Đề Xuất 11/2022 # 10 Bài Tiểu Luận, Luận Văn Về Phòng Chống Tham Nhũng / 2023 # Top 18 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # 10 Bài Tiểu Luận, Luận Văn Về Phòng Chống Tham Nhũng / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về 10 Bài Tiểu Luận, Luận Văn Về Phòng Chống Tham Nhũng / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tham nhũng là vấn đề toàn cầu chứ không riêng gì tại Việt Nam. Tham nhũng ngăn cản ngăn cản đất nước phát triển, ngăn cản vượt qua các thách thức nghiêm trọng. Nó còn cản trở đầu tư trong và ngoài nước, làm lung lay, giảm niềm tin của Nhân dân đối với cán bộ.

Download tài liệu

Sinh viên sau khi học lớp Thanh viên viên chính tại Trường cán bộ thanh tra đã thực hiện đề tài: Một số vấn đề chung và tham nhũng và thực trạng công tác phòng chống tham nhũng. Trong phạm vi nghiên cứu của bài tiểu luận, sinh viên chỉ nêu những vấn đề chung (quan điểm của đảng, nhà nước trong vấn đề này)… Đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa công tác, hiệu quả phòng chống tham nhũng.

Đề tài: Phòng, chống tham nhũng tại Việt nam trong giai đoạn hiện nay và kiến nghị biện pháp phòng chống tham nhũng. Bài tiểu luận này của sinh viên đại học bách khoa thành phố Hồ Chí Minh. Trong khuôn khổ bài tiểu luận nhưng học sinh nêu lên những nội dung hết sức phong phú và đầy đủ về vấn đề này. Bài tiểu luận được đánh giá cao bởi việc nghiên cứu chi tiết. Cấu trúc bao gồm:

Download tài liệu

Tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay

Những thách thức đặt ra trong công tác phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Kiến nghị về công cuộc phòng, chống tham nhũng

Đây là luận án tiến sĩ luật học chuyên ngành lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật. Phải nói rằng chuyên môn, mức độ nghiên cứu của bài luận này rất chuyên sâu. Bởi vì là luận án tiến sĩ nên việc nghiên cứu cũng phải kỹ lưỡng.

Download tài liệu

Không chỉ đưa ra những cơ sở lý luận của pháp luật về phòng chống, tham nhũng. Nghiên cứu sinh còn phải tìm hiểu, nghiên cứu kỹ về thực trạng pháp luật tại Việt Nam hiện nay. Từ cơ sở lý luận và thực trạng thì mới đưa ra quan điểm của mình và đề xuất yêu cầu, giải pháp hoàn thiện pháp luật phòng chống tham nhũng.

Đây là một công trình nghiên cứu khoa học cấp trường của sinh viên đại học luật tp Hồ Chí Minh. Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích nội dung.

Nhóm sinh viên thực hiện nghiên cứu các bộ luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam và Singapore và tiến hành so sánh trên nhiều tiêu chí khác nhau. Ví dụ như: tên gọi của Luật, đối tượng, hiệu lục, thẩm quyền cơ quan điều tra, hình phạt…

Download tài liệu

Từ những đánh giá này để thấy được những điều cần phải cải tiến. Và đưa ra kiến nghị, kết luận nâng cao công cuộc phòng tham nhũng tại Việt Nam

Download tài liệu

Công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng tại tỉnh Thái Nguyên nói riêng còn nhiều vấn đề phức tạp và kéo dài. Cần phải biết rõ nguyên nhân của nó để xem xét, đánh giá và lý giải nghiêm túc. Từ những nhìn nhận đó thì mới có bài học, kiến nghị với Tỉnh ủy phù hợp nhất. Đề tài này được thực hiện nhằm nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác chống tham nhũng tại tỉnh. Đồng thời đưa ra những kế hoạch phòng chống tham nhũng hiệu quả.

Đấu tranh đẩy lùi, ngăn chặn tham nhũng là nhiệm vụ cấp bách của cả nước. Bài tiểu luận cao học này được tiến hành nhằm góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của công tác tư tưởng trong việc phòng, chống tham nhũng. Những điều đã làm rõ trong đề tài đó là:

Download tài liệu

Khảo sát làm rõ thực trạng

Làm rõ các nội dung về mặt lý luật

Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng trong việc ngăn chặn tệ nạn tham nhũng của nước ta.

Download tài liệu

Đề tài khóa luận tốt nghiệp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Vấn đề chống tham nhũng luôn được đề cao trong thời xưa và nay. Theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, nhiệm vụ chống tham nhũng quan trọng thế nào, bao gồm những nội dung chi tiết nào; thì trong bài luận này sẽ được làm rõ.

Đây là vấn đề được nhiều người quan tâm bởi mang tính thực tiễn và thời sự. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên qua các giai đoạn, thực trạng sẽ có vấn đề khác nhau.

Download tài liệu

Bài luận văn này với mục đích làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn. Đánh giá thực trạng cũng như đề xuất giải pháp thiết thực, hiệu quả, khai thi nhằm góp phần vào cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng.

Download tài liệu

Thanh tra đóng vai trò quan trọng quyết định đến hiệu quả của việc tham nhũng. Chính vì vậy, cần phải hiểu rõ vấn đề này để nâng cao Trách nhiệm, công tác thanh tra.

Trong phạm vi bài báo cáo, sinh viên chỉ nghiên cứu trên sách báo, internet và thực tế, đưa ra những vấn đề lý luận, thực trạng và những ảnh hưởng tới nền kinh tế. Từ đó đề xuất các biện pháp đấu tranh phòng chống phù hợp nhất.

Download tài liệu 100+ Tiểu luận phòng chống tham nhũng hay

Mặc dù chỉ nghiên cứu, phân tích nội dung là chính nhưng bài tiểu luận được đánh giá rất cao bởi sự chi tiết, thông tin chính xác. Ngoài ra, các giải pháp đưa ra đều rất thiết thực và mới mẻ, khả thi.

II. Các vấn đề về phòng, chống tham nhũng cần biết

1. Giải pháp chống tham nhũng cần tập trung thực hiện

Cần phải rà soát, sửa đổi và bổ sung những văn bản quy phạm về pháp luật quản lý kinh tế – xã hội

Đẩy mạnh cải cách hành chính và nỗ lực hoàn thiện những quy định trong xây dựng. Ngoài ra, các dự án đấu thầu cần phải công khai và minh bạch

Việc đánh giá cũng như hoàn thiện quy định về công tác cán bộ cũng phải chặt chẽ, có tính đảm bảo, thống nhất giữa các khâu với nhau.

Đẩy mạnh tuyên truyền thực tiễn, phải chú trọng tính gương mẫu của cán bộ lãnh đạo

Tập trung việc thanh tra, kiểm toán kỹ lưỡng những lĩnh vực có nguy cơ về tham nhũng.

2. Vai trò của việc phòng chống tham nhũng

Phòng, chống tham nhũng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Cụ thể như sau:

Giảm tình hình vi phạm pháp luật nói chung và những vấn đề về tội phạm tham nhũng nói riêng.

Bảo vệ sự vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Tạo lòng tin vững chắc của nhân dân đối với Đảng và nhà nước.

Tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển vững mạnh

III. Những vấn đề cần phải lưu ý khi thực hiện làm tiểu luận

Phòng chống tham nhũng và là vấn đề nhạy cảm. Chính vì vậy, khi thực hiện tiểu luận, luận văn cần phải lưu ý những vấn đề sau:

Các số liệu, thông tin cần phải đảm bảo chính xác tuyệt đối, có nguồn và trích, ghi rõ ràng.

Cơ sở lý luận cần phải đầy đủ, phân tích chi tiết. Có thể tham khảo thực trạng phòng, chống tham nhũng tại nước ngoài và so sánh với Việt Nam để đưa ra những đề xuất, biện pháp phù hợp.

Từ thực trạng để đề xuất các biện pháp sát thực tế, phù hợp. Tuy nhiên, những biện pháp phải có tính căn cứ, khả năng thực thi tốt.

Tùy vào phạm vi nghiên cứu, trong khuôn khổ để mở rộng vấn đề một cách phù hợp. Vấn đề tham nhũng cần thời gian dài, kéo dài nhiều năm để giải quyết. Chính vì vậy, không nên quá kham phạm vi để khi nghiên cứu bị hời hợt, không tập trung được vào nội dung chính.

Luận Văn: Pháp Luật Về Phòng, Chống Tham Nhũng / 2023

, ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Luận văn thạc sĩ ngành luật: Pháp luật về phòng, chống tham nhũng – từ thực tiễn tỉnh Gia Lai, cho các bạn tham khảo

1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA BÙI MINH PHÚC PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG – TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH ĐẮK LẮK – NĂM 2017

2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA BÙI MINH PHÚC PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG – TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số: 60 38 01 02 NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI THỊ THANH THÚY ĐẮK LẮK – NĂM 2017

3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan: Đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi. Các thông tin, số liệu và kết quả trong đề tài này hoàn toàn trung thực, nguồn gốc rõ ràng và xuất phát từ thực tế nghiên cứu về công tác phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Gia Lai. Tên luận văn không trùng lặp với bất cứ công trình nghiên cứu nào đã được công bố. Tác giả Bùi Minh Phúc

5. MỤC LỤC MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………………………..1 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THAM NHŨNG VÀ PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG…………………………………………………………….12 1.1. Những vấn đề chung về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng…………..12 1.2. Pháp luật về phòng, chống tham nhũng và tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng………………………………………………………………………….19 1.3. Pháp luật về phòng, chống tham nhũng của một số quốc gia trên thế giới và giá trị tham khảo đối với Việt Nam …………………………………………………………….43 Chƣơng 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở TỈNH GIA LAI………54 2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Gia Lai …………………………….54 2.2. Thực trạng pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Gia Lai…56 2.3. Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Gia Lai……………………………………………………………………………………..61 2.4. Đánh giá chung …………………………………………………………………………74 Chương 3 PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở TỈNH GIA LAI………82 3.1. Dự bào tình hình và phương hướng hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng……………………………………………………………………………82 3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Gia Lai……………………………………………………………………………………..86 KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………….. 110 TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………….. 112

6. DANH MỤC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT CTN Chống tham nhũng PCTN Phòng, chống tham nhũng UBND Ủy ban nhân dân HĐND Hội đồng nhân dân CBCCVC Cán bộ, công chức, viên chức TTHC Thủ tục hành chính

7. 1 MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Qua hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam đề xướng, chúng ta đã đạt những thành tựu bước đầu rất quan trọng. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới, chúng ta lại gặp nhiều khó khăn trong đó có sự hoành hành của nạn tham nhũng. Tham nhũng cùng với ô nhiễm môi trường đang là hai căn bệnh ác tính chung của thế giới. Trong nước cùng với “tụt hậu về kinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, diễn biến hòa bình” và tham nhũng được Đảng ta xác định là bốn nguy cơ đe dọa sự tồn vong của một chế độ. Ngày nay, cùng với sự năng động của nền kinh tế thị trường, tham nhũng ngày càng phát triển và đã vượt qua phạm vi lãnh thổ của một quốc gia và trở thành một thách thức mang tính toàn cầu – đó là một nhận định được cả thế giới thừa nhận. Nó là một trong những trở ngại lớn nhất đối với tăng trưởng và giảm đói nghèo. Ở Việt Nam, tham nhũng cũng đã được nhận thức khá sâu sắc rằng đó là một trở lực nghiêm trọng. Bởi vì tham nhũng len lỏi vào mọi ngóc ngách của quan hệ quyền lực lây lan nhanh chóng vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và làm tha hóa không ít cán bộ, đảng viên. Tham nhũng cùng với lãng phí đã gây thiệt hại lớn về tài sản của Nhà nước, làm băng hoại đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên; xâm hại trực tiếp công lý và công bằng xã hội, làm xói mòn lòng tin của nhân dân, là nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ ta. Tham nhũng cản trở quá trình phát triển kinh tế. Tham nhũng làm đảo lộn các giá trị đạo đức. Tham nhũng làm vẩn đục các quan hệ xã hội. Nguy hiểm hơn là tham nhũng đang hình thành một thói quen tồn tại như một thứ

8. 2 luật bất thành văn trong đời sống xã hội diễn ra trên diện rộng và trở thành một nét ứng xử bị “vật chất hóa”, “tiền bạc hóa” đến nỗi ai cũng lên án nó nhưng ít ai thoát được khỏi vòng xoáy của nó. Và thế là tham nhũng tiếp tục hoành hành và trở nên trầm trọng hơn, bất chấp các thể chế mà Đảng và Nhà nước đưa ra để đối phó với nó. Nếu không kịp thời ngăn chặn thì đến một chừng mực nào đó tham nhũng cùng với những tác động khác sẽ gây mất ổn định chính trị, kinh tế – xã hội, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Nhận thức rõ mức độ nghiêm trọng và những hậu quả nguy hại của tham nhũng, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đấu tranh nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã xác định: Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội phải quyết tâm thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức hành chính, kinh tế, hình sự trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng để từng bước đẩy lùi tham nhũng. Về phía Nhà nước, để có cơ sở pháp lý trongviệc đấu tranh PCTN ngày 29-11-2005, Quốc hội đã thông qua Luật PCTN;Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 30 nghị định, quyết định, chỉ thị để cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa X) và Luật PCTN, qua đó đã quy định chi tiết, hướng dẫn thực hiện hầu hết các quy định của Luật PCTN. “Các bộ, ngành, địa phương cũng đã ban hành 42.168 văn bản mới; sửa đổi, bổ sung trên 55.416 văn bản để thực hiện Luật PCTN và các văn bản hướng dẫn thi hành” [26; tr.3]. Pháp luật về PCTN đã cụ thể hóa đường lối, chủ trương, biện pháp của Đảng về PCTN, lãng phí. Luật PCTNvà các văn bản pháp luật khác về PCTN được ban hành, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho công tác PCTN. Là cơ sở pháp lí để nhận diện tham nhũng, tạo khuôn khổ pháp lí để phòng ngừa, phát hiện, xử lí tham nhũng; để các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng,

10. 4 xử lý hiệu quả đối với quà tặng; xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũng chưa cụ thể, rõ ràng; quy định về minh bạch tài sản, thu nhập chưa giúp kiểm soát biến động về thu nhập; cơ chế phát hiện tham nhũng chưa phát huy được hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền; các quy định về tố cáo, giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng còn thiếu các biện pháp bảo đảm thực hiện; chưa quy định rõ về các hành vi vi phạm Luật PCTN; quy định về hành vi tham nhũng trong Luật PCTN chưa đồng bộ với các quy định về tội phạm về tham nhũng và các tội phạm về chức vụ trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 2015. Do vậy, hiện nay nạn tham nhũng vẫn diễn ra hết sức phổ biến, ngày càng tinh vi ở nhiều cấp, nhiều ngành. Thậm chí, tham nhũng đã ăn sâu vào tư duy và tác phong làm việc hàng ngày của một số cán bộ, công chức, làm giảm hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, gây bất bình trong nhân dân. Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII nêu rõ: Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng tập trung vào một số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước [6; tr.22]. Đã đến lúc chúng ta phải nhận thức đầy đủ tính chất, mức độ, những tác hại và biến quyết tâm chính trị thành những biện pháp cụ thể để ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng. Cùng chung tình trạng như cả nước, trong những năm gần đây, tình trạng tham nhũng ở Gia Lai có những biểu hiện phức tạp, việc tổ chức thực hiện pháp luật về tham nhũng còn nhiều bất cập, chưa kiên quyết, triệt để. Vì thế, nghiên cứu đề tài “Pháp luật về phòng, chống tham nhũng – từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.

12. 6 tích thực trạng về PCTN (đến năm 2011); nêu lên quan điểm, phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về PCTN ở Việt Nam. – Luận văn thạc sĩ Luật học: “Tổ chức và hoạt động của cơ quan phòng, chống tham nhũng ở Việt nam” của Ngô Kiều Dâng, nghiên cứu thực trạng tổ chức bộ máy các cơ quan PCTN ở nước ta và nêu các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan này trong PCTN. – Luận văn thạc sĩ Luật học: “Phòng chống tham nhũng từ phương diện giáo dục pháp luật đối với cán bộ, công chức bộ máy hành chính nhà nước” của Nguyễn Thị Kim Nhung, nghiên cứu thực trạng giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức về PCTN ở nước ta và nêu các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục pháp luật trong PCTN. – Đề tài khoa học cấp nhà nước “Đấu tranh PCTN ở nước ta” của Ban Nội chính Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nghiên cứu thực trạng tham nhũng, nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng tham nhũng ở Việt Nam, kiến nghị các giải pháp nhằm đấu tranh PCTN ở nước ta. – Đề tài khoa học cấp bộ: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác chống tham nhũng của các cơ quan thanh tra nhà nước theo Luật PCTN” do TS. Trần Ngọc Liêm, Phó Vụ IV, TTCP làm Chủ nhiệm, nghiên cứu thực trạng, hiệu quả và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác PCTN của các cơ quan thanh tra nhà nước. – Đề tài khoa học cấp cơ sở: “Một số vấn đề về tham nhũng trong khu vực tư và PCTN trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay” do ThS. Nguyễn Vũ Quỳnh Lâm, Viện Khoa học Thanh tra, TTCP làm Chủ nghiệm, đề cập đến khái niệm, lý luận và thực tiễn tham nhũng trong khu vực tư, đưa ra dự báo và giải pháp PCTN trong khu vực tư ở Việt Nam. – Đề tài khoa học cấp cơ sở: “Tham nhũng và phòng chống tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam”do Tiến sĩ Đinh Văn Minh, Phó Viện trưởng

15. 9 – Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai; đánh giá kết quả đạt được, những mặt còn hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật PCTN ở Gia Lai. – Đề xuất phương hướng cùng một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về PCTN và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai nói riêng và cả nước nói chung. 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật về PCTN và việc tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau: – Phạm vi nội dung Pháp luật về phòng, chống tham nhũng được nghiên cứu ở 02 góc độ: Quy định pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN. – Phạm vi không gian: Trên địa bàn tỉnh Gia Lai. – Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu từ năm 2006 đến nay. 5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn 5.1. Phương pháp luận Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Đồng thời, dựa trên quan điểm, chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ của Đảng về PCTN hiện nay, nhất là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 3 (Khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của đối với công tác PCTN, lãng phí; Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy

16. 10 lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biển hiện “tự diễn biến”, „tự chuyển hóa” trong nội bộ. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp thống kê; phương pháp khảo cứu tài liệu; phương pháp so sánh – đối chiếu; phương pháp phân tích – tổng hợp để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, tổng kết thực tiễn ban hành các quy định về PCTN và tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai trong thời gian qua. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Về phương diện lý luận Trên cơ sở những vấn đề lý luận chung về tham nhũng và PCTN, đề tài góp phần làm rõ các quy định pháp luật về tham nhũng và PCTN. Đánh giá các quy định pháp luật và việc tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai, bên cạnh mặt ưu điểm còn có những hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về PCTN và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về PCTN trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh Gia Lai. 6.2. Về phương diện thực tiễn Đề tài có thể được Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các cơ quan, tổ chức, đơn vị trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói riêng, nhà quản lý, hoạch định chính sách nói chung tham khảo để vận dụng vào công tác đấu tranh PCTN; Trường Chính trị tỉnh và các trường Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp ở Gia Lai nói riêng và các cơ sở đào tạo nói chung trên cả nước tham khảo để phục vụ cho công tác giảng dạy pháp luật về PCTN trong các chương trình đào tạo hoặc bồi dưỡng.

18. 12 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THAM NHŨNG VÀ PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 1.1. Những vấn đề chung về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng 1.1.1. Những vấn đề chung về tham nhũng 1.1.1.1. Khái niệm và đặc trưng của tham nhũng Tham nhũng là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, luôn gắn bó chặt chẽ hữu cơ với sự tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước. Tham nhũng không chỉ là vấn đề của một quốc gia mà diễn ra ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, không kể quốc gia đó giàu hay nghèo, đang ở trình độ phát triển kinh tế như thế nào, tham nhũng diễn ra ở mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, nó tồn tại và phát triển thường xuyên hàng ngày, hàng giờ, nó len lỏi vào mọi mặt của đời sống xã hội và đụng chạm hầu hết đến lợi ích của người dân. Ở nước ta hiện nay thuật ngữ tham nhũng được sử dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày, nhưng vẫn chưa có sự thống nhất về quan niệm. Theo Đại Từ điển Tiếng việt giải thích, “Tham nhũng là hành động lợi dụng quyền hành để tham ô và hạch sách, nhũng nhiễu dân” [46; tr.1523]. Theo quan niệm này tham nhũng gồm hai hành vi phối hợp với nhau: nhũng nhiễu của người có quyền hành và thu lợi bất chính từ lạm dụng quyền hành đó. Xét theo quy định của pháp luật, Khoản 2, Điều 1 của Luật Phòng, chống tham nhũng được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kì họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, năm 2012) quy định: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì mục đích vụ lợi” [36; Điều 1]. Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người trong khu

19. 13 vực nhà nước (các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước). Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tham nhũng có những đặc trưng cơ bản như sau: Thứ nhất, chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn. Đặc điểm của tham nhũng là chủ thể thực hiện hành vi phải là người có chức vụ, quyền hạn. Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: “Cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó” (Điều 3, Luật PCTN). Thứ hai, chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của tham nhũng. Khi thực hiện hành vi tham nhũng, kẻ tham nhũng phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho người khác. Đây là yếu tố cơ bản để xác định hành vi tham nhũng. Một người có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì không thể có hành vi tham nhũng. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó đều được coi là hành vi tham nhũng. Ở đây có sự giao thoa giữa hành vi này với các hành vi tội phạm khác, do vậy cần lưu ý khi phân biệt hành vi tham nhũng với các hành vi vi phạm pháp luật khác.

20. 14 Thứ ba, mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. Hành vi tham nhũng là hành vi cố ý. Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. Nếu chủ thể thực hiện hành vi không cố ý thì hành vi đó không là hành vi tham nhũng. Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng. Như vậy, khi xử lý về hành vi tham nhũng, không bắt buộc chủ thể tham nhũng phải đạt được lợi ích. 1.1.1.2. Các hành vi tham nhũng theo quy định của pháp luật Luật PCTN đã liệt kê 12 hành vi tham nhũng. Theo đó, những hành vi sau đây thuộc nhóm hành vi tham nhũng: “Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác vì vụ lợi; đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi; nhũng nhiễu vì vụ lợi; không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi”[36; Điều 3]. Trong 12 hành vi tham nhũng nêu trên, Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) quy định 07 tội phạm tham nhũng, bao gồm: Tội tham ô tài sản; Tội nhận hối lộ; Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ; Tội lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; Tội lợi dụng chức

22. 16 việc thực hiện chủ trương, chính sách về kinh tế – xã hội hoặc một nhiệm vụ quản lý nhất định của Nhà nước. Để nhân dân mất niềm tin, tức là chúng ta đã đánh mất một sức mạnh vô cùng to lớn, thậm chí có tính chất quyết định đối với sự nghiệp cách mạng. Năm 1992, tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, đã nêu: “Tệ tham nhũng, hối lộ, ăn chơi phung phí tài sản của nhân dân rất nghiêm trọng và kéo dài. Những hiện tượng đó gây tác hại rất lớn, làm tổn hại thanh danh của Đảng”[2; tr.26]. Nghị quyết số 14 ngày 15-5-1996 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng đã nêu khái quát tác hại của tệ tham nhũng như sau: Tình trạng tham nhũng đã và đang gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng, làm xói mòn bản chất của Đảng và Nhà nước, làm tha hoá đội ngũ cán bộ, đảng viên, tiếp tay cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá ta, uy hiếp sự tồn vong của chế độ”[7; tr.204, 205]. Tháng 4-2001, Đại hội Đảng lần thứ IX lại tiếp tục khẳng định: “Điều cần nhấn mạnh là: tình trạng tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây bất bình và làm giảm lòng tin trong nhân dân”[32; tr.50]. “Nạn tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, kéo dài, gây bất bình trong nhân dân và là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta”[32; tr. 67]. Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 21-8-2006 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí tiếp tục nhấn mạnh: “Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt,

26. 20 triển của các quan hệ xã hội. Luật Hành chính điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước; trong tổ chức và hoạt động nội bộ của các cơ quan quyền lực nhà nước, tòa án, viện kiểm sát; trong hoạt của các tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền hành pháp. Pháp luật về PCTN không phải là một ngành luật độc lập mà là một chế định thuộc ngành luật hành chính. Vì vậy, pháp luật về PCTN điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong hoạt động phòng ngừa, phát hiện và xử lí tham nhũng. Đồng thời cũng xuất phát từ phương pháp điều chỉnh chung của Luật Hành chính, pháp luật về PCTN sử dụng phương pháp điều chỉnh là mệnh lệnh – phục tùng.Tính mệnh lệnh được hình thành từ quan hệ “quyền lực – phục tùng” giữa một bên nhân danh nhà nước ra những mệnh lệnh bắt buộc bên kia (cá nhân, cơ quan, tổ chức phải phục tùng các mệnh lệnh đó). Nhìn chung nguồn của pháp luật về PCTN rất đa dạng. Các quy phạm pháp luật PCTN được chứa đựng trong nhiều văn bản pháp luật như: Luật PCTN; Bộ Luật Hình sự; Luật Khiếu nại; Luật Tố cáo; Luật Giám sát; Luật Thanh tra; Luật phòng chống rửa tiền; Luật Cán bộ, công chức; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… và cả trong các Điều ước Quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Được ban hành lần đầu năm 2005 và sửa đổi, bổ sung vào các năm 2007 và 2012, Luật PCTN được coi là văn bản xương sống trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam về PCTN. 1.2.1.2. Nội dung điều chỉnh của pháp luật về phòng, chống tham nhũng Thứ nhất, pháp luật về phòng ngừa tham nhũng Phòng ngừa tham nhũng là một trong những nội dung lớn của Luật phòng, chống tham nhũng. Kinh nghiệm chống tham nhũng của các nước trên thế giới cho thấy, công tác phòng ngừa đóng vai trò rất quan trọng. Công ước

27. 21 của Liên hợp quốc về chống tham nhũng khuyến cáo các quốc gia thành viên lưu ý trong việc xây dựng và duy trì một chiến lược phòng ngừa tham nhũng liên tục, toàn diện và có hiệu quả. Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định khá đầy đủ các biện pháp phòng ngừa đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng hiện nay. Chính vì vậy, trong Luật PCTN năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, năm 2012), số lượng điều khoản và nội dung về phòng ngừa tham nhũng chiếm tỉ lệ rất lớn, phần lớn các quy định của pháp luật về chống tham nhũng nằm trong các biện pháp phòng ngừa tham nhũng. Các quy định về biện pháp phòng ngừa tham nhũng được quy định tại chương này gồm có 6 mục với tổng số 48 điều quy định những nội dung cụ thể như sau: Một là, công khai minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Đây là biện pháp quan trọng đầu tiên để ngăn ngừa tham nhũng. Công khai, minh bạch sẽ tạo điều kiện để người dân cũng như toàn xã hội tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước. Với việc công khai minh bạch trong hoạt động tại các cơ quan nhà nước, người dân sẽ dễ dàng nhận biết và chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình cũng như đòi hỏi cơ quan Nhà nước và các cán bộ, công chức nhà nước thực hiện các quy định đó. Công khai, minh bạch sẽ làm cho công chức nhà nước có ý thức hơn trong việc thực hiện chức trách, công vụ của mình theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật quy định bởi, mọi hành vi vi phạm, phiền hà, sách nhiễu hay lợi dụng chức trách để tư lợi đều có thể bị phát hiện và xử lý. Điều 11, Luật PCTN năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, năm 2012) quy định nguyên tắc và nội dung công khai minh bạch bao gồm: công khai chính sách, pháp luật và việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật; công khai hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước và những nội dung khác theo quy định của Chính phủ.

32. 26 về một số hành vi nghiêm cấm trong việc nhận quà, việc báo cáo và nộp lại quà tặng, trình từ xử lý quà tặng… – Quy tắc đạo đức nghề nghiệp. Để phòng ngừa tham nhũng, pháp luật về PCTN quy định việc xây dựng quy tắc đạo đức nghề nghiệp đối với một số nghề đặc thù, hoạt động có tính chất độc lập như luật sư, kiểm toán viên. Mặc dù đây không phải là những người thuộc đội ngũ CBCCVC làm việc trong cơ quan nhà nước nhưng cũng cần có những quy định về chuẩn mực đạo đức trong quá trình hành nghề cho phù hợp, nhằm hướng tới một nền văn hoá phi tham nhũng trong toàn xã hội, cả trong khu vực công lẫn khu vực tư. “Quy tắc đạo đức nghề nghiệp là chuẩn mực xử sự phù hợp với đặc thù của từng nghề bảo đảm sự liêm chính, trung thực và trách nhiệm trong việc hành nghề.Tổ chức xã hội – nghề nghiệp phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy tắc đạo đức nghề nghiệp đối với hội viên của mình theo quy định của pháp luật” [42; Điều 36]. Chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2020 đặt ra yêu cầu: Đẩy mạnh việc xây dựng, công bố công khai các quy tắc ứng xử, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức và tăng cường giám sát việc thực hiện theo quy định của pháp luật. – Vấn đề chuyển đổi vị trí công tác của CBCCVC. Việc chuyển đổi vị trí công tác được coi là một giải pháp quan trọng nhằm ngăn ngừa hiện tượng cấu kết, móc nối hình thành “êkíp”, “đường dây” tiêu cực, tham nhũng. Luật PCTN quy định một số nguyên tắc chung về chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức. Để đảm bảo sự ổn định của quản lý và tính chất chuyên sâu của công việc, việc chuyển đổi chỉ là chuyển đổi về vị trí, mang tính chất địa lý, cơ học chứ không phải chuyển đổi về nội dung, tính chất công việc; đồng thời việc chuyển đổi chỉ

35. 29 – Phân định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức với cấp phó được giao phụ trách các lĩnh vực; theo đó, người đứng đầu chịu trách nhiệm chung và chịu trách nhiệm trực tiếp đối với lĩnh vực do mình quản lý, cấp phó chịu trách nhiệm trực tiếp đối với lĩnh vực được giao phụ trách. – Phân cấp trách nhiệm rõ ràng cho người đứng đầu đơn vị, phải chịu trách nhiệm trực tiếp khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong đơn vị mình. Luật PCTN đã khẳng định lại nguyên tắc: Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Trên cơ sở nguyên tắc chung như trên, Luật cũng quy định tuỳ từng trường hợp cụ thể mà xác định mức độ trách nhiệm khác nhau của người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, có trường hợp họ phải chịu trách nhiệm trực tiếp, có trường hợp thì liên đới chịu trách nhiệm. Cụ thể những quy định trên của Luật PCTN, ngày 22-9-2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 107/2006/NĐ-CP quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách; quy định mức độ của vụ, việc tham nhũng làm căn cứ để xác định trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị. Sáu là, cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán. Quản lý là phương diện hoạt động quan trọng của bộ máy nhà nước, diễn ra trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và ảnh hưởng đến quyền lợi của mọi người dân. Đây cũng là nơi tình trạng tham nhũng xảy ra nhiều nhất. Đó là lý do mà cải cách hành chính luôn là mối quan tâm thường xuyên của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình cải cách bộ máy nhà nước,

37. 31 Thứ hai, pháp luật về phát hiện tham nhũng. Phát hiện tham nhũng là việc tìm ra vụ việc tham nhũng và có biện pháp kịp thời để hạn chế thiệt hại xảy ra, đồng thời xác định mức độ trách nhiệm của người có hành vi vi phạm, có hình thức xử lý thích đáng và nghiêm minh. Việc phát hiện tham nhũng đòi hỏi sự nỗ lực của mọi cơ quan, tổ chức, đặc biệt là các cơ quan có chức năng thanh tra, điều tra, giám sát, kiểm sát cũng như sự tham gia tích cực của công dân. Pháp luật về PCTN quy định: việc phát hiện tham nhũng thông qua ba hoạt động chủ yếu sau: Một là, thông qua công tác kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Kiểm tra là một hoạt động không thể thiếu trong quản lý nhà nước. Các hành vi tham nhũng có thể diễn ra trong mọi lĩnh vực quản lý. Vì vậy, công tác kiểm tra của các cơ quan quản lý có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát hiện các vụ việc tham nhũng. Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định tính chất và mức độ của vụ việc tham nhũng cũng như trách nhiệm của những người vi phạm đòi hỏi có nhiều thời gian và công sức, thường thuộc về trách nhiệm của các cơ quan thanh tra, điều tra nhưng những dấu hiệu ban đầu của các các vi phạm, những dấu hiệu không bình thường trong hoạt động quản lý lại thường do các cơ quan quản lý phát hiện. Vì vậy, pháp luật về PCTN nhấn mạnh trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong việc thường xuyên tiến hành kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của cơ quan mình. Tuỳ từng vụ việc cụ thể, căn cứ vào tính chất và mức độ của nó mà có thể xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho các cơ quan chức năng xử lý. Mặc dù pháp luật đề cao công tác kiểm tra của các cơ quan nhằm phát hiện tham nhũng nhưng để tránh tình trạng kiểm tra tràn lan, hoặc lợi dụng việc kiểm tra để gây khó khăn cho đồng nghiệp và công dân, Luật cũng quy

38. 32 định các hình thức kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm cũng như trường hợp kiểm tra đột xuất phải có những điều kiện nhất định.”Việc kiểm tra thường xuyên được tiến hành theo chương trình, kế hoạch, tập trung vào lĩnh vực, hoạt động thường phát sinh hành vi tham nhũng. Việc kiểm tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng” [42; Điều 61]. Hai là, thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử, giám sát. Đây là những hoạt động chủ yếu trong việc phát hiện và xử lý tham nhũng. Các cơ quan thanh tra, điều tra, kiểm toán, xét xử và giám sát có chức năng bảo vệ pháp luật và kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm, trong đó có tham nhũng. Đây là lực lượng chính trong cuộc đấu tranh chống vi phạm pháp luật. “Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử có trách nhiệm chủ động phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình” [42; Điều 62]. Việc phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát được pháp luật về PCTNquy định: “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân thông qua hoạt động giám sát có trách nhiệm phát hiện hành vi tham nhũng, yêu cầu hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật” [42; Điều 63]. Chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2020 đưa ra nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử trong phát hiện, xử lý tham.

39. 33 Ba là, thông qua tố cáo và giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng. Tố cáo là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, các nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Tố cáo là một kênh quan trọng trong phát hiện hành vi tham nhũng. Luật PCTN quy định những nguyên tắc chung và nội dung cơ bản của tố cáo hành vi tham nhũng. Luật quy định cơ chế bảo vệ người tố cáo, quyền và nghĩa vụ của người tố cáo và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong tiếp nhận và xử lý tố cáo hành vi tham nhũng, khen thưởng người tố cáo v.v.. Tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng với hai nhóm nội dung sau: – Quyền của công dân trong việc tố cáo hành vi tham nhũng, trách nhiệm của công dân khi thực hiện quyền tố cáo. “Công dân có quyền tố cáo hành vi tham nhũng với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Người tố cáo phải tố cáo trung thực, nêu rõ họ, tên địa chỉ, cung cấp thông tin, tài liệu mà mình có và hợp tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo.Người tố cáo mà cố tình tố cáo sai sự thật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” [42; Điều 64]. – Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và những người có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết tố cáo của công dân đối với hành vi tham nhũng. Pháp luật về PCTN quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ người tố cáo khỏi sự đe doạ trả thù, trù dập. Đây là vấn đề rất quan trọng vì trong nhiều trường hợp, người bị tố cáo là những người có chức vụ, quyền hạn, thậm chí giữ chức vụ, quyền hạn rất cao nên họ có nhiều cách

41. 35 Nếu hành vi vi phạm đến mức độ nguy hiểm cao gây thiệt hại lớn về tiền và tài sản của Nhà nước thì họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Chương XXI, Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): Các tội phạm về chức vụ. Bao gồm: bảy tội danh tham nhũng và bảy tội danh khác về chức vụ. Hai là, quy định về xử lý tài sản tham nhũng. Tham nhũng về bản chất là một hành vi có tính chất vụ lợi và một trong những hậu quả mà tham nhũng gây ra là tài sản công bị chiếm đoạt. Chính vì vậy, mục tiêu quan trọng của đấu tranh chống tham nhũng là phải bảo vệ được lợi ích của Nhà nước cũng như lợi ích của tập thể và cá nhân. Chống tham nhũng cần quan tâm đến việc tịch thu, thu hồi tài sản tham nhũng, tránh tình trạng chỉ quan tâm đến việc xử lý người vi phạm về kỷ luật hay hình sự mà chưa quan tâm hoặc có biện pháp hữu hiệu để thu hồi lại số tài sản mà kẻ tham nhũng đã chiếm đoạt và có được từ việc thực hiện hành vi tham nhũng. Việc xử lý tài sản tham nhũng phải tuân thủ các nguyên tắc sau: “Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để, thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng. Tài sản tham nhũng phải được trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước.Người đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát hiện hành vi đưa hối lộ thì được trả lại tài sản đã dùng để hối lộ.Việc tịch thu tài sản tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng được thực hiện bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật” [42; Điều 70]. Về cơ bản, những nguyên tắc trên đã được thể hiện trong các văn bản pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, điểm mới khá quan trọng trong việc xử lý tài sản của người đưa hối lộ đó là khuyến khích người đưa hối lộ khai báo, phát giác hành vi nhận hối lộ. Mặc dù, còn khá nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề

42. 36 xử lý đối với người có hành vi hối lộ nhưng nhìn chung đều nhất trí rằng cần có quy định theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm cho người đưa hối lộ để khuyến khích họ phát giác hành vi nhận hối lộ. Thực tế cho thấy, việc xử lý cả người đưa hối lộ khi họ đã chủ động khai báo là không công bằng và gây ra những dư luận không đồng tình trong xã hội. Ngoài ra, về vấn đề xử lý tài sản tham nhũng, để phù hợp với tinh thần của Công ước của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã tham gia ký kết, pháp luật về PCTN ở Việt Namquy định: “Trên cơ sở điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hợp tác với Chính phủ nước ngoài trong việc thu hồi tài sản của Việt Nam hoặc của nước ngoài bị tham nhũng và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp” [42; Điều 71]. 1.2.2. Tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng 1.2.2.1. Khái niệm Xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật là các yếu tố cấu thành cơ bản để duy trì sự tồn tại của đời sống pháp luật, đồng thời thể hiện sự phân công quyền lực nhà nước theo các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của nhà nước pháp quyền. Các yếu tố này cùng tồn tại, tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Công tác tổ chức thực hiện pháp luật trong cuộc sống chủ yếu thuộc về trách nhiệm và là chức năng của cơ quan hành pháp. Tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN là chức năng chính của cơ quan hành pháp trong quá trình hướng dẫn, chuẩn bị các nguồn lực (con người, tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất để thực hiện từng văn bản pháp luật) bảo đảm sẵn sàng, phù hợp ngay từ khi tổ chức học tập, quán triệt, vận dụng để mọi hành

44. 38 nhiệm vụ của riêng một cơ quan hay tổ chức nào mà là của cả hệ thống chính trị tức là của mọi cơ quan nhà nước, của Đảng, của mọi tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp. Vấn đề đặt ra ở đây là phòng, chống tham nhũng có phải là chức năng của mọi cơ quan nhà nước, của Đảng, của mọi tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp hay không? Chức năng của một cơ quan, tổ chức là những nhiệm vụ chủ yếu, thường xuyên của cơ quan, đơn vị đó và cơ sở để thực hiện phải là những thẩm quyền, quyền hạn được giao. Như vậy, phòng chống tham nhũng là nhiệm vụ nhưng không phải là chức năng của mọi cơ quan, tổ chức. Chỉ những cơ quan, tổ chức nào được pháp luật quy định nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ thường xuyên, chủ yếu đồng thời trao những thẩm quyền, quyền hạn cụ thể để thực hiện việc phòng, chống tham nhũng mới là những cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng. Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, chức năng phòng, chống tham nhũng được trao cho các cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, toà án. – Trách nhiệm của cơ quan thanh tra Theo Luật Thanh tra 2010:”Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm: 1. Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn công tác thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; trường hợp phát hiện hành vi tham nhũng thì đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý; 2. Xây dựng hệ thống dữ liệu chung về phòng, chống tham nhũng” [42; Điều 76]. Theo đó, Cục Chống tham nhũng thuộc Thanh tra Chính phủ được thành lập và đi vào hoạt động năm 2006, gồm có Cục trưởng, 04 Phó Cục trưởng và 05

45. 39 phòng nghiệp vụ với tổng số 41 người. Cục Chống tham nhũng có chức năng tham mưu cho Tổng Thanh tra Chính phủ công tác quản lý nhà nước vê PCTN, trực tiếp tiến hành thanh tra một số vụ việc theo sự phân công của Tổng Thanh tra. – Trách nhiệm của Kiểm toán nhà nước:”Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Kiểm toán Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc kiểm toán nhằm phòng ngừa, phát hiện và phối hợp xử lý hành vi tham nhũng; trường hợp phát hiện hành vi tham nhũng thì chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý” [42; Điều 77]. – Trách nhiệm của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng: “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động điều tra tội phạm về tham nhũng” [42; Điều 78] Trên cơ sở đó, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng được thành lập theo Quyết định số 1735/QĐ-BCA ngày 07-4-2015 của Bộ trưởng Bộ Công an trên cơ sở hợp nhất Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ với Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng, gồm có: Cục trưởng, 08 Phó Cục trưởng, 14 phòng nghiệp vụ, với tổng số cán bộ, chiến sĩ là 405 người. Cục có năng tham mưu cho lãnh đạo Bộ Công an các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế. – Trách nhiệm của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao: “1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động truy tố các tội phạm về tham nhũng; kiểm sát hoạt động điều tra, xét xử, thi hành án đối với các tội phạm về tham nhũng. 2. Đối với Tòa án nhân tối cao có trách nhiệm xét xử, hướng dẫn công tác xét xử các tội phạm về tham nhũng”[42; Điều 79]

46. 40 Thực hiện quy định trên, Vụ Thực hành công tố và kiểm sát điều tra án tham nhũng, chức vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao được thành lập và đi vào hoạt động năm 2007, gồm có Vụ trưởng, 03 Phó Vụ trưởng, 04 phòng nghiệp vụ, với tổng số 22 người. Vụ có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra án tham nhũng, chức vụ; giúp Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Cơ quan điều tra của Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao trong công tác PCTN; phối hợp thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế về PCTN. Chiến lược Phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 cũng đặt ra mục tiêu là “Tính trách nhiệm, tính chuyên nghiệp, sức chiến đấu và hiệu quả hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan, đơn vị chuyên trách chống tham nhũng được nâng cao, giữ vai trò nòng cốt trong phát hiện và xử lý tham nhũng”[17]. Trong các giải pháp phòng, chống tham nhũng, Chiến lược cũng nhấn mạnh giải pháp “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử trong phát hiện, xử lý tham nhũng” [17]. Vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong phòng, chống tham nhũng lại tiếp tục được nhấn mạnh một lần nữa. Thứ hai, triển khai thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Một là, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về PCTN. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của CBCCVC và nhân dân về công tác PCTN; tuyên truyền, phổ biến quan điểm, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về PCTN. Đưa nội dung của Luật PCTN và chương trình giáo dục. Mở chuyên mục tuyên truyền, giáo dục pháp luật vè PCTN trên các báo, đài. Hai là, thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng.

47. 41 Công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Hình thức công khai bao gồm: công bố tại cuộc họp; niêm yết tại trụ sở làm việc; thông báo bằng văn bản; phát hành ấn phẩm; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nội dung công khai minh bạch trên tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước như: mua sắm, xây dựng cơ bản; quản lý dự án đầu tư xây dựng; tài chính và ngân sách nhà nước; huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân; quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ, viện trợ… Tiến hành xây dựng và triển khai thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn. Tổ chức thực hiện các quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; thực hiện việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện những việc CBCCVC không được làm, các quy định về việc tặng quà và nhận quà tặng của CBCCVC; thực hiện kê khai, xác minh, giải trình về tài sản, thu nhập của CBCCVC; thực hiện chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng; thực hiện cải cách hành chính, đổi mới công nghệ và phương thức thanh toán. Ba là, thực hiện các biện pháp phát hiện tham nhũng. Thực hiện công tác kiểm tra hành chính của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình nhằm kịp thời phát hiện hành vi tham nhũng, kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cơ quan thanh tra, điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền. Các cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, điều tra, Việc kiểm sát, Tòa án thông qua hoạt động của mình chủ động phát hiện tham nhũng xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý theo quay định của pháp luật. Quốc hội, Hội đồng nhân dân thông qua hoạt động giám sát có trách nhiệm phát hiện hành vi tham nhũng, yêu cầu hoặc kiến nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Luận Văn: Các Biện Pháp Hành Chính Phòng, Chống Tham Nhũng / 2023

, DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận văn thạc sĩ ngành luật hiến pháp với đề tài: Các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam, cho các bạn làm luận văn tham khảo

1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN HỮU HOÀI BẢO CÁC BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI, năm 2017

2. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN HỮU HOÀI BẢO CÁC BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số: 60.38.01.02 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC chúng tôi LƢƠNG THANH CƢỜNG HÀ NỘI, năm 2017

4. LỜI CẢM ƠN Qua 2 năm học tập và nghiên cứu tại học viện Khoa học xã hội, được chúng tôi Lương Thanh Cường hướng dẫn khoa học, Tôi đã nỗ lực để hoàn thành công trình nghiên cứu “Các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”. Trước hết, Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Học viện Khoa học xã hội, Phòng Đào tạo, Văn phòng Khoa Luật, Cơ sở học viện Khoa học xã hội tại Thành phố Đà Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ tích cực cho chúng tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu, cung cấp cho chúng tôi hệ thống kiến thức và nhiều kinh nghiệm bổ ích. Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn của mình. Học viên Nguyễn Hữu Hoài Bảo

5. MỤC LỤC MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………………………..1 CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG …………………………………………………………………………….6 1.1. Khái quát chung về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng………………………6 1.2. Các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng …………………………………14 1.3. Các điều kiện bảo đảm thực hiện biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng………………………………………………………………………………………………………….33 CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TẠI TỈNH QUẢNG NAM ………………………………….38 2.1. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh Quảng Nam tác động đến biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng …………………………………………………………….38 2.2. Thực trạng tình hình phòng, chống tham nhũng và phòng, chống tham nhũng bằng các biện pháp hành chính tại tỉnh Quảng Nam ……………………………….40 2.3. Nhận xét chung về các biện pháp hành chính Phòng, chống tham nhũng tại tỉnh Quảng Nam …………………………………………………………………………………………..57 CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM .64 3.1. Giải pháp chung bảo đảm biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam………………………………………………………………………….64 3.2. Các giải pháp riêng bảo đảm biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng đối với tỉnh Quảng Nam………………………………………………………………………78 KẾT LUẬN………………………………………………………………………………………………..80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

6. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1. CB,CC,VC: Cán bộ, công chức, viên chức 2. HĐND: Hội đồng nhân dân 3. Luật PCTN: Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012 4. PCTN: Phòng, chống tham nhũng 5. TTHC: Thủ tục hành chính 6. UBND: Ủy ban nhân dân 7. UBMTTQVN: Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam

7. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tham nhũng là một hiện tượng có tính lịch sử, đang là vấn đề nhức nhối không chỉ ở các nước có tỷ lệ tham nhũng cao mà còn là vấn nạn của tất cả các nước trên thế giới. Theo Thống kê của Tổ chức minh bạch quốc tế năm 2015 (Transparency International), Việt Nam xếp hạng 112 trong số 167 nước được điều tra về tham nhũng [51] – một con số đáng để những lãnh đạo của đất nước phải quan tâm và suy ngẫm. Tham nhũng ở nước ta ngày càng tinh vi, khó phát hiện do các đối tượng tham nhũng thường có chức vụ, quyền hạn, có trình độ hiểu biết pháp luật, quan hệ rộng, liên kết với nhau thành các nhóm lợi ích. Tội phạm kinh tế, tham nhũng trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, tín dụng, chứng khoán tiếp tục diễn biến phức tạp, gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước. Thiệt hại do tham nhũng gây ra đối với ngân sách nhà nước, tài sản của nhân dân, doanh nghiệp rất lớn nhưng giá trị tài sản thu hồi thấp. Tham nhũng làm thay đổi mọi lãnh vực trong trong xã hội như kinh tế, luật pháp quốc gia, dân chủ, luân lý, giáo dục… Những tổn thất do tham nhũng gây nên thật khó đo lường cho hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận định: “Tham nhũng là kẻ thù nguy hiểm của nhân dân, của bộ đội và của chính phủ vì nó không mang gươm mang súng mà nó nằm trong các tổ chức của ta để làm hỏng ta. Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng ta là cần- kiệm – liêm – chính”. Tham nhũng còn gây ra tác hại làm giảm sút lòng tin của công dân đối với bộ máy và công chức, viên chức Nhà nước, triệt tiêu động lực cơ bản nhất của sự phát triển. Điều này đã được V.I. Lênin khuyến cáo: “Nếu có cái gì đó có thể triệt tiêu được chủ nghĩa xã hội thì đó chính là tham nhũng, quan liêu”. Đây cũng là bài học mà ông cha ta đã truyền lại cho con cháu. Trần Quốc Tuấn đã từng nói: “để dân khinh là mất nước”. Chính vì những lý do đó, công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) đã trở thành một yêu cầu bức xúc của toàn xã hội, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Ngay từ Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII

10. 4 các biện pháp hành chính PCTN. Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng và hiệu quả của các biện pháp hành chính trong công tác PCTN ở Quảng Nam; tìm ra được những ưu điểm, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn, vướng mắc đó. Đề xuất các quan điểm, giải pháp đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp hành chính PCTN tại thực tiễn tỉnh Quảng Nam. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu PCTN là một lĩnh vực có phạm vi nghiên cứu tương đối rộng, song dưới góc độ lý luận và pháp lý, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các biện pháp hành chính trong công tác PCTN; đánh giá thực trạng áp dụng và hiệu quả áp dụng các biện pháp hành chính trong công tác PCTN từ năm 2005 đến nay (10 năm Luật PCTN có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2006); yêu cầu khách quan, chủ quan của địa phương; đề ra các kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác PCTN bằng các biện pháp hành chính. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Về không gian: Trong phạm vi địa bàn tỉnh Quảng Nam. Về thời gian: Từ năm 2005 đến năm 2015. 5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn được được thực hiện dựa trên các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích – tổng hợp; thống kê, so sánh. Cụ thể: Chương 1: Sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích – tổng hợp để làm rõ nội hàm các khái niệm, nội dung của đề tài. Chương 2: Sử dụng phương pháp nghiên cứu thống kê nhằm phân tích thực tế

14. 8 theo quy định của pháp luật đã lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi, nhằm đạt được những lợi ích vật chất, tinh thần hay những lợi ích khác, cho bản thân hay cho người khác”. 1.1.1.2. Nguyên nhân, tác hại của tham nhũng a. Nguyên nhân của tham nhũng Những năm qua cuộc đấu tranh tham nhũng của Đảng và Nhân dân ta diễn ra rất quyết liệt và đã thu được kết quả bước đầu song đến nay có thể nói nạn tham nhũng vẫn chưa được đẩy lùi một cách cơ bản. Tình hình vẫn diễn ra phức tạp, có nơi có chiều hướng gia tăng với những thủ đoạn hết sức tinh vi, có trường hợp câu kết, móc nối ngang dọc giữa các phần tử thoái hoá biến chất trong các cơ quan Nhà nước và ngoài xã hội, rất khó phát hiện làm cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng hết sức khó khăn. Tham nhũng có thể xuất phát từ các nguyên nhân: Thứ nhất, hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách ở nước ta còn nhiều kẽ hở. Thứ hai, do những sai lầm, khuyết điểm trong hoạt động của một số cơ quan Đảng và Nhà nước. Thứ ba, những yếu kém trong công tác tổ chức cán bộ do sự buông lỏng, yếu kém trong quản lý Nhà nước. b. Tác hại của tham nhũng Một là, tác hại về chính trị Tham nhũng là trở lực lớn đối với quá trình đổi mới đất nước và làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước, đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Công cuộc đổi mới đất nước một cách toàn diện đã mang đến cho đất nước ta thế và lực mới. Những điều chỉnh đúng đắn về chiến lược và sách lược đã phát huy tác dụng và tạo đà cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, tình trạng tham nhũng lại là một trở lực lớn đối với quá trình này. Quan điểm và tư duy đổi mới cùng với cơ chế, pháp luật đúng đắn, phù hợp đã bị tệ tham nhũng làm cho méo mó. Đối tượng tham nhũng đã lợi dụng sự thông thoáng của cơ chế, chính sách để thực hiện hành vi tham nhũng. Kẻ tham nhũng lợi dụng yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát và các biện pháp khác để dọa dẫm, đòi hối lộ

17. 11 ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí”. Như vậy có thể khẳng định PCTN là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và là quyết tâm rất lớn của cả hệ thống chính trị trong điều kiện và hoàn cảnh hiện nay. 1.1.2.2. Các loại biện pháp phòng, chống tham nhũng Tại Việt Nam, do những điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội,… có điểm khác biệt so với các nước trên thế giới cho nên muốn phòng chống tham nhũng ở Việt Nam cũng cần có những giải pháp riêng để cải thiện tình hình, ngăn chặn những ảnh hưởng mà tham nhũng gây ra. Qua phân tích một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng tham nhũng, đồng thời nếu xét về đối tượng, thủ đoạn của hành vi tham nhũng, rõ ràng là nếu PCTN bằng các biện pháp đơn lẻ thì ắt hẳn sẽ không hiệu quả. Nghị quyết số 14-NQ/TW, ngày 15/5/1996 của Bộ Chính trị đã khẳng định: công cuộc PCTN đòi hỏi phải có sự kết hợp thống nhất, thực hiện đồng bộ giữa những biện pháp mang tính cấp bách với những giải pháp mang tính chiến lược; giữa những biện pháp mang tính trừng trị với những biện pháp mang tính ngăn ngừa trong sự huy động và phối hợp chặt chẽ mọi lực lượng đấu tranh chống tham nhũng; lấy phòng ngừa làm trọng tâm, trọng điểm, trong đó lấy giáo dục làm cơ sở, lấy pháp chế làm đảm bảo kết hợp nhiều biện pháp khác như biện pháp dân sự, hình sự… Đồng quan điểm với các tổ chức quốc tế và các quốc gia trên thế giới, các giải pháp phòng ngừa tham nhũng luôn được chú trọng hơn cả vì tính tiết kiệm và hiệu quả nhất. Phòng ngừa tham nhũng có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức, song tựu trung đều nhằm vào một mục tiêu cơ bản là làm cho mọi chủ thể trong xã hôi, đặc biệt là những người thực thi quyền lực công không thể tham nhũng, không dám tham nhũng và không cần tham nhũng. Để đạt được những mục tiêu này, những cách thức được sử dụng phổ biến nhất là: (i) Chú trọng giáo dục về PCTN, trong đó đặc biệt là giáo dục đạo đức cho công chức. (ii) Hoàn thiện hệ thống pháp luật về PCTN. (iii) Thực hiện công khai, minh bạch, phân cấp và kiểm soát lẫn nhau trong

18. 12 hoạt động của các cơ quan nhà nước. (iv) Phòng ngừa sự xung đột giữa lợi ích chung và lợi ích riêng. (v) Xây dựng và thực hiện các cơ chế kiểm soát thu nhập của công chức. (vi) Xây dựng và thực hiện các cơ chế kiểm tra, kiểm toán, thanh tra. (vii) Trả lương thích đáng cho công chức (viii) Xây dựng hệ thống các cơ quan chuyên trách PCTN [20, tr.69]. 1.1.2.3. Vai trò của phòng, chống tham nhũng Thứ nhất, PCTN góp phần bảo vệ chế độ, xây dựng Nhà nước pháp quyền Hoạt động PCTN luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đặc biệt. Trong những năm gần đây, hoạt động PCTN ở Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên kết quả của hoạt động này vẫn chưa được như mong muốn. Tham nhũng vẫn được coi là “quốc nạn” của đất nước, là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam [3]. Như vậy, PCTN không chỉ có mục đích đơn thuần là giảm tình hình vi phạm pháp luật nói chung, tội phạm nói riêng mà còn có ý nghĩa quan trọng bảo vệ sự vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Thứ hai, PCTN góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước, nâng cao đời sống nhân dân Thiệt hại về vật chất do tham nhũng gây ra không chỉ là số lượng tài sản rất lớn của Nhà nước, tập thể và công dân bị các đối tượng tham nhũng chiếm đoạt mà còn bao gồm cả những thiệt hại vật chất do các đối tượng này làm thất thoát hoặc gây lãng phí. Những thiệt hại vật chất do các vụ tham nhũng gây ra là rất lớn, có vụ thiệt hại vật chất lên đến hàng ngàn tỷ đồng. Nếu so sánh với mức thu ngân sách hàng năm của đất nước, mức chi hàng năm cho y tế, giáo dục hoặc cho an sinh xã hội, xoá đói, giảm nghèo… thì càng thấy rõ mức độ nghiêm trọng của những thiệt hại vật chất do tham nhũng gây ra. Tham nhũng làm hao tổn lớn nguồn lực kinh tế của quốc gia, làm chậm nhịp tăng trưởng của nền kinh tế, làm cho nền kinh tế đất nước rơi vào tình trạng tụt hậu ngày càng xa so với các nước trong khu vực và thế giới.

19. 13 Vì vậy, để phát triển kinh tế nhanh và vững chắc, đồng thời không ngừng nâng cao đời sống, vật chất, tinh thần cho nhân dân cần thực hiện các biện pháp cần thiết để phòng ngừa và đấu tranh không khoan nhượng với tham nhũng. Việc tích cực PCTN có ý nhĩa quan trọng không chỉ đối với việc phát triển, tăng trưởng nền kinh tế mà còn có ý nghĩa to lớn, góp phần quan trọng trong việc cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Thứ ba, PCTN góp phần duy trì các giá trị đạo đức truyền thống, làm lành mạnh các quan hệ xã hội Với đặc điểm đặc trưng là được thực hiện bởi những người có chức vụ, quyền hạn và với mục đích vụ lợi, các hành vi tham nhũng không chỉ gây ra những thiệt hại lớn về kinh tế, tài sản cho nhà nước và xã hội mà nó còn làm tổn hại nghiêm trọng đến các giá trị đạo đức truyền thống, “làm vẩn đục” các quan hệ xã hội. Sự thiếu gương mẫu trong việc tuân thủ pháp luật của người có chức vụ, quyền hạn; sự tham lam, vụ lợi, “thu vén” cho lợi ích cá nhân của người có chức vụ quyền hạn; sự tha hoá nhân cách, lợi dụng, lạm dụng quyền hành làm trái pháp luật, chiếm đoạt tài sản của người có chức vụ quyền hạn – sự tham nhũng đã làm cho các giá trị đạo đức truyền thống bị chà đạp nghiêm trọng. Các giá trị đạo đức truyền thống của xã hội, của dân tộc như lòng nhân ái, đức hy sinh, tinh thần tương thân tương ái… không những không được đề cao mà ngày càng mai một. Để bảo vệ xã hội, bảo tồn và phát triển các giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống thì Nhà nước, mỗi người dân và toàn xã hội cần đồng lòng, chung sức đấu tranh không khoan nhượng với các hành vi tham nhũng và tội phạm về tham nhũng. Việc phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng chính là hoạt động góp phần duy trì các giá trị đạo đức truyền thống và làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Thứ tư, PCTN góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ và pháp luật Đấu tranh PCTN là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự sống còn của chế độ, hạnh phúc của nhân dân và tương lai của dân tộc. Đây là cuộc chiến đầy gian khó và phức tạp nhằm chống lại những thói hư, tật xấu đang

20. 14 tiềm ẩn trong mỗi cán bộ, công chức, viên chức – những người được nhà nước và nhân dân trao quyền ở các cơ quan từ trung ương đến địa phương. Cuộc đấu tranh chống tham nhũng chỉ có thể giành được thắng lợi như mong muốn khi có sự kiên quyết trong chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, của chính quyền cũng như sự hưởng ứng, tham gia tích cực của mỗi công dân. Ngoài ra, cần lưu ý rằng, hai thành tố hợp thành nội dung của cuộc đấu tranh này là phòng và chống tham nhũng. Việc “phòng” và “chống” tham những là hai hoạt động khác nhau nhưng có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Phương châm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta là lấy phòng ngừa là chính nhưng đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng. Để phòng ngừa tham nhũng, các cơ quan, tổ chức cần thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, giáo dục cán bộ, công chức, viên chức không vi phạm pháp luật về PCTN, cổ vũ động viên mọi tầng lớp nhân dân phát hiện, tố giác hành vi tham nhũng. Trong phạm vi quyền hạn của mình, các cơ quan, tổ chức, đặc biệt là người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải thường xuyên nhắc nhở, giáo dục cán bộ đồng thời xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng, bảo vệ người tố giác… Điều đó góp phần quan trọng trong công tác PCTN và đồng thời củng cố lòng tin của cán bộ, công chức cũng như của toàn dân đối với cơ quan, tổ chức và pháp luật. 1.2. Các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng 1.2.1. Khái niệm, đặc điểm các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng và mối quan hệ với biện pháp dân sự, hình sự 1.2.1.1. Khái niệm Các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng là các biện pháp do luật hành chính quy định (không bao gồm các chế tài dân sự, hình sự), được cụ thể hóa trong Luật PCTN, bao gồm: Thứ nhất, nhóm các biện pháp phòng ngừa Phòng ngừa tham nhũng là biện pháp do các cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền áp dụng nhằm phòng ngừa tham nhũng có thể xảy ra hoặc hạn chế những thiệt hại do tham nhũng gây ra. Những biện pháp phòng ngừa

21. 15 gồm: công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn; xây dựng quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức; minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức; chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng; cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán nhằm phòng ngừa tham nhũng. Thứ hai, nhóm các biện pháp phát hiện tham nhũng: phát hiện tham nhũng là việc tìm ra vụ việc tham nhũng và có biện pháp kịp thời để hạn chế thiệt hại xảy ra, đồng thời xác định mức độ trách nhiệm của người có hành vi vi phạm, có hình thức xử lý thích đáng và nghiêm minh. Việc phát hiện tham nhũng đòi hỏi sự nỗ lực của mọi cơ quan, tổ chức, đặc biệt là các cơ quan có chức năng thanh tra, điều tra, giám sát, kiểm sát cũng như sự tham gia tích cực của công dân. Luật PCTN quy định việc phát hiện tham nhũng thông qua ba hoạt động chủ yếu: công tác kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước; hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán; tố cáo của công dân. Thứ ba, các biện pháp xử lý tham nhũng: Xử lý tham nhũng, trong đó có xử lý người có hành vi tham nhũng và xử lý tài sản tham nhũng là vấn đề quan trọng, là khâu cuối cùng trong quá trình đấu tranh với một hành vi hay vụ việc tham nhũng. Xử lý tham nhũng thể hiện rõ nét quan điểm và thái độ của nhà nước cũng như phản ứng của xã hội đối với tham nhũng. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, về cơ bản, pháp luật nước ta đã có những quy định khá đầy đủ, chặt chẽ về việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và tham nhũng nói riêng, bao gồm xử lý người có hành vi tham nhũng (không bao gồm xử lý hình sự) và xử lý tài sản tham nhũng. 1.2.1.2. Mối quan hệ giữa biện pháp hành chính với các biện pháp dân sự, hình sự trong phòng, chống tham nhũng Các biện pháp hành chính và các biện pháp dân sự, biện pháp hình sự có quan hệ rất chặt chẽ trong đấu tranh PCTN. Thứ nhất, trong công tác thu hồi tài sản tham nhũng [42]

31. 25 – Việc xác minh tài sản được tiến hành trong một số trường hợp nhất định. Đây là một điểm mới so với Pháp lệnh chống tham nhũng. Khi xem xét đề bạt, bổ nhiệm, bầu cử hoặc có hành vi tham nhũng thì thủ trưởng cơ quan tổ chức việc xác minh tài sản để xem cán bộ, công chức có kê khai trung thực hay không. – Bản kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản được công khai trong một số trường hợp nhất định theo yêu cầu và trên cơ sở quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. – Người có nghĩa vụ kê khai tài sản sẽ phải chịu trách nhiệm kỷ luật nếu kê khai không trung thực, nếu là người ứng cử thì sẽ bị loại khỏi danh sách bầu cử, người được dự kiến bổ nhiệm, phê chuẩn thì sẽ không được bổ nhiệm, phê chuẩn vào chức vụ dự kiến. Luật PCTN còn quy định việc xác minh tài sản là để đánh giá về tính trung thực của việc kê khai, góp phần đánh giá cán bộ, công chức hoặc người tham gia ứng cử vào các cơ quan quyền lực để bảo đảm bộ máy nhà nước có một đội ngũ cán bộ trung thực, liêm chính, không tham nhũng. Qua xác minh, nếu người bị kết luận là không trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập thì tuỳ theo tính chất, mức độ mà bị xử lý bằng một trong các hình thức kỷ luật sau: khiển trách; cảnh cáo; hạ bậc lương; hạ ngạch. Đối với người kê khai tài sản, thu nhập không trung thực là người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, người dự kiến được bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại hội của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, người dự kiến được phê chuẩn, bổ nhiệm thì bị xử lý như: bị xoá tên khỏi danh sách người ứng cử, không được bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm. Thứ năm, chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng Luật PCTN đã khẳng định lại nguyên tắc: “Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách” [25, tr.41]. Trên cơ sở nguyên tắc chung như trên, Luật cũng quy định tuỳ từng trường hợp cụ thể mà xác định mức độ trách nhiệm khác nhau của người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan,

32. 26 tổ chức, đơn vị, có trường hợp họ phải chịu trách nhiệm trực tiếp, có trường hợp thì liên đới chịu trách nhiệm. Mặc dù đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đối với việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do họ phụ trách nhưng do tính chất phức tạp của tệ nạn tham nhũng cho nên Luật PCTN cũng quy định việc loại trừ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong những trường hợp bất khả kháng, những hành vi tham nhũng vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của người lãnh đạo quản lý, trường hợp họ không thể biết được hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tham nhũng. Cụ thể hóa những quy định của Luật PCTN, ngày 22-9-2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 107/2006/NĐ-CP quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Nghị định này quy định mức độ của vụ, việc tham nhũng làm căn cứ để xác định trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị. Thứ sáu, cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán nhằm phòng ngừa tham nhũng Cải cách hành chính là công việc có tính chất thường xuyên, lâu dài, liên tục với mục tiêu xây dựng một nền hành chính trong sạch, hiện đại, hoạt động có hiệu quả, hiệu lực và thể hiện tính phục vụ. Cải cách hành chính bao gồm rất nhiều nội dung phong phú và toàn diện, từ cải cách thể chế, tổ chức bộ máy, quản lý và sử dụng cán bộ công chức, quản lý tài chính công… Luật PCTN chỉ đề cập đến một số khâu quan trọng cần lưu ý trong quá trình tiến hành cải cách hành chính để góp phần phòng ngừa tham nhũng. Trong đó có nội dung Nhà nước thực hiện cải cách hành chính nhằm tăng cường tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị; đẩy mạnh việc phân cấp quản lý nhà nước giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương; phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan nhà nước; công khai, đơn giản

34. 28 Đến nay, việc trả lương qua tài khoản cho cán bộ, công chức, viên chức đã từng bước được thực hiện theo Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg ngày 24-8-2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 1.2.2.2. Biện pháp phát hiện tham nhũng Thứ nhất, phát hiện tham nhũng thông qua công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước Kiểm tra là một hoạt động không thể thiếu trong quản lý nhà nước. Các hành vi tham nhũng có thể diễn ra trong mọi lĩnh vực quản lý. Vì vậy, công tác kiểm tra của các cơ quan quản lý có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát hiện các vụ việc tham nhũng. Trên thực tế, việc xác định tính chất và mức độ của vụ việc tham nhũng cũng như trách nhiệm của những người vi phạm đòi hỏi có nhiều thời gian và công sức, thường thuộc trách nhiệm của các cơ quan thanh tra, điều tra nhưng những dấu hiệu ban đầu của các i phạm, những dấu hiệu không bình thường trong hoạt động quản lý lại thường do các cơ quan quản lý phát hiện. Vì vậy, Luật PCTN nhấn mạnh trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong việc thường xuyên tiến hành kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của cơ quan mình. Tuỳ từng vụ việc cụ thể, căn cứ vào tính chất và mức độ của nó mà có thể xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho các cơ quan chức năng xử lý. Theo quy định của Luật PCTN, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm thường xuyên tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình nhằm kịp thời phát hiện hành vi tham nhũng.Khi phát hiện có hành vi tham nhũng, thủ trưởngcơ quan quản lý nhà nước phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặcthông báo cho cơ quan thanh tra, điều tra, viện kiểm sát có thẩm quyền. Ngoài ra, Luật PCTN cũng quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc tự kiểm tra nội bộ cơ quan, tổ chức, đơn vị mình, kiểm tra việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức do mình quản lý để phát hiện tham nhũng. Hình thức

36. 30 68,5%, tăng 18,3% so với năm 2013). [37] Có thể thấy rằng, hoạt động thanh tra, kiểm toán đã phát hiện ra rất nhiều sai phạm kinh tế có dấu hiệu tham nhũng hoặc có nguy cơ dẫn đến tham nhũng nếu không được ngăn chặn kịp thời. Chính vì vậy, các hoạt động này được quy định rất chặt chẽ và đầy đủ trong các văn bản pháp luật cao nhất của Nhà nước. Một mặt, pháp luật trao cho các cơ quan này quyền hạn lớn để có thể đấu tranh với những vi phạm pháp luật, mặt khác cũng quy định chặt chẽ để hoạt động của các cơ quan này phải tuân thủ pháp luật, bảo đảm tính chính xác, khách quan trong khi đánh giá, kết luận những vụ việc và người có hành vi vi phạm để tránh oan sai. Thứ ba, tố cáo và giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng Tố cáo là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, các nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Tố cáo là một kênh quan trọng trong phát hiện hành vi tham nhũng. Luật PCTN quy định những nguyên tắc chung và nội dung cơ bản của tố cáo hành vi tham nhũng. Luật quy định cơ chế bảo vệ người tố cáo, quyền và nghĩa vụ của người tố cáo và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong tiếp nhận và xử lý tố cáo hành vi tham nhũng, khen thưởng người tố cáo… Vấn đề tố cáo và giải quyết tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật nói chung đã được quy định trong Luật tố cáo năm 2011 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật PCTN quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng với hai nhóm nội dung sau: – Quyền của công dân trong việc tố cáo hành vi tham nhũng, trách nhiệm của công dân khi thực hiện quyền tố cáo. Người tố cáo phải tố cáo trung thực, nêu rõ họ, tên địa chỉ, cung cấp thông tin, tài liệu mà mình có và hợp tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo. Người tố cáo mà cố tình tố cáo sai sự thật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật [25, tr 47-48].

38. 32 Đối với người đứng đầu đơn vị, khi để xảy ra tham nhũng thì có thể chịu các hình thức kỷ luật: – Hình thức khiển trách được áp dụng trong trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng hoặc nhiều vụ, việc tham nhũng ít nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. – Hình thức cảnh cáo được áp dụng trong trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ, việc tham nhũng rất nghiêm trọng hoặc nhiều vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. – Hình thức cách chức được áp dụng trong trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ, việc tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng hoặc nhiều vụ, việc tham nhũng rất nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Thứ hai,, xử lý tài sản tham nhũng Tham nhũng về bản chất là một hành vi có tính chất vụ lợi và một trong những hậu quả mà tham nhũng gây ra là tài sản công bị chiếm đoạt. Chính vì vậy, mục tiêu quan trọng của đấu tranh chống tham nhũng là phải bảo vệ được lợi ích của Nhà nước cũng như lợi ích của tập thể và cá nhân. Chống tham nhũng cần quan tâm đến việc tịch thu, thu hồi tài sản tham nhũng, tránh tình trạng chỉ quan tâm đến việc xử lý người vi phạm về kỷ luật hay hình sự mà chưa quan tâm hoặc có biện pháp hữu hiệu để thu hồi lại số tài sản mà kẻ tham nhũng đã chiếm đoạt và có được từ việc thực hiện hành vi tham nhũng. Điểm mới khá quan trọng trong việc xử lý tài sản của người đưa hối lộ đó là khuyến khích người đưa hối lộ khai báo, phát giác hành vi nhận hối lộ. Mặc dù, còn khá nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề xử lý đối với người có hành vi hối lộ nhưng nhìn chung đều nhất trí rằng, cần có quy định theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm cho người đưa hối lộ để khuyến khích họ phát giác hành vi nhận hối lộ.

39. 33 Luật quy định về nguyên tắc tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu, trả lại cho chủ sở hữu, quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước. Người đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi hành vi đưa hối lộ bị phát giác thì được trả lại tài sản đã dùng để hối lộ. Theo Điều 71 về thu hồi tài sản tham nhũng có yếu tố nước ngoài thì trên cơ sở điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hợp tác với chính phủ nước ngoài trong việc thu hồi tài sản của Việt Nam hoặc của nước ngoài bị tham nhũng và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp. 1.3. Các điều kiện bảo đảm thực hiện biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng 1.3.1. Điều kiện về pháp luật Từ năm 2005, Việt Nam ban hành Luật PCTN (được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012). Trước khi có Luật, Pháp lệnh chống tham nhũng đã được ban hành năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2000). Cùng với đó là các giải pháp PCTN được đưa ra như cải cách thủ tục hành chính; công khai, minh bạch các hoạt động của cơ quan nhà nước, tài sản và thu nhập cá nhân của cán bộ, công chức; tăng cường áp dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt… Nhưng thực tế từ năm 1998 đến nay, tình hình tham nhũng diễn ra ngày càng nhiều và nghiêm trọng cả về số vụ, tính chất, quy mô. Dưới góc độ quản lý nhà nước, hệ thống văn bản, quy phạm pháp luật phục vụ công tác PCTN ở nước ta còn thiếu đồng bộ, trên một số lĩnh vực còn sơ hở, chưa theo kịp sự phát triển mạnh mẽ của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đặc biệt là trong lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng như quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản; xây dựng đầu tư cơ bản; quản lý ngân sách; thu thuế, phí; quản lý, sử dụng vốn, tài sản trong doanh nghiệp nhà nước; tín dụng, ngân hàng; công tác tổ chức cán bộ; quan hệ giữa cơ quan nhà nước với người dân và doanh nghiệp; hợp tác đầu tư với nước ngoài; sử dụng các nguồn vốn vay nước ngoài… Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng còn bất cập, kéo dài, nặng dưới

Luận Văn Tội Phạm Tham Nhũng / 2023

Bước vào thế kỷ thứ 21, tất cả thế giới đang vận hanh theo xu hướng mới: hoà bình, đối thoại, hội nhập và cùng phát triển. Các ranh giới ngăn cách về kinh tế, chính trị, tôn giáo, sắc tộc sẽ dần được xoá bỏ. Việt Nam cũng ở trong xu hướng chung đó. Là một bước đang phát triển, Việt Nam gặp phải nhiều vấn đề thách thức trong quá trình hội nhập nhất là về kinh tế, khoa học – kỹ thuật và công nghệ. Bằng việc phát huy cao độ nguồn nội lực trong nước và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn hỗ trợ từ nước ngoài, Việt Nam đang cố gắn tiến những bước lớn trên con đường phát triển kinh tế. Nhưng có một thách thức lớn đang cản trở con đường ấy, đó là các tội phạm về tham nhũng (mà theo ngôn ngữ của người dân là những con sâu mọt đang đục khoét xã hội) cũng đang ngày càng gia tăng về mức độ phổ biến, quy mô và thủ đoạn. Có thể nói, tham nhũng là vấn đề toàn cầu. Các quốc gia công nghiệp hoá tất nhiên không hề miễn dịch trước tham nhũng và tất cả đều có trách nhiệm tham gia vào việc tìm ra giải pháp. Tuy nhiên, tham nhũng dường như xâm hại với tỷ lệ cao hơn ở các nước đang phát triển và nền kinh tế đang chuyển đổi. Tham nhũng ngăn cản nhiều nước vượt qua những thách thức nghiêm trọng nhất của phát triển, cản trở đầu tư trong nước và nước ngoài, làm xói mòn niềm tin trong các tổ chức công cộng, niềm tin của nhân dân đối với Chính phủ, và làm tồi tệ thêm vấn đề ngân sách bằng cách lấy đôi của Chính phủ các khoản thuế quan và thuế thu nhập đáng kể. Mặc dù tội phạm tham nhũng là một loại tội phạm nguy hiểm và có tính chất truyền thống nhưng việc nghiên cứu và tìm ra các biện pháp phòng chống loại tội phạm này luôn là một vấn đề bức xúc đối với mọi nền kinh tế trên thế giới và đối với sự phát triển của nền Việt Nam nói riêng. Đó là một nhiệm vụ cấp thiết đang đặt ra cho các nhà luật học nói chung và người nghiêm cứu khoa học luật hình sự nói riêng. Dù vẫn đang là sinh viên nhưng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng cũng như trong thực tế đời sống xã hội, tôi cảm thấy rất quan tâm và bức xúc về vấn đề tội phạm tham nhũng hiện nay. Tôi đã tiến hành nghiên cứu trên sách báo, internet và thực tế để hoàn thành báo cáo khoa học này. Trong phạm vi một báo cáo kho học sinh viên chỉ xin đề cập về vấn đề này trên một số khía cạnh như sau: tội phạm tham nhũng – một số vấn đề lý luận, thực tế và những ảnh hưởng tới nền kinh tế, một số biện pháp đấu tranh phòng chống, tương ứng với 3 chương trong nội dung của báo cáo.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Bạn đang đọc nội dung bài viết 10 Bài Tiểu Luận, Luận Văn Về Phòng Chống Tham Nhũng / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!