Đề Xuất 2/2023 # 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 6B/Nq # Top 2 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 6B/Nq # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 6B/Nq mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trang chủHOẠT ĐỘNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG TỈNH

10 năm thực hiện Nghị quyết 6b/NQ-BCH và Chỉ thị 03/CT-TLĐ giai đoạn 2010 – 2020 

10 năm qua, đội ngũ nữ CNVCLĐ trên địa bàn tỉnh Quảng Bình ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng, là lực lượng đóng góp quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương; hiện nay, nữ đoàn viên công đoàn chiếm tỷ lệ 57,7%. 

Các đồng chí lãnh đạo LĐLĐ tỉnh biểu dương nữ CNVCLĐ tiêu biểu

Nhận thức rõ tầm quan trọng của Nghị quyết 6b/NQ-BCH về công tác vận động nữ CNVCLĐ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và Chỉ thị 03/CT-TLĐ về tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”; ngay sau khi Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành Nghị quyết, Liên đoàn Lao động tỉnh đã kịp thời xây dựng Kế hoạch triển khai đến các cấp công đoàn trong tỉnh. Trong công tác chỉ đạo đã gắn với việc tổ chức quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đặc biệt là triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/01/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới; Chỉ thị 05-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”… Đồng thời, chỉ đạo công đoàn trực thuộc tranh thủ sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, phối hợp với chuyên môn xây dựng kế hoạch cụ thể, phù hợp với đặc điểm tình hình của từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.

 Kết quả thực hiện chương trình phối hợp với Hội Phụ nữ cùng cấp trong công tác vận động nữ CNVCLĐ được duy trì thường xuyên; đồng thời, tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện từ tỉnh đến cơ sở; qua đó, tổ chức phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước sâu rộng trong các cấp công đoàn được đông đảo nữ đoàn viên nhiệt tình hưởng ứng. Hầu hết Trưởng Ban nữ công LĐLĐ từ tỉnh đến huyện, thị xã, thành phố đều tham gia BCH Hội LHPN cùng cấp, lãnh đạo Hội LHPN từ tỉnh đến cấp huyện đều tham gia BCH LĐLĐ cùng cấp; vì vậy, các chủ trương, chương trình của công đoàn cũng như của hội đều được phối hợp triển khai đầy đủ, kịp thời.

Thực hiện Nghị quyết 12b/NQ-TLĐ của Tổng Liên đoàn Lao động về Ban nữ công quần chúng doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước; đến nay, có 878/878 CĐCS đủ điều kiện đã thành lập ban nữ công quần chúng. Hoạt động của Ban nữ công quần chúng các cấp công đoàn đã phát huy được vai trò tham mưu trong đề xuất những giải pháp nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho lao động nữ, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nữ công nhân, viên chức lao động.

Phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong nữ CNVCLĐ đã phát huy được vai trò, tiềm năng to lớn của nữ CNVCLĐ trong công cuộc đổi mới, góp phần phát triển kinh tế – xã hội và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới; phong trào đã được triển khai sâu rộng, gắn với các phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”; “Phụ nữ Quảng Bình học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Lao động giỏi, lao động sáng tạo” và các phong trào thi đua khác tạo nên khí thế sôi nổi trong lao động sản xuất, học tập, công tác được đông đảo nữ CNVCLĐ tham gia. Thông qua các phong trào thi đua, nữ CNVCLĐ đã không ngừng phấn đấu, rèn luyện và trưởng thành nhiều mặt; phát huy được năng lực, phẩm chất, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cơ quan, đơn vị; thực hiện tốt vai trò người mẹ, người vợ, người con trong gia đình. Nhiều nữ CNVCLĐ đã vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng, vững vàng về chính trị, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, được đảm nhận vị trí lãnh đạo, quản lý trong cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể, đơn vị, doanh nghiệp; hàng năm có trên 95% nữ CNVCLĐ được công nhận danh hiệu “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”.

Kết quả thực hiện các chỉ tiêu của Nghị quyết 6b/NQ-TLĐ: tỷ lệ nữ tham gia BCH công đoàn các cấp đạt 39% (chỉ tiêu 30%); 100% công đoàn cơ sở có 30% nữ CNVCLĐ, đoàn viên công đoàn trở lên có cán bộ lãnh đạo chủ chốt công đoàn là nữ hoặc có nữ là ủy viên Ban Thường vụ, Ban chấp hành công đoàn. Có 100% số cán bộ chủ chốt công đoàn các cấp, 100% số cán bộ nữ công công đoàn cấp trên cơ sở được bồi dưỡng, tập huấn nội dung về bình đẳng giới, lồng ghép giới trong hoạt động công đoàn.

Với những thành tích đã đạt được 10 năm, Tổng LĐLĐ Việt Nam Bằng khen chuyên đề cho 02 cá nhân; LĐLĐ tỉnh tặng Bằng khen chuyên đề cho 20 tập thể, 33 cá nhân, Hội LHPN tỉnh tặng Bằng khen cho 4 cá nhân. Trong công tác chuyên môn, nhiều chị được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, thầy thuốc ưu tú, được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen…

Trong những năm tiếp theo, dự báo sẽ có nhiều thuận lợi, khó khăn đặt ra đối với phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn nói chung và nữ CNVCLĐ nói riêng. Vì vậy, đặt ra cho tổ chức công đoàn các cấp phải đổi mới, sáng tạo, vận dụng linh hoạt trong phương pháp vận động nữ CNVCLĐ và tổ chức các phong trào thi đua trong lao động nữ; cần lựa chọn hình thức tuyên truyền phù hợp với điều kiện sống và làm việc của nữ CNVCLĐ, chú trọng hơn ở doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài nhà nước; tăng cường công tác tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, nâng cao chất lượng nghiệp vụ công tác nữ công; vận động nữ CNVCLĐ tích cực học tập, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, tay nghề; tham gia các hoạt động văn nghệ, thể thao, các phong trào thi đua do các cấp công đoàn phát động; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” gắn với phong trào “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, chú trọng xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến, cụ thể hóa nội dung thi đua, tiêu chuẩn thi đua phù hợp với nữ CNVCLĐ trong từng cơ quan, đơn vi, doanh nghiệp nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công tác vận động nữ CNVCLĐ của các cấp công đoàn trong tỉnh.

                                                                                      Thu Hạnh 

[Trở về]

Các tin đã đăng

Liên đoàn Lao đông tỉnh hỗ trợ xây dựng 29 nhà “Mái ấm Công đoàn”. 

Lãnh đạo Liên đoàn Lao động tỉnh: Thăm hỏi gia đình có nạn nhân bị tai nạn giao thông 

Liên đoàn Lao động tỉnh: Tổ chức “Ngày hội hiến máu tình nguyện” năm 2020 

Công đoàn Quảng Bình: Niềm tin, cầu nối của người lao động 

Hỗ trợ 200 triệu đồng cho người lao động có hoàn cảnh khó khăn 

Hiệu quả Chương trình phối hợp giữa Liên đoàn Lao động tỉnh và Bảo hiểm xã hội tỉnh năm 2019 

Những giải pháp trong công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các chính sách BHXH cho người lao động 

Báo Cáo Sơ Kết Thực Hiện Nghị Quyết 6B/Nq

BÁO CÁO SƠ KẾT Thực hiện Nghị quyết 6b/NQ-BCH về công tác vận động nữ CNVCLĐ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và Chỉ thị 03/CT-TLĐ về phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong nữ CNVCLĐ giai đoạn 2010 – 2015

Thực hiện Hướng dẫn số 21/HD–TLĐ ngày 07/01/2015 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về việc sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 6b/NQ-BCH ngày 29/01/2011 của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa X) “Về công tác vận động nữ công nhân, viên chức, lao động thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” (viết tắt là Nghị quyết 6b) và Chỉ thị 03/CT–TLĐ ngày 18/8/2010 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong nữ CNVCLĐ giai đoạn 2010– 2015 (viết tắt là Chỉ thị 03), Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh Cao Bằng báo cáo kết quả thực hiện như sau:

Phần thứ nhất KẾT QUẢ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 6B/NQ-BCH VÀ CHỈ THỊ 03/CT-TLĐ

Phần thứ hai PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM TRONG NHỮNG NĂM TIẾP THEO

Các Cấp Cđ Tỉnh Khánh Hòa Qua 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 6B: Ngăn Ngừa Kịp Thời Những Vi Phạm

Qua 5 năm thực hiện các giải pháp đồng bộ, hoạt động của Ủy ban Kiểm tra các cấp Công đoàn (UBKTCĐ) tỉnh Khánh Hòa được củng cố và đi vào nề nếp. Thông qua kiểm tra, giám sát, UBKTCĐ đã góp phần nâng cao ý thức chấp hành…

Hơn 5.000 cuộc kiểm tra

Bà Trần Thị Hương – Chủ nhiệm UBKT LĐLĐ tỉnh Khánh Hòa – cho biết, toàn tỉnh hiện có 88.527 đoàn viên (chiếm tỉ lệ 78%), 1.602 Công đoàn cơ sở (CĐCS) với 862 UBKT CĐ, 2.619 ủy viên. Qua 5 năm triển khai Nghị quyết 06b/NQ-TLĐ ngày 3.8.2015 của Ban Chấp hành Tổng LĐLĐVN về “Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động UBKT CĐ”, CĐ các cấp trong tỉnh đã thực hiện tốt các nhiệm vụ theo quy định.

Từ năm 2015 đến nay, UBKT kiểm tra các cấp CĐ đã tổ chức kiểm tra, giám sát việc chấp hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam với tổ chức CĐ cùng cấp và cấp dưới 5.204 cuộc. UBKT các cấp đã chủ động triển khai các kế hoạch năm và thực hiện kiểm tra, giám sát việc thu, phân phối, quản lý, sử dụng tài chính, tài sản, hoạt động kinh tế CĐ với 5.990 cuộc. Trong đó, UBKT LĐLĐ tỉnh đã tiến hành kiểm tra 64 cuộc, UBKT CĐ cấp trên trực tiếp cơ sở kiểm tra được 2372 cuộc, truy thu hơn 1 tỉ đồng. Thông qua kiểm tra, giám sát UBKT CĐ đã góp phần nâng cao ý thức chấp hành Điều lệ, phát hiện ngăn ngừa kịp thời các vi phạm.

Cùng với hoạt động kiểm tra CĐ, UBKT các cấp thực hiện tốt công tác giải quyết và tham gia giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo; tiếp cán bộ, đoàn viên, người lao động (NLĐ). 5 năm qua, toàn tỉnh tiếp 121 lượt người đến văn phòng CĐ phản ánh, kiến nghị, tiếp nhận 142 đơn khiếu nại, phản ánh, kiến nghị. UBKT các cấp đã tư vấn, hỗ trợ đoàn viên, NLĐ và tham gia cùng cơ quan Nhà nước và người sử dụng lao động giải quyết được 126/133 (đạt 94,7%), giải quyết xong 24/24 đơn khiếu nại; can thiệp bảo vệ cho 1.876 người được giải quyết về lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp mất việc và các quyền lợi khác…

Đổi mới công tác kiểm tra

Ông Nguyễn Hoà – Chủ tịch LĐLĐ tỉnh – thông tin, hoạt động UBKT CĐ các cấp ở Khánh Hòa đã có nhiều đổi mới từ việc chọn nội dung có trọng tâm, trọng điểm, đến quy trình, phương pháp, thời gian, đơn vị kiểm tra, giám sát để đạt hiệu quả. Việc kiện toàn tổ chức kiểm tra CĐ Khánh Hòa đã dần được hoàn thiện, là nền tảng để Nghị quyết 06b được thực thi. Bên cạnh đó, công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, bản lĩnh cán bộ làm công tác kiểm tra được quan tâm sẽ tạo động lực để hiệu quả công tác kiểm tra được phát huy.

Trong 5 năm qua, LĐLĐ Khánh Hòa đã tổ chức được 88 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát cho 5.300 cán bộ CĐ, cán bộ UBKT CĐ các cấp. Trình độ chuyên môn của cán bộ UBKT CĐ chuyên trách cấp trên trực tiếp cơ sở được cải thiện. Ban chấp hành CĐ các cấp đã ban hành Quy chế hoạt động của UBKT CĐ, chỉ đạo UBKT CĐ phân công nhiệm vụ cho các ủy viên, xây dựng chương trình công tác toàn khóa và cụ thể hóa chương trình, kế hoạch hằng năm để tổ chức thực hiện phù hợp với thực tế. Kết quả thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu Nghị quyết đề ra trong 5 năm qua, Khánh Hòa đạt và vượt 7 chỉ tiêu.

Nghị Quyết 618/2013/Ubtvqh13 Sửa Đổi Nghị Quyết 417/2003/Nq

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 417/2003/ NQ-UBTVQH11 VỀ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA VĂN PHÒNG QUỐC HỘI

ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Căn cứ Luật tổ chức Quốc hội số 30/2001/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 83/2007/QH11; Trên cơ sở Tờ trình số 319/TTr-VPQH ngày 22 tháng 02 năm 2013 của Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội về Đề án đổi mới Văn phòng Quốc hội để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và ý kiến của các thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội; QUYẾT NGHỊ: Điều 1.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 417/2003/NQ-UBTVQH11 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Quốc hội như sau:

1. Khoản 8 Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“8. Nghiên cứu, phục vụ Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội; giúp chủ tịch Quốc hội giữ mối liên hệ với các đại biểu Quốc hội; bảo đảm điều kiện hoạt động của các đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội; tạo điều kiện kinh phí và các điều kiện vật chất cần thiết cho đại biểu Quốc hội trong việc trình dự án luật, pháp lệnh và kiến nghị về luật, pháp lệnh.”

2. Khoản 15 Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“15. Tổ chức và quản lý công tác thông tin, báo chí, xuất bản, thư viện, bảo tàng, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Ban thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội và đại biểu Quốc hội.”

3. Bổ sung các khoản 18, 19 và 20 vào Điều 2 như sau:

“18. Ban hành văn bản thuộc thẩm quyền; hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển và các quy phạm pháp luật theo quy định của pháp luật; tư vấn, hỗ trợ đại biểu Quốc hội trong việc lập, hoàn thiện hồ sơ theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật để trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội xem xét đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo yêu cầu của đại biểu Quốc hội.

19. Thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức, viên chức và người lao động khác của Văn phòng Quốc hội; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định của pháp luật; hợp tác quốc tế.

20. Thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật hoặc do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội giao.”

4. Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 3. Thành lập, bãi bỏ các vụ, đơn vị

1. Văn phòng Quốc hội được tổ chức thành các vụ, đơn vị tương đương cấp vụ, Báo Đại biểu nhân dân và các đơn vị sự nghiệp công lập khác.

Những vụ, đơn vị tương đương cấp vụ có nhiều mảng công tác hoặc nhiều khối công việc được thành lập phòng.

2. Thẩm quyền quyết định thành lập mới, tổ chức lại hoặc giải thể vụ, đơn vị, phòng được quy định như sau:

a) Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập mới, tổ chức lại hoặc giải thể vụ, đơn vị tương đương cấp vụ và đơn vị sự nghiệp công lập tương đương đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ;

b) Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội quyết định thành lập mới, tổ chức lại hoặc giải thể đơn vị cấp phòng thuộc các vụ, đơn vị phục vụ chung và các đơn vị sự nghiệp công lập không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này;

c) Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội hoặc lãnh đạo Ban thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội phối hợp với Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội quyết định thành lập mới, tổ chức lại hoặc giải thể phòng thuộc vụ, đơn vị trực tiếp giúp việc Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội hoặc Ban thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội; Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội ra quyết định.”

5. Điều 4 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 4. Cơ cấu tổ chức của Văn phòng Quốc hội

1. Các Vụ trực tiếp giúp việc Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội bao gồm:

a) Vụ dân tộc;

b) Vụ pháp luật;

c) Vụ tư pháp;

d) Vụ kinh tế;

đ) Vụ tài chính, ngân sách;

e) Vụ quốc phòng và an ninh;

g) Vụ văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng;

h) Vụ các vấn đề xã hội;

i) Vụ khoa học, công nghệ và môi trường;

k) Vụ đối ngoại.

2. Các vụ, đơn vị tương đương cấp vụ trực tiếp giúp việc các Ban thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội bao gồm:

a) Vụ dân nguyện;

b) Vụ công tác đại biểu;

c) Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử.

3. Các vụ, đơn vị tương đương cấp vụ phục vụ chung bao gồm:

a) Vụ tổng hợp;

b) Vụ phục vụ hoạt động giám sát;

c) Vụ hành chính;

d) Vụ tổ chức – cán bộ;

đ) Vụ kế hoạch – tài chính;

e) Vụ thông tin;

g) Thư viện Quốc hội;

h) Trung tâm tin học;

i) Vụ lễ tân;

k) Cục quản trị;

l) Vụ công tác phía Nam;

m) Vụ công tác miền Trung và Tây Nguyên.

4. Các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm:

a) Báo Đại biểu nhân dân;

b) Nhà khách Quốc hội tại thành phố Hà Nội;

c) Nhà khách Quốc hội tại thành phố Hồ Chí Minh;

d) Các đơn vị sự nghiệp công lập khác được thành lập theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị quyết này.”

6. Bổ sung khoản 4 vào Điều 8 như sau:

“4 Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng biên tập, Phó Tổng biên tập Báo Đại biểu nhân dân do Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội quyết định sau khi trao đổi ý kiến với cơ quan quản lý nhà nước về báo chí.

Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp công lập khác do Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội quyết định.”

Điều 2.

1. Chuyển Tạp chí Nghiên cứu lập pháp là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Văn phòng Quốc hội thành đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Viện Nghiên cứu lập pháp.

Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.

2. Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới quy định về chức năng, nhiệm vụ của các vụ, đơn vị thuộc Văn phòng Quốc hội.

Điều 3.

1. Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 9 năm 2013.

2. Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội, Trưởng Ban thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội có trách nhiệm thi hành Nghị quyết này./.

Bạn đang đọc nội dung bài viết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 6B/Nq trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!