Đề Xuất 11/2022 # Adb: Đề Xuất Giải Pháp Thúc Đẩy Thị Trường Trái Phiếu Doanh Nghiệp Tại Việt Nam / 2023 # Top 20 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # Adb: Đề Xuất Giải Pháp Thúc Đẩy Thị Trường Trái Phiếu Doanh Nghiệp Tại Việt Nam / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Adb: Đề Xuất Giải Pháp Thúc Đẩy Thị Trường Trái Phiếu Doanh Nghiệp Tại Việt Nam / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

(thitruongtaichinhtiente.vn) – Một cơ quan xếp hạng đáng tin cậy và có uy tín là một trong những mảnh ghép còn thiếu trong thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang phát triển nhanh chóng tại Việt Nam. Việc thu hút một cơ quan xếp hạng toàn cầu đầu tư vào một trong những cơ quan xếp hạng địa phương hiện tại hoặc trong tương lai là rất quan trọng cho sự tín nhiệm đó.

Nhận định trên vừa được Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) vừa đưa ra trong báo cáo “Tiềm năng đầu tư nước ngoài vào cơ quan xếp hạng tín dụng trong nước tại Việt Nam – The Potential for Foreign Investment in a Domestic Credit rating Agency in Viet Nam”.

Báo cáo được ADB xây dựng nhằm đánh giá mức độ hấp dẫn của thị trường trái phiếu Việt Nam từ quan điểm của một cơ quan xếp hạng tín nhiệm toàn cầu. Báo cáo dự định sẽ giúp cơ quan xếp hạng tín nhiệm toàn cầu cân nhắc việc tham gia thị trường, lý tưởng là hợp tác với các bên tham gia khác trên thị trường.

Theo ADB, Việt Nam là nền kinh tế lớn thứ 6 của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực. So với các quốc gia châu Á khác, Việt Nam bị ảnh hưởng ít nhất từ dịch bệnh do vi-rút corona gây ra.

Mặc dù dự kiến có sự suy giảm tăng trưởng kinh tế ngắn hạn trong năm 2020, song nền kinh tế Việt Nam được kỳ vọng sẽ quay trở lại quỹ đạo tăng trưởng trong năm 2021 và giữ vững vị thế là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất của khu vực.

ADB cho biết, thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Việt Nam đã gia tăng nhanh chóng kể từ năm 2017 và lượng phát hành trị giá 12,8 tỷ USD trong năm 2019 đã lớn hơn so với con số của Indonesia và Philippines.

Trái phiếu phát hành riêng lẻ chiếm tới 94% tổng lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong năm 2018 và 2019 sau khi có sự nới lỏng các quy định về công bố thông tin và điều kiện phát hành.

“Tuy nhiên, việc thiếu văn hóa xếp hạng tín nhiệm đặt ra những rủi ro đáng kể đối với thị trường trái phiếu và lĩnh vực tài chính, đặc biệt khi các nhà đầu tư riêng lẻ hiện đang sở hữu gần một phần tư tổng lượng trái phiếu phát hành”, ADB nhận định.

Cũng theo ADB, việc thiếu nhu cầu xếp hạng tín nhiệm trong quá khứ luôn là nhân tố hạn chế đối với các cơ quan xếp hạng tín nhiệm trong nước ở Việt Nam. Hai công ty xếp hạng tín nhiệm trong nước đã được Bộ Tài cính cấp phép (công ty thứ nhất trong năm 2017 và công ty thứ hai vào tháng 3 năm 2020). Tuy nhiên, cả hai đơn vị này đều chưa hoạt động.

Luật Chứng khoán mới ban hành năm 2019 yêu cầu một số trái phiếu phát hành ra công chúng (nhưng không phải phát hành riêng lẻ) phải được xếp hạng bởi một đơn vị xếp hạng tín nhiệm trong nước sẽ có hiệu lực kể từ tháng 1/2021.

Hơn nữa, dự thảo các quy định hướng dẫn thực hiện Luật Chứng khoán mới chỉ đòi hỏi rất ít, nếu không muốn nói là không đòi hỏi, trái phiếu phát hành phải được xếp hạng, khác với các thị trường ASEAN khác nơi quy định bắt buộc phải xếp hạng tín nhiệm đối với các trái phiếu phát hành ra công chúng – và thường là cả phát hành riêng lẻ – trong suốt những năm hình thành trái phiếu.

Các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam đang mong muốn nhìn thấy sự tăng trưởng có trật tự của một thị trường trái phiếu lành mạnh và đã bày tỏ cam kết mạnh mẽ đối với các cơ quan xếp hạng tín nhiệm trong nước.

Sự tăng trưởng của thị trường trái phiếu doanh nghiệp từ năm 2017 là bền vững và bối cảnh kinh doanh cho một công ty xếp hạng tín nhiệm toàn cầu gia nhập thị trường Việt Nam thông qua một thỏa thuận dịch vụ kỹ thuật là rất hấp dẫn. Một thỏa thuận dịch vụ kỹ thuật sẽ mang lại việc gia nhập thị trường với rủi ro thấp.

ADB cho rằng, các bên gia nhập thị trường Việt Nam sẽ mong muốn được chứng kiến sự hợp tác của các thể chế địa phương với một công ty xếp hạng toàn cầu. Hơn nữa, hợp tác kỹ thuật giữa một công ty xếp hạng tín nhiệm toàn cầu và một đơn vị xếp hạng tín nhiệm trong nước sẽ giúp nâng cao uy tín của đơn vị xếp hạng trong nước, dẫn tới sự chấp nhận rộng rãi hơn của thị trường và sử dụng xếp hạng của công ty xếp hạng trong nước nhiều hơn.

“Càng nhiều trái phiếu được xếp hạng – cho dù thông qua những thay đổi trong văn hóa hay quy định về xếp hạng – bối cảnh kinh doanh sẽ càng rõ ràng hơn để một công ty xếp hạng quốc tế vượt ra ngoài khuôn khổ thỏa thuận kỹ thuật và đầu tư cổ phần vào một công ty xếp hạng tín nhiệm trong nước đã được thành lập hoặc một đơn vị mới”, ADB nhấn mạnh.

Chuyên Đề:“Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Trái Phiếu Việt Nam” / 2023

Chuyên đề:“Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam”

1. Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam/ Nguyễn Thị Phương Liên

Tóm tắt: Thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP) có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Những năm gần đây, thì trường TPCP Việt Nam đã đạt được những thành công nhất định nhưng cũng còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển thị trường TPCP Việt Nam giai đoạn 2010-2015 từ các nguồn thông tin, dữ liệu thứ cấp, bài viết chỉ ra một số hạn chế về chủng loại hàng hóa, phương thức giao dịch, cơ sở nhà đầu tư; làm rõ các nguyên nhân chính dẫn đến những hạn chế trong quá trình phát triển của thị trường như hệ thống thông tin thị trường, các điều kiện cơ sở hạ tầng, môi trường pháp lý… Từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp cho sự phát triển an toàn, hiệu quả của thị trường trong thời gian tới.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Thương mại/ 2017, Số 103, Tr. 3-12

2. Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam/ Phạm Thị Thanh Tâm, Đỗ Đức Minh

Tóm tắt: Trong cấu trúc của thị trường tài chính, thị trường trái phiếu là kênh dẫn vốn trung -dài hạn, hỗ trợ cho thị trường cổ phiếu và thị trường tín dụng ngân hàng. Thị trường trái phiếu cho phép huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và giảm nhu cầu vốn hóa vào hệ thống ngân hàng đặc biệt là vốn trung – dài hạn. Đối với thị trường trái phiếu Việt Nam, thị trường trái phiếu chính phủ phát triển mạnh trong giai đoạn vừa qua về quy mô, cấu trúc, cơ sở hạ tầng. Trong khi đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp chưa phát triển, quy mô còn nhỏ (đến 31/12/2016 chiếm 5,27 phần trăm GDP), thanh khoản thấp. Điều này tác động đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp nói riêng bà sự phát triển của thị trường trái phiếu Việt Nam nói chung. Chính vì vậy, việc phát triển và hoàn thiện thị trường trái phiếu doanh nghiệp là một trong những ưu tiên hàng đầu trong phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2017-2020, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp huy động vốn quan thị trường trái phiếu, đặc biệt là vốn trung – dài hạn, giảm bớt áp lực cho kênh tín dụng ngân hàng, phù hợp với xu hướng và thông lệ quốc tế.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế Tài chính Việt Nam/ 2017, Số 4, Tr. 60-70

3. Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam/ Nguyễn Thị Thúy Hà

Tóm tắt: Là một bộ phận của thị trường tài chính, những năm qua, thị trường trái phiếu Việt Nam đã có những bước phát triển tương đối mạnh mẽ, đóng góp không nhỏ vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội, cung cấp một lượng vốn lớn cho xây dựng cơ sở hạ tầng, cho đầu tư phát triển và các chương trình tín dụng chính sách mục tiêu của Nhà nước. Nếu như năm 2001, quy mô thị trường trái phiếu mới chỉ dừng ở mức 2,82 phần trăm GDP thì đến cuối năm 2012, con số này đã là 21,6 phần trăm GDP. Tuy vậy, nếu xét trên phương diện tổng thể, thị trường trái phiếu Việt Nam vẫn đang tồn tại những hạn chế như: Quy mô và phạm vi của thị trường trái phiếu còn nhỏ, tính thanh khoản chưa cao, cấu trúc thị trường chưa hoàn chỉnh, hệ thống nhà đầu tư (đặc biệt các định chế đầu tư dài hạn) còn mỏng… Bài viết phân tích thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp phát triển thị trường này nhằm huy động vốn cho đầu tư phát triển.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng/ 2015, Số 159, Tr. 50-54

4. Triển vọng thị trường trái phiếu Việt Nam năm 2016/ Trịnh Thị Vân Anh

Tóm tắt: Để phấn đấu đạt mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016 -2020 là giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đi đôi với đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển bền vững; nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển ngày càng lớn, trong đó huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu giữ vai trò quan trọng.

Nguồn trích: Tạp chí Quản lý ngân quỹ quốc gia/ 2016, Số 1, Tr. 28-29

5. Phát hành trái phiếu chính phủ: Kết quả năm 2016 và triển vọng năm 2017/ Trịnh Thị Vân Anh

Tóm tắt: Năm 2016, KBNN đã hoàn thành nhiệm vụ huy động vốn cho NSNN theo Nghị quyết của Quốc hội giao, đạt được trên cả 5 tiêu chí về khối lượng huy động, kỳ hạn, lãi suất trái phiếu, phương thức, sản phẩm phát hành và cơ cấu nhà đầu tư. Năm 2017, được đánh giá là một năm hứa hẹn nhiều cơ hội để phát triển thị trường TPCP theo chiều sâu.

Nguồn trích: Tạp chí Quản lý ngân quỹ Quốc gia/ 2017, Số 01, Tr. 32-33

6. Phát hành trái phiếu quốc tế của Chính phủ Việt Nam: Thực trạng và đánh giá/ Lê Thị Vân Anh

Tóm tắt: Tính đến năm 2016, Việt Nam đã trả qua 3 lần Chính phủ phát hành trái phiếu quốc tế thành công. Những lần phát hành này đã thiết lập điểm chuẩn cho trái phiếu Việt Nam trên thị trường quốc tế; mở đường cho các doanh nghiệp lớn của Việt Nam trực tiếp huy động nguồn vốn trung và dài hạn bằng ngoại tệ; hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế nhằm đa dạng hóa các hình thức huy động vốn đầu tư. Việc nhiều nhà đầu tư lớn quốc tế tham gia mua trái phiếu Việt Nam là điều kiện tốt để tăng tính thanh khoản cho trái phiếu khi giao dịch trên thị trường thứ cấp, tạo thuận lợi cho những lần phát hành tiếp theo.

Nguồn trích: Tạp chí Tài Chính/ 2016, Số 636, Tr. 46-47

7. Đồng bộ giải pháp thúc đẩy thị trường trái phiếu phát triển nhanh và bền vững/ Minh Khôi

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường trái phiếu Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế cả về thanh khoản, quy mô thị trường, cơ sở nhà đầu tư…tới đây, Bộ Tài chính sẽ triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy thị trường này phát triển nhanh và bền vững hơn.

Nguồn trích: Tạp chí Điện tử Tài chính

8. Phát triển hệ thống cơ sở nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu Việt Nam/ Vụ Tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính

Tóm tắt: Để phát triển hệ thống cơ sở nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, đồng thời tăng cường tính liên thông của thị trường tiền tệ với thị trường trái phiếu nhằm phát triển sâu rộng và bền vững thị trường này.

Nguồn trích: Tạp chí Điện tử Tài chính

9. Giải pháp đồng bộ phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam/ Vụ Tài chính ngân hàng (Bộ Tài chính)

Tóm tắt: Thị trường trái phiếu của Việt Nam đang ngày càng lớn mạnh và trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế. Để tận dụng tốt kênh dẫn vốn này đối với việc phát triển kinh tế đất nước, thời gian tới cần tiếp tục đề ra những giải pháp định hướng phát triển thị trường trái phiếu, góp phần phát triển thị trường vốn Việt Nam ổn định, bền vững.

Nguồn trích: Tạp chí Điện tử Tài chính

10. Một số giải pháp phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp/ Nguyễn Thị Phương Dung

Tóm tắt: Mặc dù hành lang pháp lý cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Việt Nam đã phát triển khá đầy đủ, tiềm năng thị trường rất lớn nhưng thực tiễn hoạt động của thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn khiêm tốn (kết thúc năm 2016, quy mô thị trường chỉ chiếm 5,27% GDP). Để thị trường trái phiếu doanh nghiệp của nước ta phát triển, trở thành kênh huy động vốn hiệu quả cho doanh nghiệp, cần triển khai nhiều giải pháp tích cực và đồng bộ.

Nguồn trích: Tạp chí Điện tử Tài chính

11. Thị trường trái phiếu chính phủ: Kỳ vọng tăng trưởng!/ Trần Thị Minh Hải

Tóm tắt: Mặc dù tình hình huy động vốn trái phiếu chính phủ 5 tháng đầu năm chưa như kỳ vọng, tuy nhiên, với ổn định kinh tế vĩ mô cùng nền tảng phát triển của thị trường trái phiếu trong những năm qua, mục tiêu đề ra trong năm 2015 vẫn có thể đạt được…Bài viết giới thiệu một số khó khăn và đưa ra nhiều kỳ vọng phát triển trong thời gian tới.

Nguồn trích: Tạp chí Điện tử Tài chính

12. Thị trường trái phiếu chính phủ kênh huy động vốn quan trọng cho đầu tư phát triển/ Phạm Nga

Tóm tắt: Sau 5 năm hoạt động (2009 – 2014), thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP) đã trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, cung cấp công cụ chi bao phục vụ điều hành kinh tế vĩ mô, đồng thời góp phần cũng cố hình ảnh và độ tín nhiệm của Việt Nam trên thị trường tài chính quốc tế. Đánh giá này được Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà đưa ra tại Hội nghị tổng kết 5 năm hoạt động và phát triển của thị trường TPCP diễn ra ngày 23/9 tại Hà Nội.

Nguồn trích: Tạp chí Thuế Nhà nước/ 2014, Số 40, Tr. 10-11

Tổng hợp: Võ Hồng Thơ

Đồng Bộ Giải Pháp Thúc Đẩy Thị Trường Trái Phiếu Phát Triển Nhanh Và Bền Vững / 2023

Nhìn lại một số kết quả tích cực

Trong 6 tháng đầu năm, dù còn nhiều khó khăn, thách thức, thị trường trái phiếu tiếp tục gặt hái được một số kết quả tích cực. Cụ thể, đối với thị trường trái phiếu Chính phủ (TPCP), tính đến ngày 21/6/2019, Bộ Tài chính đã huy động được 102.673 tỷ đồng TPCP (không tính 7.000 tỷ đồng phát hành TPCP để nhận nợ với BHXH), bằng 33,4% kế hoạch năm.

Khối lượng trả nợ gốc 6 tháng đầu năm là 98.995 tỷ đồng, theo đó khối lượng huy động ròng (trừ trả nợ gốc) là 3.678 tỷ đồng. 100% khối lượng phát hành có kỳ hạn từ 5 năm trở lên, trong đó 92% khối lượng phát hành có kỳ hạn 10 năm trở lên. Kỳ hạn phát hành bình quân duy trì ở mức cao đạt 13,26 năm.

Trong 6 tháng đầu năm, tỷ lệ nắm giữ TPCP của các nhà đầu tư là tổ chức tài chính phi ngân hàng tiếp tục tăng, đạt khoảng 53% (tăng 0,8% so với mức 52,2% tại thời điểm cuối năm 2018), tỷ lệ nắm giữ của các ngân hàng thương mại đạt khoảng 47%.

Lãi suất phát hành TPCP đã được điều hành phù hợp cung cầu của thị trường và diễn biến thị trường tiền tệ. Theo đó, lãi suất phát hành bình quân ở mức 4,97% năm, tiếp tục duy trì ở mức thấp. Lãi suất phát hành thời điểm cuối tháng 6/2019 thấp hơn 0,2% – 0,5% so với thời điểm cuối năm 2018 ở tất cả các kỳ hạn.

Cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường TPCP có sự cải thiện căn bản với vai trò ngày càng quan trọng của các tổ chức phi ngân hàng và giảm dần tỷ trọng nắm giữ TPCP của các ngân hàng thương mại. Trong 6 tháng đầu năm, tỷ lệ nắm giữ TPCP của các nhà đầu tư là tổ chức tài chính phi ngân hàng tiếp tục tăng, đạt khoảng 53% (tăng 0,8% so với mức 52,2% tại thời điểm cuối năm 2018), tỷ lệ nắm giữ của các ngân hàng thương mại đạt khoảng 47%.

Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), theo thống kê của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), trong 6 tháng đầu năm 2019, khối lượng TPDN phát hành đạt 89.483 tỷ đồng, bằng 134% so với cùng kỳ năm 2018.

Tính đến thời điểm 24/6/2019 dư nợ thị trường TPCN đạt 10,22% GDP năm 2018, tăng 19,2% so với cuối năm 2018 (8,6% GDP). Như vậy, quy mô thị trường TPDN đến nay đã vượt mục tiêu đề ra đến năm 2020 tại Quyết định số 1191/QĐ-TTg ngày 14/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2017-2020 với mục tiêu dư nợ thị trường TPDN đạt 7% GDP vào năm 2020.

Trong thời gian qua, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ lộ trình triển khai các sản phẩm chứng khoán trên TTCK giai đoạn 2019-2025, trong đó giới thiệu các sản phẩm HĐTL trên chỉ số mới (ngoài chỉ số VN30); Hợp đồng quyền chọn chỉ số; HĐTL/HĐQC cổ phiếu đơn lẻ… trong những năm tiếp theo. Vừa qua đã cho ra mắt hai sản phẩm mới đó là sản phẩm chứng quyền có đảm bảo và Hợp đồng tương lai TPCP.

“Nhận diện” hạn chế, thách thức

Bộ Tài chính nhận định, trong 6 tháng đầu năm, khối lượng phát hành TPCP mới chỉ đạt 33,4% kế hoạch năm, dẫn đến khối lượng huy động bị dồn vào 6 tháng cuối năm. Quy mô thị trường TPCP còn nhỏ, thanh khoản trên thị trường thứ cấp chưa ổn định, chịu ảnh hưởng, tác động mạnh của diễn biến trên thị trường tiền tệ. Trường hợp thị trường tiền tệ, ngoại hối diễn biến bất lợi, sẽ gây khó khăn cho ngân sách nhà nước trong công tác huy động vốn TPCP.

Trong khi đó, thanh khoản thị trường TPDN còn hạn chế, mặc dù đã có sự phát triển nhưng quy mô của thị trường TPDN còn nhỏ. Theo đó, các doanh nghiệp chủ yếu vay vốn tín dụng ngân hàng thay vì phát hành trái phiếu để huy động vốn.

Bên cạnh đó, cơ sở nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu cũng chưa đa dạng, thiếu vắng nhà đầu tư dài hạn có tiềm lực tài chính mạnh như các quỹ hưu trí, các quỹ đầu tư, sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài còn hạn chế…

Giải pháp đồng bộ thúc đẩy thị trường trái phiếu phát triển

Trong thời gian tới, để tiếp tục thúc đẩy thị trường trái phiếu phát triển, Bộ Tài chính sẽ tập trung triển khai đồng bộ một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Đối với thị trường TPCP:

Một là, tăng thanh khoản trên thị trường thông qua các giải pháp: (i) phát hành TPCP chuẩn để nhà tạo lập thị trường chào giá cam kết chắc chắn (ii) hoàn thiện cơ sở hạ tầng và hệ thống giao dịch TPCP (ii) cải thiện hệ thống thông tin của thị trường, xây dựng chuyên trang trái phiếu bằng tiếng Anh (iii) phát triển hệ thống nhà tạo lập thị trường TPCP với đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp (iv) rút ngắn thời gian từ khâu phát hành đến niêm yết, giao dịch TPCP.

Hai là, thực hiện các giải pháp đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư TPCP theo hướng phát triển nhà đầu tư dài hạn như BHXH, các doanh nghiệp bảo hiểm, hệ thống quỹ hưu trí tự nguyện và quỹ đầu tư trái phiếu. Nghiên cứu đưa TPCP Việt Nam vào một số chỉ số trái phiếu Quốc tế có uy tín để thu hút sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài.

Bốn là, phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Tài chính với NHNN để điều hành về khối lượng, kỳ hạn, lãi suất phù hợp với điều kiện thị trường, đảm bảo huy động được vốn cho NSNN với chi phí hợp lý, thúc đẩy phát triển thị trường trái phiếu.

Năm là, nghiên cứu, triển khai các sản phẩm mới theo lộ trình phát triển thị trường trái phiếu.

Đối với thị trường TPDN:

Một là, hoàn thiện khung pháp lý về phát hành TPDN. Theo đó, trình Quốc hội dự thảo Luật Chứng khoán sửa đổi, theo hướng (i) doanh nghiệp phát hành TPDN ra công chúng phải xếp hạng tín nhiệm để nâng cao tính công khai, minh bạch; (ii) gắn việc phát hành TPDN ra công chúng với niêm yết, giao dịch trên TTCK để nâng cao tính thanh khoản của trái phiếu; (iii) TPDN phát hành riêng lẻ chỉ được phát hành, giao dịch giữa các nhà đầu tư chuyên nghiệp.

Hai là, phát triển các tổ chức xếp hạng tín nhiệm và khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ xếp hạng tín nhiệm trên thị trường TPDN.

Ba là phát triển cơ sở nhà đầu tư trên thị trường TPDN, bao gồm các định chế đầu tư chuyên nghiệp và cá nhân đầu tư chuyên nghiệp để đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư.

Bốn là, vận hành và nâng cấp chuyên trang thông tin tập trung về TPDN tại HNX để tăng cường tính công khai, minh bạch trong quá trình huy động vốn trái phiếu.

Năm là, đối với TPDN phát hành ra công chúng, rà soát để rút ngắn quá trình chấp thuận. Đối với việc niêm yết, giao dịch tại HNX, hoàn thiện cơ sở hạ tầng và hệ thống giao dịch trái phiếu để chuẩn hóa quy trình niêm yết, giao dịch, tăng tính thanh khoản của trái phiếu.

Đề Xuất Giải Pháp Thúc Đẩy Xuất Khẩu Mặt Hàng Gạo Của Việt Nam / 2023

Thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng gạo theo hướng bền vững là một vấn đề cấp thiết đối với Việt Nam. Bài viết này phân tích thực trạng tình hình sản xuất và xuất khẩu gạo ở Việt Nam hiện nay và đề xuất một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu bền vững mặt hàng gạo trong thời gian tới.

Từ khóa: Mặt hàng gạo, xuất khẩu, giải pháp.

1. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam

Việt Nam có truyền thống trồng lúa lâu đời, lúa gạo là một lương thực quan trọng và chủ yếu nhất đối với người dân Việt Nam, lúa gạo ngoài dùng làm lương thực cho người, thức ăn cho vật nuôi còn dùng để chế biến các sản phẩm khác… Đặc biệt với một nước dân số đông tới khoảng trên 90 triệu người, việc tự sản xuất lúa là rất quan trọng. Việt Nam có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây lúa có 2 vựa lúa chính là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Diện tích sản xuất lúa được xếp hạng 5 và xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thế giới, gạo Việt Nam đã được xuất khẩu sang gần 160 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm 15% thị phần gạo toàn cầu và cũng bước đầu thâm nhập được các thị trường có yêu cầu chất lượng cao, như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, EU,…

Diện tích gieo trồng các vụ lúa ở nước ta từ năm 2015 đến năm 2019 có sự thay đổi qua các năm, được thể hiện qua Bảng 1.

Nhìn chung từ năm 2015 đến năm 2019, tổng diện tích gieo trồng ở nước ta có xu hướng giảm đi, do nhiều nơi người dân chuyển đổi dần từ trồng lúa sang trồng các cây nông nghiệp (điều, cao su, tiêu,…) cho giá trị kinh tế cao hơn; một số địa phương cũng phải ưu tiên dành đất nông nghiệp cho phát triển công nghiệp, kết cấu hạ tầng và đô thị hóa. Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề an ninh lương thực quốc gia.

Nhìn chung, từ năm 2015 đến năm 2019, sản lượng lúa các mùa vụ sụt giảm qua các năm, chỉ có năm 2018 là sản lượng có tăng so với năm 2017. Nguyên nhân là do diện tích gieo trồng bị thu hẹp dần, người dân dần chuyển sang loại nông sản cho thu nhập cao hơn. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam. (Bảng 2)

2. Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam

– Sản lượng gạo xuất khẩu

Theo thống kê sơ bộ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong tháng 12/2019, khối lượng gạo xuất khẩu ước đạt 474.000 tấn với giá trị đạt 214 triệu USD. Lũy kế năm 2019, khối lượng xuất khẩu ước đạt 6,34 triệu tấn và 2,79 tỉ USD, tăng 3,9% về khối lượng nhưng giảm 9,7% về giá trị so với cùng kì năm 2018. Về thị trường xuất khẩu, Philippines đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam với khoảng hơn 30% thị phần. Ngoài ra, các thị trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh như Bờ biển Ngà (+64,5%), Australia (63,9%), Hồng Kông (+43,5%), Ả Rập Saudi (+31,3) và Iraq (24,8%).

Theo Tổng cục Hải quan, trong tháng 6/2019, Việt Nam xuất khẩu 536.059 tấn gạo trị giá 280,122 triệu USD, giảm 28,1% về khối lượng và 26,7% về giá trị so với tháng 5/2019. Như vậy, lượng gạo xuất khẩu được trong 6 tháng đầu năm 2019 là 3.341.386 tấn, giá trị 1.767.679 triệu USD.

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu gạo tháng 9/2019 sụt giảm 20,4% về lượng và giảm 21,7% về kim ngạch so với tháng 8/2019, đạt 479.363 tấn, tương đương 210,94 triệu USD; tuy nhiên so với cùng tháng năm 2018 thì tăng 33,1% về lượng và tăng 21,3% về kim ngạch. Giá xuất khẩu gạo trong tháng 9/2019 đạt trung bình 440 USD/tấn, giảm 1,7% so với tháng liền kề trước đó và giảm 8,9% so với tháng 9/2018.

Biểu đồ 1 cho thấy sản lượng gạo Việt Nam xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm 2019 không có sự tăng trưởng nhiều so với năm 2018, thậm chí có tháng sản lượng xuất khẩu thấp hơn, sản lượng gạo xuất khẩu chỉ có sự tăng trưởng vượt bật trong tháng 2 so với năm 2018.

Cộng chung cả 9 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu gạo của cả nước đạt 5,06 triệu tấn, thu về 2,2 tỷ USD, tăng 3,4% về lượng, nhưng giảm 10,4% về kim ngạch so với 9 tháng đầu năm 2018; giá xuất khẩu trung bình giảm 13,4%, đạt 435,6 USD/tấn.

– Thị trường xuất khẩu chính và kim ngạch xuất khẩu

Tính chung năm 2019, cả nước xuất khẩu 6,37 triệu tấn gạo, tương đương 2,81 tỷ USD, tăng 4,1% về lượng, nhưng giảm 8,4% về kim ngạch so với năm 2018. Giá xuất khẩu đạt 440,7 USD/tấn, giảm 12,1%. Trong năm 2019, xuất khẩu gạo sang hầu hết các thị trường tăng cả về lượng và kim ngạch so với năm 2018, tuy nhiên, giá gạo xuất khẩu sang tất cả các thị trường sụt giảm so với năm trước. Trong đó, đáng chú ý có các thị trường tăng mạnh như: Senegal tăng gấp 577 lần về lượng và tăng gấp 296,8 lần về kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 53.706 tấn, tương đương 16,91 triệu USD; Brunei tăng 304,5% về lượng và tăng 279,4% về kim ngạch, đạt 7.868 tấn, tương đương 3,27 triệu USD; Bỉ tăng 145% về lượng và tăng 189,8% về kim ngạch, đạt 1.278 tấn, tương đương 0,88 triệu USD; Angola tăng 257,3% về lượng và tăng 138,3% về kim ngạch, đạt 13.459 tấn, tương đương 5,05 triệu USD.

Ngược lại, một vài thị trường xuất khẩu gạo bị sụt giảm mạnh, gồm có: Indonesia giảm gần 95% cả về lượng và kim ngạch; Bangladesh giảm 76% về lượng và giảm 79,4% về kim ngạch; Thổ Nhĩ Kỳ giảm 70,9% về lượng và giảm 75,8% về kim ngạch. (Biểu đồ 2)

3. Một số đề xuất về giải pháp xuất khẩu bền vững gạo Việt Nam

3.1. Đối với Nhà nước

Trước hết, về Quy hoạch lại sản xuất lúa gạo.

Nhà nước cần có các biện pháp quy hoạch lại sản xuất lúa gạo nhằm nâng cao sản lượng gạo của cả nước đảm bảo đến năm 2030, các vùng sản xuất lúa gạo xuất khẩu ổn định, hiệu quả và bền vững, đưa gạo Việt Nam trở thành thương hiệu hàng đầu thế giới về chất lượng, an toàn thực phẩm.

Trên cơ sở Quyết định số 124/QĐ-TTg, ngày 02/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Qui hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành Nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần hướng dẫn các địa phương rà soát quy hoạch cho phù hợp với điều kiện cụ thể, phát triển những ngành hàng có lợi thế của địa phương.

Thông qua hệ thống khuyến nông để chuyển tải các tiến bộ kỹ thuật mới đến nông dân và hướng dẫn nông dân phát triển sản xuất theo qui hoạch, sử dụng các công nghệ canh tác mới, giống mới, đảm bảo nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hóa.

Thực hiện đào tạo nâng cao trình độ cho người nông dân, việc này cần chú trọng ngay từ các thế hệ nông dân trẻ. Trước tiên là giáo dục nhận thức cho họ, sau đó là đào tạo về kỹ thuật, nâng cao khả năng tiếp nhận công nghệ,… Để hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại cần phải có nông dân có trình độ. Bên cạnh đó, đào tạo các cán bộ nghiên cứu, cán bộ khuyến nông để giúp nông dân áp dụng công nghệ và kĩ thuật vào sản xuất.

Phát triển thương hiệu gạo vùng, địa phương thông qua phát triển thương hiệu gạo vùng, địa phương đã được bảo hộ. Xây dựng và phát triển mới các thương hiệu gạo vùng, địa phương. Ưu tiên lựa chọn 3 giống gạo đặc sản tại vùng đồng bằng sông Cửu Long để hỗ trợ xây dựng, phát triển thành thương hiệu gạo vùng, địa phương hướng tới trở thành thương hiệu quốc gia, bao gồm: giống jasmine, giống lúa thơm và giống nếp đặc sản.

Thứ hai, có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thu mua gạo tạm trữ xuất khẩu và chính sách trợ giá cho nông dân. Thứ ba, hợp tác với các quốc gia xuất khẩu gạo lớn để chiếm lĩnh thị trường.

Trong cơ chế thị trường, giá cả biến động theo qui luật cung cầu, đa số các mặt hàng nông sản là loại hàng hóa thường sản xuất theo thời vụ, tiêu thụ cả năm, nên có nơi, có lúc vào vụ thu hoạch tiêu thụ không kịp giá bị rớt, nhất là khi được mùa lớn. Để hạn chế tình trạng này, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thu mua gạo tạm trữ xuất khẩu và có chính sách trợ giá cho nông dân.

Vấn đề của Việt Nam là không có đủ gạo có chất lượng cao để xuất khẩu, trong khi gạo chất lượng thấp và gạo 25% tấm rất nhiều nhưng lại rất khó xuất khẩu, do nhu cầu thị trường đối với loại gạo này thấp và phải cạnh tranh với gạo của Ấn Độ và Pakistan có giá thấp hơn nên gạo chất lượng thấp và gạo 25% tấm của Việt Nam rơi vào tình trạng ế ẩm. Đã đến lúc Việt Nam và các quốc gia xuất khẩu gạo chủ đạo trong khu vực phải hợp tác thành một khối, nhằm cạnh tranh và giành lại lợi thế trên thị trường gạo quốc tế.

Trước hết, cần ứng dụng khoa học công nghệ vào chế biến gạo xuất khẩu. Thứ hai, cần có giải pháp về phát triển thị trường. Thứ ba, cần có giải pháp về xúc tiến thương mại.

3.2. Đối với doanh nghiệp

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Một yếu tố quan trọng gây hạn chế chất lượng gạo là công nghệ sau thu hoạch. Hoàn thiện công nghệ sau thu hoạch: cần quan tâm đầu tư nâng cấp công nghệ thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch (dùng máy sấy thay cho phơi thóc bằng ánh sáng mặt trời). Tăng cường đầu tư cho công nghiệp xay xát, chế biến gạo, áp dụng các công nghệ tiên tiến trong tạm trữ như sử dụng khí cacbon dioxit, nitơ, công nghệ bảo quản mát. Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho việc cung cấp cây giống, khuyến nông, mua, bảo quản, tồn trữ, vận chuyển, bốc xếp… phải thực hiện quản lý theo tiêu chuẩn ISO, đặc biệt là ở những vùng trọng điểm lúa gạo xuất khẩu.

Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các nước về xuất khẩu gạo như hiện nay và những năm tới, các doanh nghiệp Việt Nam nhất thiết phải có hệ thống các giải pháp hữu hiệu về thị trường ngoài nước. Để tăng sức cạnh tranh của hạt gạo Việt Nam trên thị trường thế giới cần phải có nhiều giải pháp đồng bộ, không chỉ là tăng năng suất và chất lượng sản xuất trong nước để giảm chi phí, mà còn phải mở rộng và ổn định thị trường theo hướng đa dạng hóa, đa phương hóa, đảm bảo chữ tín với khách hàng, tăng cường tiếp thị, đầu tư nghiên cứu và dự báo thị trường… Các giải pháp cụ thể như: Nghiên cứu thị trường, Lựa chọn các thị trường mục tiêu.

Bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước trong vấn đề thị trường, các doanh nghiệp phải chủ động tìm bạn hàng và phương thức kinh doanh thích hợp để xâm nhập, duy trì và mở rộng chỗ đứng trên thị trường gạo thế giới. Các doanh nghiệp cần đa dạng hóa khách hàng và tận dụng cả những hợp đồng có khối lượng không lớn; đồng thời cũng có thể thiết lập quan hệ với các tập đoàn xuyên quốc gia là những tổ chức kinh tế vững mạnh có tầm hoạt động rộng, sự am hiểu về thị trường và khả năng về vốn lớn để đảm bảo thị trường xuất khẩu ổn định.

AEC và giải pháp cho xuất khẩu gạo Việt Nam(2016), Tạp chí Vietnam Logistics Review.

Chanerin Maneechansook (2014), Value Chain of Rice Exported from Thailand to Sweden.

Bộ Công Thương (2017), Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2017 – 2020, định hướng đến năm 2030.

Lê Thị Vân Anh (2016), Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo của Việt Nam, Tạp chí Tài chính.

Trung tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, Báo cáo thường niên ngành Lúa gạo Việt Nam năm 2018 và triển vọng 2019.

Sina Xie và Orachos Napasintuwong (2014), Review of Rice Policies in China, Thailand and Vietnam.

SolutionsTran Thi Thu Huyen to promoting sustainable Vietnam’s rice exports

Faculty of Fundamental Economics

University of Economics – Technology for Industries

Promoting sustainable rice exports is an urgent issue for Vietnam. This article analyzes the current situation of rice production and exports in Vietnam and proposes some solutions to promote sustainable Vietnam’s exports of rice products in the near future.

Keywords: Rice, export, solutions.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Adb: Đề Xuất Giải Pháp Thúc Đẩy Thị Trường Trái Phiếu Doanh Nghiệp Tại Việt Nam / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!