Đề Xuất 5/2022 # ​tìm Hiểu Thực Trạng Vấn Đề Tôn Giáo Và Dân Tộc Trong Phát Triển Hiện Nay Ở Gia Lai # Top Like

Xem 12,375

Cập nhật nội dung chi tiết về ​tìm Hiểu Thực Trạng Vấn Đề Tôn Giáo Và Dân Tộc Trong Phát Triển Hiện Nay Ở Gia Lai mới nhất ngày 28/05/2022 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 12,375 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Mục Tiêu, Giải Pháp Vấn Đề Tôn Giáo
  • Dân Số Già Hóa Có Thực Sự Là Gánh Nặng Cho Nền Kinh Tế?
  • Nghiệm Thu Đề Tài Khoa Học “nghiên Cứu Các Giải Pháp Phòng, Chống Bạo Lực Gia Đình Ở Việt Nam Hiện Nay”
  • Những Giải Pháp Bảo Vệ Rừng Tại Vườn Quốc Gia Ba Bể:những Giải Pháp Bảo Vệ Rừng Tại Vườn Quốc Gia Ba Bể
  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Công Tác Bình Đẳng Giới Ở Kiên Giang
  • Cơ quan chủ trì: Ban Tôn giáo tỉnh Gia Lai

    Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thành Cam

    Địa chỉ liên lạc: Ban Tôn giáo Sở Nội vụ tỉnh Gia Lai

    Học vị: Cử nhân

    Chức vụ: Phó giám đốc Sở Nội vụ

    Thời gian thực hiện: 2005 – 2006

    Ngày nghiệm thu: 2006

    Kết quả nghiệm thu: Khá

    Đứng trước tình hình phức tạp như vậy, Đảng bộ và Chính quyền địa phương đã tốn khá nhiều công sức, tiền của,… để xử lý các “điểm nóng” về vấn đề tôn giáo và dân tộc. Song trên thực tế vẫn còn nhiều khó khăn vướng mắc, bất cập: Hiệu quả các giải pháp còn hạn chế, bởi phần lớn chỉ là giải pháp tình thế.

    Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên việc lựa chọn, đề xuất và triển khai thực hiện công trình nghiên cứu khoa học về đề tài “Tìm hiểu thực trạng vấn đề tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc trong phát triển hiện nay ở Gia Lai”.

    Xây dựng hệ thống thông tin cơ bản về các tôn giáo, các dân tộc thiểu số ở Gia Lai; trọng điểm là 2 tôn giáo: Công giáo và Tin Lành và 2 dân tộc: Jrai và Bahnar.

    Cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách củng cố sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân tộc, chặn đứng âm mưu chia rẽ của các thế lực thù địch.

    Đề xuất giải pháp cho công tác quản lí tôn giáo trên địa bàn tỉnh.

    Mở đầu: Giới thiệu tổng quan về cách đặt vấn đề, cách giải quyết vấn đề và kết quả chủ yếu của việc thực hiện đề tài.

    Phần thứ nhất: Khái quát đặc điểm môi trường sinh thái nhân văn vùng Gia Lai, nơi có các thành phần dân tộc chung sống lâu đời (bản địa) và các thành phần dân tộc đến sau (nhập cư), nơi mà các tôn giáo du nhập và phát triển.

    Phần thứ hai có hai nội dung chính:

    Một là: Khái quát về sự du nhập của các tôn giáo và những đặc điểm chủ yếu về thực trạng các tôn giáo trong vùng dân tộc ở Gia Lai hiện nay (chủ yếu là Công giáo và Tin Lành);

    Hai là: Đưa ra kết quả nghiên cứu dự báo xu hướng phát triển của các cộng đồng tôn giáo ở đây;

    Phần thứ ba có hai nội dung chính:

    Một là: Trình bày kết quả nghiên cứu phân tích phát hiện những vấn đề về thực trạng các tôn giáo trong vùng dân tộc ở Gia Lai hiện nay;

    Hai là: Đưa ra kết quả nghiên cứu đề xuất giải pháp cho các vấn đề về thực trạng các tôn giáo trong vùng dân tộc ở Gia Lai.

    Điều tra diện rộng và khảo sát điểm

    Tổ chức liên ngành, nghiên cứu tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh,… trong đó có việc trao đổi thông tin và học tập kinh nghiệm tại các Ban tôn giáo ở các tỉnh Tây Nguyên.

    Từ những kết quả khảo sát, nghiên cứu nêu trên cho thấy:

    + Gia Lai là vùng cao nguyên có tài nguyên thiên nhiên đa dạng;

    + Gia Lai là vùng sinh thái nhân văn có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời;

    + Gia Lai sớm là nơi định cư của nhiều thành phần dân tộc, có dân số và số lượng thành phần dân tộc tăng nhanh trong thế kỉ XX;

    + Cư dân bản địa Gia Lai duy trì lâu bền nhiều hình thức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian truyền thống trước khi có hình thái tôn giáo từ bên ngoài du nhập đến.

    5.2. Tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc ở Gia Lai thực trạng và xu hướng:

    * Khái quát về quá trình du nhập của các tôn giáo vào Gia Lai:

    -Mỗi tôn giáo có giáo lý, giới luật, những quy tắc ứng xử riêng, có ý thức về quyền lợi, về vai trò, vị trí của nó trong xã hội và trong cuộc đấu tranh với các bất công của xã hội, thường hướng tín đồ tới hạnh phúc ở kiếp sau.

    -Vì được tổ chức như một lực lượng xã hội, nên để phát triển, các tôn giáo thường có nhiều phương cách để truyền giáo.

    * Quá trình du nhập của các tôn giáo vào Gia Lai:

    -Theo dòng thời gian, đã có 4 tôn giáo hiện diện trong đời sống dân cư Gia Lai: Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Tin Lành (Hiện nay tôn giáo BHai đang làm thủ tục đăng ký hoạt động, có 42 tín đồ ở 01 huyện, 01 thị xã và thành phố Pleiku);

    Có một thực tế lịch sử là: Trước năm 1975, hoạt động truyền đạo của đạo Công giáo, đạo Tin Lành trên địa bàn tỉnh Gia Lai là không tách rời với hoạt động xâm lược của thực dân (Pháp), đế quốc (Mỹ);

    -Trong quá trình du nhập của các tôn giáo đến nay, trong cư dân bản địa Gia Lai có một bộ phận đông đảo là tín đồ Tin Lành, một bộ phận đáng kể là tín đồ Công giáo, một bộ phận rất nhỏ là tín đồ Phật giáo, và chưa có tín đồ đạo Cao Đài.

    * Thực trạng tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc ở Gia Lai:

    Tổng số tín đồ của 4 tôn giáo này có khoảng 273.363 tín đồ, chiếm tỉ lệ khoảng 23% dân số toàn tỉnh, trong đó có hơn 132.478 nghìn tín đồ là người các dân tộc Jrai và Bahnar theo đạo Công giáo và Tin lành; và 04 tín đồ theo đạo Phật và người Bahnar. Trong số tín đồ Công giáo và đạo Tin Lành là người các dân tộc thiểu số, có tuyệt đại đa số là cư dân bản địa (Jrai và Bahnar), trong đó phần lớn là người Jrai.

    – Công giáo:

    Vì vậy, khi bàn đến thực trạng tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc ở Gia Lai cũng có nghĩa là đề cập đến hai tôn giáo đang hiện diện ở đây là Công giáo và đạo Tin Lành.

    + Mặt tích cực:

    Trên mặt sản xuất nông nghiệp, đồng bào theo đạo tuân theo lịch thời vụ một cách nghiêm túc hơn vì vượt qua được một số cấm kỵ bởi mê tín dị đoan; giúp cho năng suất cây trồng ở các vùng đồng bào dân tộc được nâng cao.

    Về mặt xã hội: Góp phần hạn chế được nhiều tệ nạn xã hội nhờ những tín điều giáo lý.

    Một số dòng tu mở lớp dạy nghề thủ công mĩ nghệ cho thanh niên nam nữ là người dân tộc thiểu số, nuôi dạy trẻ mồ côi; phong trào xóa đói giảm nghèo được hầu hết các giáo xứ, giáo họ tham gia mà nòng cốt là linh mục chánh xứ và mở trường dạy văn hóa dành cho con em dân tộc tại các dòng tu nữ.

    Công giáo sử dụng khá phổ biến làn điệu dân ca vào phục vụ các nghi thức Phụng tự. Tín đồ là người dân tộc thiểu số vẫn giữ trang phục truyền thống khi đến nhà thờ. Một số nhà thờ Công giáo mới xây dựng trong những năm gần đây cũng được mô phỏng theo lối kiến trúc nhà rông. Đó là sự hội nhập văn hóa và còn nhắc nhở giáo dân – tín đồ ý thức về việc bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc cổ truyền.

    + Mặt hạn chế:

    Một số tín ngưỡng, lễ hội dân gian của cư dân bản địa bị tàn lụi.

    Tôn giáo độc thần dần thay thế cho hệ thống tín ngưỡng đa thần.

    Gắn kết tình cảm tôn giáo với tình cảm dân tộc trong vòng siêu linh làm giảm sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc và làm phai nhạt tình cảm yêu nước,…

    – Đạo Tin Lành:

    Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam đã qua 4 kỳ Đại hội; tổ chức này vẫn chưa được thành lập ở Giáo phận Kon Tum nói chung và giáo hạt Pleiku nói riêng.

    Có 3 điểm cần chú ý:

    Một là, Hình thành được những tập quán và nội dung sinh hoạt tôn giáo phù hợp với điều kiện, đặc điểm của vùng đồng bào dân tộc ít người và hòa nhập được với vùng dân tộc ít người ở một mức độ đáng kể.

    Hai là, Huấn luyện được một đội ngũ giáo sĩ chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp người dân tộc tại chỗ, có chuyên môn, có kinh nghiệm thực tiễn về truyền giáo vùng dân tộc nhằm kế tục mục tiêu của CMA là “tôn giáo hóa vùng dân tộc ít người”.

    Ba là, Xây dựng được Hội Thánh địa phương mang màu sắc dân tộc, do người dân tộc quản lý, với một hệ thống cơ sở vật chất tương đối hoàn chỉnh phục vụ cho sinh hoạt tôn giáo và sinh hoạt xã hội của đồng bào dân tộc.

    Đạo Tin Lành xâm nhập và phát triển ở tỉnh Gia Lai là kết quả của một quá trình truyền giáo không tách rời âm mưu, thủ đoạn lâu dài của thực dân- đế quốc.

    Đến nay, ngoài hệ phái Tin Lành Việt Nam (miền Nam) trên địa bàn tỉnh Gia Lai có 08 hệ phái Tin Lành với 5.396 tín đồ, đang củng cố thực lực về tổ chức và truyền đạo để lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo và tranh giành tín đồ bao gồm:

    Hệ phái truyền giáo cơ đốc: 1.756 tín đồ;

    Hệ phái Cơ đốc phục lâm Việt Nam: 33 tín đồ;

    Hệ phái Bắp tít: 36 tín đồ;

    Hệ phái Cơ đốc Phục Lâm An thất nhật: 400 tín đồ;

    Hệ Liên hữu Cơ đốc: 1.022 tín đồ;

    Hệ phái Menonite: 429 tín đồ;

    Hệ phải Tin lành Giám lý: 238 tín đồ;

    Hệ phái Tin lành Khánh Khiết: 1.482 tín đồ;

    – Dự báo xu hướng phát triển của các cộng đồng tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Gia Lai:

    Tổng số tín đồ của 09 hệ phái là 88.391 tín đồ, trong đó 82.995 tín đồ thuộc Hội thánh Tin Lành miền Nam Việt Nam, số tín đồ là người dân tộc thiểu số có trên 81 nghìn người (trên 62 nghìn là người Jrai và trên 19 nghìn là người Bahnar), trong đó có hơn 3.000 người đã từng theo tổ chức “Tin Lành Đêga”, nay được cảm hóa, giáo dục mà quay lại sinh hoạt với Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam).

    Công giáo tiếp tục phát triển theo chiều rộng và chiều sâu:

    Tính đến tháng 7 năm 2002, Giáo phận Kon Tum có 181.063 tín đồ trong đó có 103.567 tín đồ là người dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Bahnar, Xê Đăng và Jrai. Trong khi tín đồ Công giáo ở tỉnh Kon Tum có khoảng 70% là người dân tộc thiểu số, thì ở Gia Lai chỉ có khoảng 30% là người dân tộc thiểu số. Vào thời điểm tháng 6 năm 2003, toàn tỉnh Gia Lai thống kê được 75.708 người là tín đồ Công giáo, trong đó có 25.325 người thuộc hai thành phần dân tộc Jai và Bahnar.

    Đội ngũ linh mục am tường phong tục tập quán, biết tiếng dân tộc, nhiệt huyết với hoạt động truyền giáo. Xu hướng truyền đạo trong cư dân Gia Lai trong tương lai gần sẽ tạo ra được những làng Công giáo toàn tòng cũng có nghĩa là tạo ra các giáo xứ, giáo họ gắn với những địa bàn cư trú cổ truyền Đội ngũ giáo phu ngày càng gia tăng, giáo hạt Gia Lai có 297 giáo phu (9/2003). Hiện tại và tương lai hội đoàn sẽ có xu hướng phát triển mạnh trong các giáo xứ, giáo họ là người dân tộc thiểu số.

    + Xu hướng phát triển:

    Hoạt động tôn giáo của giáo hội vận hành theo con đường ổn định, Giáo hội ngày càng gắn bó hơn với cách mạng.

    Vấn đề chính trị hóa Công giáo và dân tộc của các thế lực thù địch vẫn có nguy cơ tiềm ẩn; Lợi dụng quá trình dân chủ hóa, đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, dưới sự chỉ đạo của Tòa giám mục, quần chúng tín đồ là người dân tộc thiểu số vẫn có thể sẽ bị kích động.

    Đạo Tin Lành tiếp tục phát triển và có những hoạt động phức tạp + Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam):

    Củng cố tổ chức các chi hội cơ sở: đến đầu năm 2007 có 37 chi hội được chính quyền địa phương công nhận và cho phép tiến hành Hội đồng.

    Chính quyền đã cho phép giáo hội tổ chức 1 lớp Thánh Kinh hàm thụ với 46 học viên, đã bế giảng; Hiện nay đang mở lớp Thánh Kinh hàm thụ thứ 2. Công việc này sẽ còn được giáo hội tiếp tục đặt ra trong thời gian tới.

    Các cơ sở cũ và việc xin chính quyền cấp đất để xây dựng nhà thờ, nhà nguyện cho các chi hội đã được chính quyền tỉnh bước đầu giải quyết.

    Hiện nay, nội bộ Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) vẫn còn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp.

    Tài chính nuôi dưỡng Hội Thánh cũng là một vấn đề lớn đặt ra hiện nay đối với cộng đồng Tin Lành người dân tộc thiểu số ở đây.

    + Hoạt động của các hệ phái Tin Lành khác:

    Hệ phái Truyền giáo Cơ đốc: Hệ phái Tin lành này vừa được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân với tổng số tín đồ khoảng 30.000 người; trong đó tại Gia Lai, có 1.756 tín đồ đã cho đăng ký hoạt động ở hai huyện Ia Pa và thị xã Ayun Pa có 20 điểm nhóm;

    Hệ phái Cơ đốc Phục Lâm Việt Nam: Hệ phái Tin Lành này trước năm 1960 không hoạt động truyền giáo tại các vùng dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai, mà chỉ có trong thời gian gần đây có 33 tín đồ đã giải quyết cho đăng ký 01 điểm nhóm tại huyện Chư Sê; Các hệ phái Liên Hữu Cơ Đốc, Bắp tít và các nhóm Tin Lành khác.

    Nhìn chung là phức tạp. Các hệ phái này hiện đang khảo sát và nếu đủ điều kiện cho đăng ký hoạt động.

    -Dự báo trong những năm tới, các nhóm phái Tin lành này sẽ gia tăng hoạt động, tranh giành tín đồ với Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam).

    Nhóm tín đồ đạo Tin lành bị ảnh hưởng bởi các tổ chức của phản động “Tin Lành Đêga”.

    Từ năm 2000, do âm mưu của một số phần tử phản động lưu vong từ bên ngoài đã móc nối, kích động một bộ phận tín đồ chức sắc Tin Lành tham gia cái gọi là “Tin Lành Đêga”.

    Tình hình đạo Tin Lành tại Gia Lai trong những năm sắp đến vẫn còn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp, đòi hỏi các cấp, các ngành phải chủ động nắm bắt tình hình, tiến hành triển khai các biện pháp quản lí đồng bộ để có thể giữ vững sự ổn định và phát triển của địa phương.

    -Phật giáo chủ trương phát triển tín đồ trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số Phật giáo hiện nay chưa phát triển được nhiều tín đồ trong vùng đồng bào dân tộc ở Gia Lai.

    5.3. Tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc ở Gia Lai những vấn đề và giải pháp:

    Tuy nhiên, gần đây Giáo hội Việt Nam đã có chủ trương phát triển Phật giáo vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Để làm được điều này, hiện nay Giáo hội đề ra chương trình hành động là đào tạo đội ngũ Tăng, Ni có trình độ về dân tộc học (được trang bị những kiến thức về ngôn ngữ, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên). Đây là vấn đề mới mẻ mà chúng ta cần quan tâm.

    -Nhận thức tư tưởng, thái độ chính trị đối với tôn giáo:

    + Giải quyết 2 vấn đề này đòi hỏi phải:

    Nhận thức toàn diện và sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo;

    Thực hiện nghiêm túc pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo;

    + Hoàn thiện cơ cấu tổ chức làm công tác quản lý tôn giáo từ tỉnh đến cơ sở:

    Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ làm công tác quản lý tôn giáo, từng bước đi vào chuyên nghiệp hóa;

    Có biện pháp cụ thể thiết thực giải quyết dứt điểm các vụ việc của từng tôn giáo.

    Cần nhận thức rõ 3 quan điểm được Đảng nêu ra trong Nghị quyết số 24/NQQ-TW (ngày 16 tháng 10 năm 1990) là:

    Tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu dài;

    Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới.

    Đồng thời rất cần thiết quán triệt quan điểm của Đảng về tín ngưỡng tôn giáo dược thể hiện trong Nghị quyết số 25/NQ-TW (ngày 21 tháng 3 năm 2003) về công tác tôn giáo, có hai nội dung lớn:

    Một là: Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật bình đẳng trước pháp luật.

    Hai là: Nghiêm cấm sự phân biệt, đối xử với công dân vì lí do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín, dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động, chia rẽ dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.

    – Công tác quản lý tôn giáo là một công tác đặc thù. Tính đặc thù được thể hiện trên các mặt:

    Đối tượng quản lý là chức sắc, nhà tu hành, tín đồ với Gia Lai, tín đồ người dân tộc thiểu số chiếm một phần quan trọng. Đây là những đối tượng hết sức nhạy cảm;

    Hoạt động tôn giáo (lê, lạy, rước xách) và những hoạt động mang tính tôn giáo như sử dụng đất đai, xây dựng cơ sở thờ tự… đòi hỏi người làm công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo phải thật sự am tường;

    Tôn giáo trong vùng dân tộc thiểu số luôn bị các thế lực thù địch lợi dụng, chính trị hóa để hoặc là gây ra bạo loạn chính trị, hoặc là vu cáo ta vi phạm nhân quyền,…

    Do những biểu hiện đặc thù trên mà người làm công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo trước hết phải có bản lĩnh chính trị, phải nắm chắc đường lối quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Phải kiên quyết đấu tranh phê phán những việc làm sai trái của phía tôn giáo cũng như phía chính quyền.

    Do đối tượng quản lý là chức sắc, nhà tu hành mà phần lớn trong số họ được đào tạo cơ bản tại các trường tôn giáo, nhiều người có năng lực hoạt động xã hội, có uy tín trong cộng đồng tôn giáo của họ nên người làm công tác quản lý Nhà nước tôn giáo nhất thiết phải tinh thông nghiệp vụ chuyên môn. Đặc biệt là phải am tường tôn giáo mà mình phụ trách về thần học, về giáo lý, giáo luật về hệ thống tổ chức,… Ngoài ra, người làm công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo còn phải là người có năng lực hoạt động xã hội, biết vận động, thuyết phục người khác làm theo lẽ phải.

    – Những giải pháp:

    Thực tế cho thấy có một số cán bộ làm công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo do hạn chế sự hiểu biết về tôn giáo nên thường ngại gặp gỡ, tiếp xúc với chức sắc, nhà tu hành và ngay cả với tín đồ để vận động, thuyết phục họ. Vì vậy rất cần phải bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho lực lượng cán bộ công chức này để xây dựng lực lượng cán bộ có nghiệp vụ chuyên môn sâu.

    Nhóm giải pháp mang tính phương pháp luận:

    Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo;

    Đoàn kết tôn giáo;

    Bảo đảm cho chức sắc, tín đồ tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”;

    Xây dựng môi trường văn hóa, thực hiện lành mạnh các hoạt động tôn giáo;

    Bảo tồn, phát huy, khai thác những giá trị văn hóa tôn giáo phục vụ cho phát triển;

    Nhóm giải pháp cho công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo;

    Nhận thức đầy đủ, thống nhất quan điểm về tôn giáo trong tình hình mới;

    Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh;

    Tăng cường quản lý Nhà nước về tôn giáo;

    – Nhóm giải pháp trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội:

    Củng cố, hoàn thiện bộ máy làm công tác tôn giáo.

    Thông qua quá trình phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa để không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và trí tuệ cho con người thì mới có khả năng tranh thủ những mặt tích cực của tôn giáo, đồng thời bỏ dần những hình ảnh tiêu cực của nó trong đời sống xã hội.

    Cần bám sát các chương trình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, kịp thời sửa chữa các sai phạm, thiếu sót trong việc thực hiện chính sách kinh tế, xã hội, tháo gỡ các vướng mắc, bức xúc trong sản xuất cũng như tổ chức đời sống xã hội của đồng bào; ra sức phấn đấu để thông qua các dự án phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa mà tiếp tục ổn định và cải thiện đời sống, tăng cường sức khỏe, nâng cao dân trí, xây dựng nếp sống văn hóa mới, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu, trong đó có những lạc hậu, tiêu cực nảy sinh từ các hoạt động của tôn giáo.

    Xử lý khôn khéo tinh tế với các hiện tượng “cạnh tranh” giữa văn hóa tôn giáo với văn hóa dân tộc cổ truyền và văn hóa cách mạng.

    Nắm vững những biến chuyển của tình hình thực tiễn nhận thức kịp thời mối quan hệ kinh tế – văn hóa – xã hội trong từng giai đoạn, trên từng địa bàn cụ thể.

    – Nhóm giải pháp trong công tác vận động quần chúng vùng đồng bào có đạo:

    Đặt tôn giáo trong mối quan hệ hữu cơ với quá trình giải quyết vấn đề dân tộc, xây dựng và phát triển toàn diện đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của đồng bào các dân tộc là một trong những nhóm giải pháp quan trọng cho việc giải quyết vấn đề tôn giáo đang nổi cộm ở vùng đồng bào dân tộc tỉnh Gia Lai hiện nay.

    Cần phải xây dựng lực lượng chính trị mà trước hết là công tác xây dựng Đảng.

    Cần chú trọng các biện pháp phát huy những tác động tích cực của già làng kết hợp với tuyên truyền giải thích để quần chúng không bị mê hoặc bởi các hoạt động truyền bá giáo lý và thấy được âm mưu của địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng.

    Cần đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền bằng các phương tiện truyền thông đại chúng: Nâng cao chất lượng và thời lượng các chương trình phát sóng bằng tiếng dân tộc của đài phát thanh và truyền hình, đảm bảo phủ sóng đến vùng sâu, vùng xa; nội dung các buổi phát sóng chú ý đến công tác tuyên truyền chính sách tự do tín ngưỡng tôn giáo của Đảng và Nhà nước.

    Quan tâm đến lợi ích thiết thực, chăm lo phát triển sản xuất, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số có đạo vẫn đang là một vấn đề rất bức xúc.

    Trang bị kiến thức cho cán bộ làm công tác dân tộc.

    Nhóm giải pháp về chống việc lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch:

    Kịp thời xử lý nghiêm minh các hoạt động lợi dụng tự do tín ngưỡng tôn giáo nhằm chống lại chính quyền.

    6. Một số kết luận, kiến nghị từ đề tài – Kết luận:

    Nhiệm vụ cấp bách là phải kiên quyết xóa bỏ “Tin lành Đêga” – tổ chức chính trị phản động đội lốt tôn giáo.

    Nội dung nghiên cứu của đề tài tương đối toàn diện, phong phú, được thể hiện sinh động qua 25 chuyên đề.

    Nhóm đề tài nghiên cứu đã hoàn thành việc xây dựng bản đồ hiện trạng các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

    Đề tài đã tập trung phản ánh tổng quan về môi trường sinh thái nhân văn Gia Lai, địa giới hành chính.

    Về phần thực trạng các tôn giáo, trên cơ sở tái hiện khá đầy đủ quá trình du nhập của 4 tôn giáo chính là Công giáo, Phật giáo, Tin Lành và Cao Đài; trong đó tập trung phản ánh thực trạng hoạt động của Công giáo và Tin Lành.

    Đề tài đã phân tích vai trò của các hội đoàn tôn giáo; những mặt tích cực và tiêu cực của các tôn giáo trong quá trình tồn tại và phát triển trong vùng đồng bào dân tộc.

    Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân tích, lý giải những nguyên nhân khách quan và chủ quan về thực trạng phát triển của các tôn giáo trong thời gian qua, từ đó dự báo xu hướng phát triển của các tôn giáo trong thời gian tới.

    Đề tài cũng phân tích rõ những vấn đề cơ bản và cấp bách đặt ra đối với công tác tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay, như vấn đề nhận thức, thái độ đối với tôn giáo và những nhiệm vụ cụ thể đối với từng tôn giáo.

    – Kiến nghị:

    Từ những thực trạng và xu hướng đề tài đã nêu, đề tài đã đưa ra 5 nhóm giải pháp chính để giải quyết vấn đề.

    Tài liệu cấp cho cấp ủy và Chính quyền ở tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố làm tài liệu nghiên cứu và được xem là tài liệu “Mật”. Vấn đề này đề nghị UBND tỉnh giao cho Ban tôn giáo tỉnh xuất bản thành sách lưu hành nội bộ.

    Chọn lọc những phần quan trọng trong đề tài có thể chuyển giao cho các cơ quan nghiên cứu để biên soạn làm tài liệu giảng dạy ở Trường chính trị tỉnh và các Trung tâm bồi dưỡng chính trị của các huyện, thị xã, thành phố và các lớp tập huấn về tôn giáo.

    Giao cho cơ quan tham mưu về tôn giáo chủ trì phối hợp với các ngành chức năng cụ thể hóa các nhóm giải pháp để tham mưu cho Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo công tác tôn giáo trên dịa bàn.

    7. Những kết quả đạt được đã áp dụng vào thực tế

    Về bản đồ sau khi được Hội đồng khoa học cấp tỉnh chấp thuận; đề nghị UBND tỉnh cho phép cơ quan Ban tôn giáo sử dụng làm tài liệu quản lý Nhà nước về tôn giáo trên địa bàn tỉnh.

    Trên cơ sở phân tích đã đánh giá đúng thực trạng những vấn đề bức xúc về tôn giáo và dân tộc đang diễn ra ở Gia Lai.

    Cung cấp luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp và hoạch định chính sách nhằm củng cố sức mạnh khối đoàn kết toàn dân tộc, chặn đứng âm mưu chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch;

    Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý công tác tôn giáo phù hợp với tình hình hiện nay và sau này./.

    Sở KH-CN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Giải Quyết Các Vấn Đề Dân Tộc Và Tôn Giáo Ở Vùng Tây Nam Bộ
  • Đoàn Kết Tôn Giáo Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Cổng Điện Tử Kh&cn Quảng Trị
  • Đảng Bộ Công An Tỉnh Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii): Thực Hiện Tốt Giải Pháp Kiểm Tra, Giám Sát
  • 5 Giải Pháp Để Tăng Cường Công Tác Kiểm Tra Đảng Trong Đảng Bộ Công An Tư
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết ​tìm Hiểu Thực Trạng Vấn Đề Tôn Giáo Và Dân Tộc Trong Phát Triển Hiện Nay Ở Gia Lai trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100