngực và lưng. Việc sản sinh dầu tăng lên và da chết không được tẩy khiến cho da trở nên bóng nhờn và có thể gây mụn. Hiện tượng này thường biến mất khi trưởng thành, mặc dù một vài trường hợp, đặc biệt là phụ nữ, mụn có thể theo xuyên suốt đến tuổi trung niên và hơn nữa.

Độ tuổi 20

Yếu tố di truyền, lối sống và môi trường sẽ quyết định các giai đoạn mà lớp biểu bìvà hạ bì bắt đầu mỏng đi tuy nhiên, ở độ tuổi khoảng 25, những dấu hiệu đầu tiên của lão hóa có thể xuất hiện, thông thường là các vết chân chim.

Khi làn da bắt đầu mỏng đi, hàng rào bảo vệ tự nhiên chống lại /uv của da dần dần bị giảm.

Lượng collagen và độ linh hoạt của da bắt đầu bị triệt tiêu với tỉ lệ xấp xỉ 1% 1 năm

Vào những năm 30 tuổi

Hàng rào bảo vệ của da ngày càng yếu đi.

Các quá trình trao đổi chất của các tế bào bắt đầu chậm lại.

Độ ẩm của da giảm đi.

Độ đàn hồi của da giảm.

Những năm 40 đến cuối 50 tuổi

Trong những thập kỉ tới, cấu trúc của da sẽ dần dần thay đổi:

Biểu bì. Sự sắp xếp từng lớp của biểu bì thì bị mất đi. Chỉ có một số ít tế bào được định dạng, các tế bào đang tồn tại thì bị co lại và lớp trên cùng của da trở nên mỏng hơn. Điều này khiến cho da :

Da sẽ sần sùi và thô ráp hơn.

Xuất hiện các vùng da bị tăng sắc tố

Các vết thương thì khó lành và tăng nguy cơ bị nhiễm trùng da.

Hạ bì Các mô liên kết ở lớp giữa của da mất đi cấu trúc sợi và khả năng giữ nước và kết cấu đàn hồi bị thoái hóa, khiến cho da kém khỏe và mất đi độ đàn hồi và xuất hiện các nếp nhăn

Sự phát triển của các mạch máu ở hạ bì cũng giảm dần. Hạ bì cung cấp các chất dinh dưỡng tới biểu bì, nếu không được nuôi dưỡng, cả 2 lớp và sự liên kết giữa chúng sẽ trở nên mỏng manh, dẫn đến kết quả giảm mật độ và làm da kém săn chắc, phổ biến ở phụ nữ tiền mãn kinh. Sự lưu thông máu giảm cũng là nguyên nhân dẫn đến da kém tươi sáng. Làn da sẽ trở nên sạm màu và các mao mạch có thể bị vỡ.

Những năm 60 và 70 tuổi

Chức năng tự nhiên của da là sản sinh lipids sẽ bị giảm đi dẫn đến tình trạng da bị khô, mất nước và có nhiều nếp nhăn.

Quá trình tái tạo da chậm laị và da ngày càng mỏng đi dẫn đến kết quả là sự giảm mật độ và giảm thể tích. Khả năng làm lành các vết thương của da suy giảm.

Độ nhay cảm với tia UV tăng lên và da có xu hướng tăng sắc tố da (đồi mồi)

Kể từ năm 70 tuổi về sau, chức năng miễn dịch của da sẽ bị suy giảm, khiến da dễ bị nhiễm trùng.

Chuyện gì sẽ xảy ra khi da bị tổn thương?

Làn da khỏe mạnh, không có bất kì các vấn đề gì thì sẽ đều màu,cấu trúc mềm mại, đủ độ ẩm,  là cơ quan cảm thụ  tốt những va chạm, áp lực và nhiệt độ. Khi hàng rào tự nhiên của da bị suy yếu, chức năng bảo vệ và vẻ bên ngoài khỏe mạnh  của làn da sẽ bị tổn thương:

Da mất đi độ ẩm và độ đàn hồi và có thể nhìn và cảm thấy khô, nứt nẻ và / hoặc chảy xệ.

Da ngày càng trở nên nhạy cảm hơn với các ảnh hưởng bên ngoài (mặt trời, sự thay đổi nhiệt độ) và đặc biệt dễvbị nhiễm trùng.

Làn da bị nhiễm trùng có thể trở nên viêm, các tế bào đề kháng sẽ cố gắng để phục hồi hàng rào bảo vệ bị tổn hại và làm lành sự nhiễm trùng đó. Trong trường hợp mắc các bệnh như viêm da cơ địa và da đầu bị ngứa, các phương pháp điều trị đặc biệt thường được áp dụng để phá vở vòng luẩn quẩn khi bị ngứa và nhiễm trùng và giúp tái tạo lại hàng rào bảo vệ tự nhiên của da.

Da có cơ chế phục hồi và tái tạo khác nhau. Lớp đáy đảm bảo sự tái tạo biểu bì nhanh chóng, thông qua sự phân chia tế bào liên tục:

Nếu có bất kì tổn thương nào xảy ra đối với lớp da trên cùng, tổn thương đó (được biết như là sự ăn mòn) có thể lành lại mà không để lại sẹo.

Nếu tổn thương đến lớp hạ bì  và màng đáy bị ảnh hưởng (như các vết loét) thì sẹo sẽ được hình thành.

Quá trình lành vết thương thường tuân theo các giai đoạn liên tiếp sau đây:

Máu đông sẽ hình thành một lớp màng có bề mặt cứng dính vào vết thương (vỏ cứng hay vảy).

Các tế bào chết, tổn thương và các mô liên kết bị phá vỡ và bị phân hủy bởi enzym.

Các tế bào bảo vệ cơ thể hoạt động bằng cách tiêu biến các vi khuẩn có hại và các tế bào chết. Dịch  bạch huyết chảy kết dính các vết thương.

Các tế bào mới – bao gồm các mao mạch mới, các mô liên kết và sợi collagen- được hình thành trong quá trình tạo thành biểu mô.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bài 1: Cấu Trúc Của Da / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!